Thứ Sáu, 11 tháng 4, 2014

giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với dnv&n tại chi nhánh nhno & ptnt hà nội


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với dnv&n tại chi nhánh nhno & ptnt hà nội": http://123doc.vn/document/1047455-giai-phap-nang-cao-chat-luong-tin-dung-doi-voi-dnv-n-tai-chi-nhanh-nhno-ptnt-ha-noi.htm


Khoá luận Tốt Nghiệp - 5 - Khoa NH-TC
Bảng 1.1: Cách phân loại DNV& N của Nhật Bản
Ngành nghề
DNV&N( SME)
DN loại nhỏ
(người)
Vốn (triệu yên) Lao động (người)
Công nghiệp khai
thác, chế tạo,…
≤ 100 < 300 ≤ 20
Thương nghiệp bán
buôn
≤ 30 < 100
≤ 5
Thương nghiệp bán
lẻ và dịch vụ
≤ 10 < 50
(Nguồn: Kinh nghiệm và cẩm nang phát triển xí nghiệp vừa và nhỏ ở một số
nước trên thế giới - PTS. Đỗ Đức Định - 1999)
Ở Philippin, một nước ASEAN, láng giềng của Việt Nam thì tiêu
chuẩn phân loại các doanh nghiệp chỉ căn cứ vào tiêu chí vốn của doanh
nghiệp như sau:
Bảng 1.2: Cách phân loại ở Philippin
Loại doanh nghiệp Vốn (triệu Pêxô)
Lớn > 60
Vừa > 15 – 60
Nhỏ > 1,5 – 15
Vi nhỏ ( DN gia đình) < 1,5
(Nguồn: Kinh nghiệm và cẩm nang phát triển xí nghiệp vừa và nhỏ ở một số
nước trên thế giới - PTS. Đỗ Đức Định- 1999)

1.1.2 Các đặc điểm của DNV&N so với doanh nghiệp lớn
Khả năng cạnh tranh chưa cao: Hầu hết các DNV&N vẫn chưa có
khả năng chịu được áp lực cạnh tranh từ quá trình tự do hoá và mở cửa ra thị
HIM MAKARA Lớp NH 45B
Khoá luận Tốt Nghiệp - 6 - Khoa NH-TC
trường thế giới vẫn còn nhiều vướng mắc liên quan đến sự bất cập về khung
khổ luật pháp cho DNV&N cũng như việc triển khai thực thi các luật và chính
sách đặc biệt là ở cấp tỉnh. Bên cạnh đó, DNV&N lại gặp một số hạn chế nhất
định trong việc thâm nhập thị trường và phân phối sản phẩm: thiếu thông tin
về thị trường, khả năng marketing còn kém ngoài ra cũng do hạn chế về vốn,
các DNV&N thường sử dụng các công nghệ lạc hậu, sản xuất chủ yếu theo
hình thức thủ công thô sơ, tốn nguyên liệu đầu vào mà khối lượng sản phẩm
làm ra không nhiều, chất lượng thì chưa tốt. Một vấn đề khác nữa DNV&N
thường phải chịu thiệt thòi phải gánh chịu những thông lệ và điều kiện cạnh
tranh không bình đẳng ở thị trường trong nước khả năng tiếp xúc thương mại,
tiếp cận với thị trường trong nước và quốc tế rất khó khăn, điều kiện tiếp cận
với thông tin về văn bản, pháp luật thị trường còn tản mạn và hạn chế. Điều
đó dẫn đến sản phẩm tung ra thị trường không thể cạnh tranh nổi với các
doanh nghiệp khác.
Công nghệ kỹ thuật còn lạc hậu: Công nghệ các DNV&N đang sử
dụng đã lạc hậu hàng chục năm có khi vài chục năm, điều này dẫn đến tình
trạng sản phẩm làm ra không thể đáp ứng được mẫu mã, chất lượng, ảnh
hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh tranh, đến việc nâng cao năng suất, hạ giá
thành sản phẩm. Công nghệ lạc hậu chiếm tỷ trọng rất lớn là đặc điểm khác
biệt của các DNV&N Việt Nam so với các DNV&N ở các nước công nghiệp
phát triển. Mặt khác tốc độ đổi mới công nghệ lại rất chậm. Không nói đến
Thành phố Hồ Chí Minh, chỉ xét đến một số địa phương khác thì Hà Nội
được xem là một trong những trung tâm kinh tế lớn của cả nước nhưng quy
mô doanh nghiệp vẫn còn nhỏ, công nghệ lạc hậu. Trong khi các doanh
nghiệp trên thế giới đặt mối quan tâm hàng đầu vào thông tin về công nghệ,
tiến bộ khoa học công nghệ kỹ thuật, thị trường cung cấp và tiêu thụ thì các
doanh nghiệp Việt Nam lại chỉ chủ yếu quan tâm đến cơ chế chính sách… rất
HIM MAKARA Lớp NH 45B
Khoá luận Tốt Nghiệp - 7 - Khoa NH-TC
ít doanh nghiệp quan tâm đến thông tin về kỹ thuật và công nghệ. Đối với các
DNV&N ở các nước phát triển, công nghệ trang bị và sử dụng thường rất hiện
đại, do đó khả năng sản xuất và chất lượng sản phẩm của họ khá cao và là một
bộ phận không thể tách rời của các doanh nghiệp lớn. Nhưng đối với Việt
Nam, một nước còn non trẻ đang bước những bước đi đầu tiên trong nền kinh
tế thị trường và nền kinh tế toàn cầu nên quá trình tiếp thu và đổi mới công
nghệ vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Theo thống kê trong những năm vừa qua
chỉ có khoảng 8% doanh nghiệp có được công nghệ sản xuất tiên tiến mà
phần lớn là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), chiếm 50%
công nghệ đang sử dụng là trung bình còn 42% còn lại là yếu kém sử dụng
công nghệ lạc hậu. Bên cạnh đó, chỉ tiêu về sử dụng công nghệ thông tin cho
thấy tuy số doanh nghiệp sử dụng máy vi tính chỉ lên đến hơn 60% nhưng có
11,55% doanh nghiệp có sử dụng mạng nội bộ-LAN, số doanh nghiệp có
Website là rất thấp chỉ 2,16%.
Nguồn tài chính hạn chế: Vấn đề tiếp cận nguồn vốn là vấn đề đầu
tiên có ý nghĩa quyết định, các DNV&N còn gặp khó khăn không nhỏ nhất là
các khoản vay trung và dài hạn từ các ngân hàng và các tổ chức tín dụng
khác. Đặc biệt các khoản bảo lãnh rất hiếm khi dành cho các DNV&N ; việc
đầu tư vào khu vực DNV&N do nhận thức chưa thông thoáng, cho nên bị hạn
chế rất nhiều. Mặt khác do nguồn vốn chủ sở hữu thấp, DNV&N hầu như
không đáp ứng được điều kiện để có mặt trên thị trường chứng khoán. Vì vậy
họ phải huy động vốn từ nhiều nguồn như: Ngân hàng, của bản thân doanh
nghiệp, gia đình bạn bè và chủ yếu dựa vào nguồn vay phi chính thức. Số
doanh nghiệp được vay từ nguồn vốn chính thức( Ngân hàng) là rất hạn chế
bởi một phần do bản thân doanh nghiệp và một phần do các định chế từ phía
ngân hàng. Một cuộc điều tra quy mô được Cục Phát triển DNV&N (Bộ Kế
hoạch và Đầu tư) tiến hành với sự tham gia của hơn 63 nghìn doanh nghiệp
HIM MAKARA Lớp NH 45B
Khoá luận Tốt Nghiệp - 8 - Khoa NH-TC
tại 30 tỉnh thành phía Bắc cho thấy quy mô vốn của các doanh nghiệp còn
nhỏ, gần 50% số doanh nghiệp có mức vốn dưới 1 tỷ đồng, gần 75% số doanh
nghiệp có mức vốn dưới 2 tỷ đồng và 90% số doanh nghiệp có số vốn dưới 5
tỷ đồng.
Qua cuộc điều tra, 66,95% doanh nghiệp cho biết thường gặp khó khăn
về tài chính, 50,62% doanh nghiệp thường gặp khó khăn về mở rộng thị
trường; 41,74% doanh nghiệp gặp khó khăn về đất đai và mặt bằng sản xuất;
25,22% doanh nghiệp gặp khó khăn về giảm chi phí sản xuất.
Về khả năng tiếp cận nguồn vốn của Nhà nước: chỉ có 32,38% số
doanh nghiệp cho biết đã tiếp cận được các nguồn vốn của Nhà nước, chủ yếu
là doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp cổ phần hoá; 35,24% số doanh
nghiệp khó tiếp cận và 32,38% số doanh nghiệp không tiếp cận được. Trong
khi đó việc tiếp cận nguồn vốn khác cũng gặp khó khăn chỉ có 48,65% số
doanh nghiệp khả năng tiếp cận; 30,43% số doanh nghiệp khó tiếp cận;
30,43% số doanh nghiệp không tiếp cận được.
Trình độ quản lý còn thấp: Kỹ năng, nghiệp vụ quản lý cũng như tay
nghề của lực lượng lao động trong các DNV&N của Việt Nam được đánh giá
là thấp so với nhu cầu. Phần lớn số cán bộ, công nhân kỹ thuật trong các
DNV&N chưa qua đào tạo cơ bản chiếm khoảng 50%, quản lý tài chính trong
các doanh nghiệp này còn thiếu minh bạch, số liệu báo cáo chưa phản ánh
đúng thực trạng tài chính của doanh nghiệp.Theo số liệu thống kê của Cục
Phát triển DNV&N (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) có tới 55,63% chủ doanh nghiệp
có trình độ học vấn từ trung cấp trở xuống trong đó 43,3% chủ doanh nghiệp
có trình độ học vấn từ sơ cấp và phổ thông các cấp. Cụ thể, số người là tiến sỹ
chỉ chiếm 0,66%; thạc sỹ 2,33%; đã tốt nghiệp đại học 37,82%; tốt nghiệp cao
đẳng chiếm 3,56%; tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp chiếm 12,33% và
43,3% có trình độ thấp hơn. Điều đáng chú ý là đa số các chủ doanh nghiệp
HIM MAKARA Lớp NH 45B
Khoá luận Tốt Nghiệp - 9 - Khoa NH-TC
ngay những người có trình độ học vấn từ cao đẳng và đại học trở lên thì cũng
ít người được đào tạo về kiến thức kinh tế và quản trị doanh nghiệp.
1.1.3 Vai trò của DNV&N
DNV&N luôn giữ một vị trí hết sức quan trọng trong nền kinh tế với
hình thức tổ chức nhỏ gọn và hoạt động linh hoạt, các DNV&N dễ dàng đáp
ứng những yêu cầu về pháp luật và thích nghi với những điều kiện kinh tế xã
hội luôn luôn thay đổi. Trong bối cảnh Việt Nam đang chuyển đổi sang nền
kinh tế thị trường và hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới, DNV&N
đã và đang đóng vai trò quan trọng về nhiều mặt và được xem là yếu tố cần
thiết không thể thiếu cho sự tăng trưởng, đảm bảo nền tảng ổn định và bền
vững của nền kinh tế; huy động tối đa các nguồn lực cho đầu tư phát triển;
đáp ứng một cách linh hoạt nhu cầu của các ngành kinh tế quốc dân; cải thiện
thu nhập và giải quyết việc làm cho một bộ phận đông đảo dân cư; góp phần
xoá đói giảm nghèo, nâng cao mức sống và thu hẹp khoảng cách phát triển
giữa các vùng đất nước.
• Góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Có thể thấy rằng DNV&N có một vai trò vô cùng quan trọng trong việc
thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia. Đặc biệt ở các nước
đang phát triển thì GDP do các DNV&N tạo ra hàng năm chiếm tỷ trọng khá
cao. Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư: tại Việt Nam DNV&N chiếm
khoảng 96% tổng số doanh nghiệp, đóng góp 26% tổng sản phẩm xã hội
(GDP), 31% giá trị tổng sản lượng công nghiệp, 78% mức bán lẻ, 64% tổng
lượng vận chuyển hàng hoá, tạo ra 49% việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn
và 25-26% lực lượng lao động cả nước, đóng góp vào ngân sách Nhà nước
7,6%.
HIM MAKARA Lớp NH 45B
Khoá luận Tốt Nghiệp - 10 - Khoa NH-TC
• Chiếm tỷ trọng cao và hoạt động trong nhiều ngành sản xuất của
nền kinh tế
Sau khi đổi mới từ năm 1986 đến nay quy mô của các DNV&N đã tăng
đáng kể.Theo thống kê từ năm 2000 đến hết năm 2005 đã có gần 120.000
DNV&N đăng kí thành lập mới theo luật Doanh nghiệp, so với cùng kỳ năm
trước ,năm 2002, có 21.535 doanh nghiệp tăng 9%, năm 2003 tăng 29%, năm
2004 tăng 37% và năm 2005 tăng 41%. Nếu năm 2001, trung bình cứ 694
người dân có một doanh nghiệp đăng ký kinh doanh thì đến năm 2005 con số
này là 500 người. Tổng vốn đăng ký kinh doanh của DNV&N giai đoạn 2000-
2005 cao gấp 7,9 lần so với 9 năm trước đây (1991-1999). Tỷ trọng đầu tư
của của doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân trong tổng đầu tư toàn xã hội
tăng từ 20% năm 2000 lên 23% năm 2001, 25% năm 2002, 27% năm 2003,
32% năm 2004, 34% năm 2005.
Trong linh vực công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, DNV&N chiếm
17% tổng số doanh nghiệp, tập trung chủ yếu vào những lĩnh vực thực phẩm,
chế biến gỗ, chế biến thủy sản… Hàng năm, DNV&N tạo ra 31% tổng giá trị
sản lượng công nghiệp. Các DNV&N ở Việt Nam hoạt động trong linh vực
thương mại dịch vụ chiếm 55%, do đây là ngành có vòng quay vốn nhanh, lợi
nhuận cao, không cần số vốn đầu tư lớn, sử dụng ít lao động. Các DNV&N
ngoài quốc doanh chiếm đến 78% tổng mức bán lẻ, 64% tổng lượng vận
chuyển hàng hoá.
• Giải quyết việc làm và phân phối thu nhập
Mang đặc tính vừa và nhỏ, đa dạng hoá về lĩnh vực hoạt động, các
DNV&N đã có những cống hiến tích cực vào việc tạo công ăn việc làm cho
người lao động. Là một nước có lợi thế về nguồn nhân lực, phân bố rải rác
trên khắp mọi miền của tổ quốc, các DNV&N luôn tạo ra một khối lượng
công việc lớn, tạo thu nhập cho người lao động, nhất là lao động thủ công
HIM MAKARA Lớp NH 45B
Khoá luận Tốt Nghiệp - 11 - Khoa NH-TC
trong nền kinh tế. Theo ước tính, DNV&N tạo ra khoảng 49% việc làm phi
nông nghiệp ở nông thôn, chiếm khoảng 25-26 % lực lượng lao động cả nước.
Mỗi năm thu hút trên dưới 45 vạn lao động mới thu nhập bình quân 1,06 triệu
đồng/tháng. Mức thuế và phí đóng bình quân đầu người trong các doanh
nghiệp nhỏ là 10 triệu đồng và doanh nghiệp vừa là 42 triệu đồng ( trong khi
đó mức đóng góp bình quân đầu người của các doanh nghiệp lớn là 12 triệu
đồng).
Lý do thành công của các DNV&N trong việc giải quyết công ăn việc
làm cho người lao động là: Các DNV&N năng động và nhanh nhạy trong hầu
hết các lĩnh vực SX-KD, nhất là trong phân phối sản phẩm tiêu dùng thông
qua hoạt động bán buôn, bán lẻ và ngành SX-KD, chế biến, kinh doanh nhà
hàng, giao thông vận tải và thông tin. Mặt khác doanh nghiệp này có số lượng
lớn phân bố rộng rãi từ thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi lên miền ngược,
góp phần cân đối lao động. Các doanh nghiệp này mang tính tư hữu cao và
tính tự do cạnh tranh cao, dễ dàng đa dạng hoá sản phẩm. Sự lớn mạnh của
các DNV&N đã làm tăng thu nhập của công nhân và giảm tỷ lệ thất nghiệp
của mỗi địa phương nói riêng và toàn lãnh thổ nói chung. Do loại hình doanh
nghiệp này có thể phát triển ở khắp mọi nơi trong nước, nên khoảng cách giữa
nhà sản xuất và thị trường được rút ngắn lại, tạo nên sự phát triển cân bằng
giữa các vùng và giúp cắt bớt khoảng cách giàu nghèo.
• Đóng góp của DNV&N trong việc lưu thông hàng hoá và xuất khẩu
Sản xuất muốn phát triển phải gắn với thị trường. Một khi nền kinh tế
phát triển, sức mua tăng lên, nhu cầu lớn hơn, các DNV&N rất nhạy bén trong
việc điều chỉnh cơ cấu, tăng doanh thu. Điều này rất khó thực hiện ở các
doanh nghiệp lớn khi muốn đa dạng hoá mặt hàng sản xuất. Khi các DNV&N
có số lượng đông đảo và hoạt động có hiệu quả, chúng có thể tự sản xuất, thay
HIM MAKARA Lớp NH 45B
Khoá luận Tốt Nghiệp - 12 - Khoa NH-TC
thế nhập khẩu. Bên cạnh việc góp phần lưu thông hàng hoá trong nước, các
DNV&N đều lấy thị trường quốc tế làm thị trường chính.
• Thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư
Với tính chất nhỏ bé, dễ phân tán đi sâu vào các ngõ ngách bản làng và
số lượng vốn yêu cầu ban đầu không nhiều, các DNV&N có vai trò và tác
dụng rất lớn trong việc thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi nằm rải rác trong dân
cư. Mặc dù số vốn thu hút vào mỗi doanh nghiệp không nhiều nhưng với số
lượng rất đông đảo của các DNV&N thì tổng số vốn đóng góp của các doanh
nghiệp này vào sản xuất kinh doanh là khá lớn. Vì vậy nhờ có sự đóng góp
của DNV&N thì nền kinh tế có thể sử dụng hiệu quả hơn các nguồn tài chính
trong dân cư, hạn chế tiền nhàn rỗi không sinh lời trong nền kinh tế.
• Hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp lớn
Các doanh nghiệp lớn thường đặt cơ sở ở những trung tâm kinh tế của
đất nước còn DNV&N thì có mặt ở khắp mọi nơi. Vì vậy DNV&N là kênh
phân phối sản phẩm, thực hiện các hợp đồng phụ quan trọng không thể thiếu
cho các doanh nghiệp lớn. Một doanh nghiệp lớn để đảm bảo cho hoạt động
SX-KD của mình thường cần phải có mạng lưới các nhà cung cấp và phân
phối sản phẩm và nhân vật có thể thực hiện việc đó một cách có hiệu quả
không ai ngoài các DNV&N. Điều này giúp cho các doanh nghiệp lớn giảm
chi phí sửa chữa bảo hành, chi phí quản lý vận chuyển và lưu trữ hàng hóa tạo
điệu kiện thuận lợi cho việc giảm giá thành sản phẩm, nâng cao sức cạnh
tranh của sản phẩm trên thị trường.
• Góp phần tạo ra sự năng động và hiệu quả cho nền kinh tế
Các DNV&N có tính linh hoạt và lượng vốn yêu cầu tương đối nhỏ,
vòng quay vốn nhanh, chi phí quản lý và đào tạo không lớn thường hướng
vào những lĩnh vực phục vụ trực tiếp đời sống, những sản phẩm có sức mua
cao, dung lượng thị trường lớn , nên huy động được các nguồn lực xã hội, các
HIM MAKARA Lớp NH 45B
Khoá luận Tốt Nghiệp - 13 - Khoa NH-TC
nguồn vốn còn tiền ẩn trong dân. Có thể sử dụng các loại máy móc thiết bị
sản xuất trong nước, dễ dàng thay đổi công nghệ, đổi mới trang thiết bị kỹ
thuật mà không cần nhiều chi phí; có thể kết hợp cả những công nghệ truyền
thống và công nghệ hiện đại, sản xuất những sản phẩm có chất lượng cao
trong điều kiện sản xuất không thuận lợi. Nhạy cảm với những biến động của
thị trường, chuyển đổi mặt hàng nhanh phù hợp với thị hiếu của người tiêu
dùng, tận dụng được các nguồn nguyên vật liệu, nhân lực tại chỗ. Dễ dàng
duy trì sự tự do cạnh tranh làm vệ tinh gia công, chế tác cho các doanh nghiệp
lớn, xâm nhập vào các thị trường ngách và dễ dàng tạo nên sự phát triển cân
đối giữa các vùng, miền trong lãnh thổ một quốc gia. Sự tham gia của rất
nhiều DNV&N vào SX-KD làm cho số lượng và chủng loại sản phẩm sản
xuất tăng lên rất nhanh. Kết quả là làm tăng tính cạnh tranh trên thị trường,
tạo ra sức ép lớn buộc các doanh nghiệp phải thường xuyên đổi mới và nâng
cao chất lượng sản phẩm. Với những ưu thế trên thì các DNV&N làm cho nền
kinh tế trở nên năng động và thúc đẩy SX-KD phát triển có hiệu quả hơn.
1.2 Khái quát về tín dụng ngân hàng
1.2.1 Khái niệm tín dụng
Tín dụng xuất phát từ chữ La tinh là creditium có nghĩa là tin tưởng, tín
nhiệm. Tiếng Anh gọi là credit. Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam, tín dụng
có nghĩa là sự vay mượn. Trong thực tế cuộc sống thuật ngữ tín dụng được
hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau; ngay cả trong quan hệ tài chính, tuỳ theo
từng bối cảnh cụ thể mà thuật ngữ tín dụng có một nội dung riêng. Trong
quan hệ tài chính, tín dụng có thể hiểu theo các nghĩa sau:
• Xét trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệm
sang chủ thể thiếu hụt tiết kiệm thì tín dụng được coi là phương pháp chuyển
dịch quỹ từ người cho vay sang người đi vay.
HIM MAKARA Lớp NH 45B
Khoá luận Tốt Nghiệp - 14 - Khoa NH-TC
• Trong một quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản
trên cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể. Như một công ty công nghiệp hoặc
thương mại bán hàng trả chậm cho một công ty khác, trong trường hợp này
người bán chuyển giao hàng hoá cho bên mua và sau một thời gian nhất định
theo thoả thuận bên mua phải trả tiền cho bên bán. Phổ biến hơn cả là giao
dịch giữa ngân hàng và các định chế tài chính khác với các doanh nghiệp và
cá nhân thể hiện dưới hình thức cho vay, tức là ngân hàng cấp tiền vay cho
bên đi vay và sau một thời hạn nhất định người đi vay phải thanh toán vốn
gốc và lãi.
• Tín dụng còn có nghĩa là một số tiền cho vay mà các định chế tài chính
cung cấp cho khách hàng.
• Nếu xét tín dụng như là một chức năng cơ bản của ngân hàng thì tín
dụng có nghĩa là một giao dịch về tài sản ( tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho
vay ( ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay ( cá nhân,
doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản
cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên đi
vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi
đến hạn thanh toán.
• Theo Luật các tổ chức tín dụng của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, điều 49 ghi: “ Tổ chức tín dụng được cấp tín dụng cho tổ chức, cá
nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá
khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo qui định của
Ngân hàng Nhà nước ”.
Tín dụng là quan hệ vay mượn, gồm cả cho vay và đi vay. Tín dụng là
sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trị, dưới hình thức
HIM MAKARA Lớp NH 45B

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét