Thứ Sáu, 28 tháng 3, 2014

ĐIỀU LỆ TRƯỜNG TIỂU HỌC


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "ĐIỀU LỆ TRƯỜNG TIỂU HỌC": http://123doc.vn/document/548829-dieu-le-truong-tieu-hoc.htm


trường đến Uỷ ban nhân dân cấp huyện;
c) Trong thời hạn 50 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Uỷ ban
nhân dân cấp huyện quyết định thành lập trường đối với trường công lập hoặc cho
phép thành lập trường đối với trường tư thục theo quy định.
Trường hợp chưa quyết định thành lập trường hoặc chưa cho phép thành lập
trường, Uỷ ban nhân dân cấp huyện có văn bản thông báo cho phòng giáo dục và
đào tạo biết rõ lý do và hướng giải quyết.
Điều 12. Sáp nhập, chia, tách, đình chỉ hoạt động, giải thể trường tiểu học
1. Sáp nhập, chia, tách trường tiểu học :
a) Việc sáp nhập, chia, tách trường tiểu học phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Vì quyền lợi học tập của học sinh;
- Phù hợp với quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục;
- Đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội;
- Bảo đảm quyền lợi của cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên;
- Góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục.
b) Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện quyết định sáp nhập, chia, tách trường
tiểu học.
c) Trình tự, thủ tục sáp nhập, chia, tách trường tiểu học để thành lập trường
tiểu học mới được thực hiện theo quy định tại Điều 11 của Điều lệ này.
2. Đình chỉ hoạt động trường tiểu học :
a) Việc đình chỉ hoạt động của trường tiểu học được thực hiện khi xảy ra một
trong các trường hợp sau đây :
- Ảnh hưởng đến tính mạng của học sinh và cán bộ giáo viên của nhà trường;
- Vi phạm các quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo
dục ở mức độ phải đình chỉ;
- Không bảo đảm hoạt động bình thường của trường tiểu học.
b) Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện quyết định đình chỉ hoạt động của
trường tiểu học. Trong quyết định đình chỉ hoạt động của trường tiểu học phải xác
định rõ lý do đình chỉ hoạt động, quy định rõ thời gian đình chỉ; các biện pháp bảo
đảm quyền lợi của cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh. Quyết định
đình chỉ hoạt động của trường tiểu học phải được công bố công khai trên các
phương tiện thông tin đại chúng.
5
c) Trình tự, thủ tục đình chỉ hoạt động hoặc cho phép hoạt động trở lại đối
với trường tiểu học:
- Uỷ ban nhân dân cấp xã lập biên bản gửi phòng giáo dục và đào tạo về việc
trường tiểu học vi phạm quy định tại điểm a khoản 2 Điều 12 của Điều lệ này;
- Phòng giáo dục và đào tạo tổ chức kiểm tra, xác nhận lý do đình chỉ hoạt
động đối với trường tiểu học và có văn bản gửi Uỷ ban nhân dân cấp huyện xem
xét, quyết định;
- Sau thời gian đình chỉ, nếu các nguyên nhân dẫn đến việc đình chỉ được
khắc phục thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện căn cứ vào biên bản xác nhận
của các cơ quan chức năng để xem xét, quyết định cho phép trường tiểu học hoạt
động trở lại.
3. Giải thể trường tiểu học :
a) Trường tiểu học bị giải thể khi xảy ra một trong các trường hợp sau đây:
- Vi phạm nghiêm trọng các quy định về quản lý, tổ chức, hoạt động của
trường tiểu học; ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng giáo dục;
- Hết thời gian đình chỉ mà không khắc phục được nguyên nhân dẫn đến việc
đình chỉ;
- Mục tiêu và nội dung hoạt động ghi trong quyết định thành lập hoặc cho
phép thành lập trường tiểu học không còn phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế -
xã hội;
- Theo đề nghị chính đáng của tổ chức, cá nhân thành lập trường tiểu học.
b) Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện quyết định giải thể hoặc cho phép
giải thể trường tiểu học. Trong quyết định giải thể phải ghi rõ lí do giải thể, các
biện pháp bảo đảm quyền lợi của của cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học
sinh. Quyết định giải thể trường tiểu học phải được công bố công khai trên các
phương tiện thông tin đại chúng.
4. Hồ sơ sáp nhập, chia, tách, đình chỉ hoạt động, giải thể trường tiểu học bao
gồm :
a) Đề án về sáp nhập, chia, tách, đình chỉ hoạt động, giải thể;
b) Tờ trình về đề án về sáp nhập, chia, tách, đình chỉ hoạt động, giải thể và
dự thảo Quyết định về sáp nhập, chia, tách, đình chỉ hoạt động, giải thể;
c) Các văn bản xác nhận về tài chính, tài sản, đất đai, các khoản vay, nợ phải
trả và các vấn đề khác có liên quan;
d) Ý kiến bằng văn bản của các cơ quan có liên quan.
6
Việc gửi hồ sơ, tiếp nhận hồ sơ, xử lý hồ sơ, thẩm định, thẩm tra về thủ tục
và hồ sơ, thời hạn giải quyết về sáp nhập, chia, tách, đình chỉ hoạt động, giải thể
trường tiểu học được thực hiện như đối với việc thành lập trường tiểu học.
Điều 13. Điều kiện và thủ tục đăng ký thành lập cơ sở giáo dục khác thực hiện
chương trình giáo dục tiểu học
1. Tổ chức, cá nhân đăng ký thành lập cơ sở giáo dục khác thực hiện chương
trình giáo dục tiểu học được cấp có thẩm quyền cho phép thành lập khi đảm bảo
các điều kiện sau:
a) Hỗ trợ yêu cầu phổ cập giáo dục tiểu học của địa phương;
b) Được một trường tiểu học nhận bảo trợ và quản lý về các hoạt động giáo
dục quy định tại Điều 24, Điều 26, Điều 27, Điều 28 của Điều lệ này;
c) Có giáo viên theo tiêu chuẩn quy định tại Điều 33 của Điều lệ này;
d) Có phòng học theo quy định tại Điều 43 của Điều lệ này.
2. Thủ tục đăng ký thành lập cơ sở giáo dục khác thực hiện chương trình giáo
dục tiểu học :
a) Tổ chức, cá nhân có hồ sơ đăng ký với Ủy ban nhân dân cấp xã, gồm : tờ
trình đề nghị thành lập cơ sở giáo dục khác thực hiện chương trình giáo dục tiểu
học kèm theo bản sao văn bằng, chứng chỉ hợp lệ của người dự kiến phụ trách cơ
sở giáo dục đó, văn bản nhận bảo trợ và quản lý của một trường tiểu học cùng địa
bàn trong huyện;
b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tiếp nhận hồ sơ, xem xét, có văn bản cho
phép thành lập cơ sở giáo dục khác thực hiện chương trình giáo dục tiểu học. Việc
cho phép thành lập hoặc không cho phép thành lập phải được trả lời bằng văn bản,
trong thời hạn không quá 15 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ.
Điều 14. Lớp học, tổ học sinh, khối lớp học, điểm trường
1. Học sinh được tổ chức theo lớp học. Lớp học có lớp trưởng, một hoặc hai
lớp phó do tập thể học sinh bầu ra hoặc do giáo viên chủ nhiệm lớp chỉ định luân
phiên trong năm học. Mỗi lớp học có không quá 35 học sinh.
Mỗi lớp học có một giáo viên chủ nhiệm phụ trách giảng dạy một hoặc nhiều
môn học. Đối với trường tiểu học dạy 1 buổi trong ngày được bố trí biên chế bình
quân không quá 1,20 giáo viên trên một lớp; đối với trường tiểu học dạy học 2
buổi/ ngày được bố trí biên chế bình quân không quá 1,50 giáo viên trên một lớp.
Trường tiểu học dạy học 2 buổi/ ngày phải có giáo viên chuyên trách đối với các
môn Mĩ thuật, Âm nhạc, Thể dục và môn học tự chọn.
Ở những địa bàn đặc biệt khó khăn có thể tổ chức lớp ghép nhằm tạo điều kiện
7
thuận lợi cho học sinh đi học. Mỗi lớp ghép không quá 15 học sinh và không quá
hai trình độ. Trường hợp đặc biệt khó khăn có thể ghép 3 trình độ nhưng mỗi lớp
không quá 10 học sinh.
2. Mỗi lớp học được chia thành nhiều tổ học sinh. Mỗi tổ có tổ trưởng, tổ phó
do học sinh trong tổ bầu ra hoặc do giáo viên chủ nhiệm lớp chỉ định luân phiên
trong năm học.
3. Mỗi trường tiểu học có không quá 30 lớp học. Đối với những lớp cùng trình
độ được lập thành khối lớp để phối hợp các hoạt động chung.
4. Tuỳ theo điều kiện ở địa phương, trường tiểu học có thể có thêm điểm
trường ở những địa bàn khác nhau để thuận lợi cho trẻ đến trường. Hiệu trưởng
phân công một Phó Hiệu trưởng hoặc một giáo viên chủ nhiệm lớp phụ trách điểm
trường. Đối với những trường có từ 3 điểm trường trở lên, Hiệu trưởng làm tờ trình
gửi cấp có thẩm quyền đề nghị chia, tách để thành lập trường mới. Việc chia, tách
để thành lập trường mới được quy định tại Điều 10, Điều 11, Điều 12 của Điều lệ
này.
Điều 15. Tổ chuyên môn
1. Tổ chuyên môn bao gồm giáo viên, viên chức làm công tác thư viện, thiết bị
giáo dục. Mỗi tổ có ít nhất 5 thành viên. Tổ chuyên môn có tổ trưởng, tổ phó.
2. Nhiệm vụ của tổ chuyên môn :
a) Xây dựng kế hoạch hoạt động chung của tổ theo tuần, tháng, năm học nhằm
thực hiện chương trình, kế hoạch dạy học và các hoạt động giáo dục khác;
b) Thực hiện bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, kiểm tra, đánh giá chất lượng,
hiệu quả giảng dạy, giáo dục và quản lý sử dụng sách, thiết bị của các thành viên
trong tổ theo kế hoạch của nhà trường;
c) Tham gia đánh giá, xếp loại giáo viên theo quy định Chuẩn nghề nghiệp
giáo viên tiểu học và giới thiệu tổ trưởng, tổ phó.
3. Tổ chuyên môn sinh hoạt định kỳ hai tuần một lần.
Điều 16. Tổ văn phòng
1. Mỗi trường tiểu học có một tổ văn phòng gồm các viên chức làm công tác y
tế trường học, văn thư, kế toán, thủ quỹ và nhân viên khác. Tổ văn phòng có tổ
trưởng, tổ phó.
2. Nhiệm vụ của tổ văn phòng :
a) Xây dựng kế hoạch hoạt động chung của tổ theo tuần, tháng, năm nhằm
8
phục vụ cho việc thực hiện chương trình, kế hoạch dạy học và các hoạt động giáo
dục khác của nhà trường;
b) Bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, kiểm tra, đánh giá chất lượng, hiệu quả
công việc của các thành viên trong tổ theo kế hoạch của nhà trường;
c) Tham gia đánh giá, xếp loại viên chức; giới thiệu tổ trưởng, tổ phó;
d) Lưu trữ hồ sơ của trường.
3. Tổ văn phòng sinh hoạt định kỳ hai tuần một lần.
Điều 17. Hiệu trưởng
1. Hiệu trưởng trường tiểu học là người chịu trách nhiệm tổ chức, quản lý các
hoạt động và chất lượng giáo dục của nhà trường. Hiệu trưởng do Chủ tịch Uỷ ban
nhân dân cấp huyện bổ nhiệm đối với trường tiểu học công lập, công nhận đối với
trường tiểu học tư thục ýtheo đề nghị của Trưởng phòng giáo dục và đào tạo.
Nhiệm kỳ của Hiệu trưởng trường công lập là 5 năm; hết nhiệm kỳ, Hiệu trưởng
được luân chuyển đến một trường khác lân cận hoặc theo yêu cầu điều động. Hiệu
trưởng chỉ được giao quản lý một trường tiểu học.
Sau mỗi năm học, Hiệu trưởng trường tiểu học được cấp có thẩm quyền đánh
giá về công tác quản lý các hoạt động và chất lượng giáo dục của nhà trường.
2. Người được bổ nhiệm hoặc công nhận làm Hiệu trưởng trường tiểu học phải
là giáo viên có thời gian dạy học ít nhất 3 năm ở cấp tiểu học, đã hoàn thành
chương trình bồi dưỡng cán bộ quản lý, có uy tín về phẩm chất chính trị, đạo đức,
lối sống, chuyên môn, nghiệp vụ; có năng lực quản lý trường học và có sức khoẻ.
Trường hợp do yêu cầu đặc biệt của công việc, người được bổ nhiệm hoặc công
nhận Hiệu trưởng có thể có thời gian dạy học ít hơn theo quy định.
3. Nhiệm vụ và quyền hạn của Hiệu trưởng :
a) Xây dựng quy hoạch phát triển nhà trường; lập kế hoạch và tổ chức thực
hiện kế hoạch dạy học, giáo dục từng năm học; báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện
trước Hội đồng trường và các cấp có thẩm quyền;
b) Thành lập các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các hội đồng tư vấn trong
nhà trường; bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó. Đề xuất các thành viên của Hội đồng
trường trình cấp có thẩm quyền quyết định;
c) Phân công, quản lý, đánh giá, xếp loại; tham gia quá trình tuyển dụng,
thuyên chuyển; khen thưởng, thi hành kỷ luật đối với giáo viên, nhân viên theo quy
định;
d) Quản lý hành chính; quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính, tài
9
sản của nhà trường;
đ) Quản lý học sinh và tổ chức các hoạt động giáo dục của nhà trường; tiếp nhận,
giới thiệu học sinh chuyển trường; quyết định khen thưởng, kỷ luật, phê duyệt kết quả
đánh giá, xếp loại, danh sách học sinh lên lớp, ở lại lớp; tổ chức kiểm tra, xác nhận
việc hoàn thành chương trình tiểu học cho học sinh trong nhà trường và các đối
tượng khác trên địa bàn trường phụ trách;
e) Dự các lớp bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ quản lý; tham gia
giảng dạy bình quân 2 tiết trong một tuần; được hưởng chế độ phụ cấp và các chính
sách ưu đãi theo quy định;
g) Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở và tạo điều kiện cho các tổ chức chính trị -
xã hội trong nhà trường hoạt động nhằm nâng cao chất lượng giáo dục;
h) Thực hiện xã hội hoá giáo dục, phát huy vai trò của nhà trường đối với cộng
đồng.
Điều 18. Phó Hiệu trưởng
1. Phó Hiệu trưởng là người giúp việc cho Hiệu trưởng và chịu trách nhiệm trước
Hiệu trưởng, do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện bổ nhiệm đối với trường công
lập, công nhận đối với trường tư thục theo đề nghị của Trưởng phòng giáo dục và đào
tạo. Trường hạng I có 2 Phó Hiệu trưởng; trường hạng II, hạng III có 1 Phó Hiệu
trưởng; trường tiểu học có từ 20 học sinh khuyết tật trở lên được bố trí thêm 1 Phó
Hiệu trưởng. Các hạng I, II, III của trường tiểu học được quy định tại Thông tư số
35/2006/TTLT-BGDĐT - BNV ngày 23 tháng 8 năm 2006 liên tịch Bộ Giáo dục
và Đào tạo và Bộ Nội vụ về hướng dẫn định mức biên chế viên chức ở các cơ sở
giáo dục phổ thông công lập.
2. Người được bổ nhiệm hoặc công nhận làm Phó Hiệu trưởng trường tiểu học
phải là giáo viên có thời gian dạy học ít nhất 2 năm ở cấp tiểu học, có uy tín về
phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, chuyên môn, nghiệp vụ; có năng lực quản lý
trường học và có sức khoẻ. Trường hợp do yêu cầu đặc biệt của công việc, người
được bổ nhiệm hoặc công nhận Phó Hiệu trưởng có thể có thời gian dạy học ít hơn
theo quy định.
3. Nhiệm vụ và quyền hạn của Phó Hiệu trưởng :
a) Chịu trách nhiệm điều hành công việc do Hiệu trưởng phân công;
b) Điều hành hoạt động của nhà trường khi được Hiệu trưởng uỷ quyền;
c) Dự các lớp bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ quản lý; tham gia
giảng dạy bình quân 4 tiết trong một tuần; được hưởng chế độ phụ cấp và các chính
10
sách ưu đãi theo quy định.
Điều 19. Tổng phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh
Tổng phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh (sau đây gọi là Tổng
phụ trách Đội) là giáo viên tiểu học được bồi dưỡng về công tác Đội Thiếu niên
Tiền phong Hồ Chí Minh, Sao Nhi đồng Hồ Chí Minh.
Tổng phụ trách Đội có nhiệm vụ tổ chức, quản lý các hoạt động của Đội Thiếu
niên và Sao Nhi đồng ở nhà trường và tổ chức, quản lý hoạt động giáo dục ngoài
giờ lên lớp. Mỗi trường tiểu học có một Tổng phụ trách Đội do Trưởng phòng giáo
dục và đào tạo bổ nhiệm, theo đề nghị của Hiệu trưởng trường tiểu học.
Điều 20. Hội đồng trường
1. Hội đồng trường đối với trường công lập, Hội đồng quản trị đối với trường
tư thục được gọi chung là Hội đồng trường. Hội đồng trường là tổ chức chịu trách
nhiệm quyết định về phương hướng hoạt động của nhà trường, huy động và giám
sát việc sử dụng các nguồn lực dành cho nhà trường, gắn nhà trường với cộng đồng
và xã hội, bảo đảm thực hiện mục tiêu giáo dục.
2. Cơ cấu tổ chức, hoạt động và thủ tục thành lập Hội đồng trường tiểu học
công lập :
a) Cơ cấu tổ chức :
Hội đồng trường tiểu học công lập gồm: đại diện tổ chức Đảng Cộng sản Việt
Nam, Ban giám hiệu (gồm Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng), đại diện Công đoàn,
đại diện Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Tổng phụ trách Đội, đại diện
các tổ chuyên môn, đại diện tổ văn phòng;
Hội đồng trường có chủ tịch, thư ký và các thành viên khác. Chủ tịch Hội
đồng trường công lập không đồng thời là Hiệu trưởng. Số lượng thành viên của
Hội đồng trường từ 9 đến 11 người.
b) Hoạt động của Hội đồng trường :
Hội đồng trường họp thường kỳ ít nhất hai lần trong một năm. Trong trường
hợp cần thiết, khi Hiệu trưởng hoặc ít nhất một phần ba số thành viên Hội đồng
trường đề nghị, Chủ tịch Hội đồng trường có quyền triệu tập phiên họp bất thường
để giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ và quyền
hạn của nhà trường. Chủ tịch Hội đồng trường có thể mời đại diện chính quyền và
đoàn thể địa phương tham dự cuộc họp của Hội đồng trường khi cần thiết;
Phiên họp Hội đồng trường được công nhận là hợp lệ khi có mặt từ ba phần tư
11
số thành viên của hội đồng trở lên (trong đó có Chủ tịch hội đồng). Nghị quyết của
Hội đồng trường được thông qua và có hiệu lực khi được ít nhất hai phần ba số
thành viên có mặt nhất trí. Các nghị quyết của Hội đồng trường được công bố công
khai trong toàn trường;
Hiệu trưởng nhà trường có trách nhiệm thực hiện các nghị quyết hoặc kết luận
của Hội đồng trường về những nội dung được quy định tại khoản 3 của Điều này.
Khi Hiệu trưởng không nhất trí với nghị quyết hoặc kết luận của Hội đồng trường,
phải kịp thời báo cáo xin ý kiến cơ quan quản lý giáo dục cấp trên trực tiếp. Trong
khi chờ ý kiến của cấp trên, Hiệu trưởng vẫn phải thực hiện theo nghị quyết hoặc
kết luận của Hội đồng trường đối với những vấn đề không trái với pháp luật hiện
hành và Điều lệ trường tiểu học.
c) Thủ tục thành lập :
Căn cứ vào cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và hoạt động của Hội đồng
trường, Hiệu trưởng tổng hợp danh sách nhân sự do tập thể giáo viên và các tổ
chức, đoàn thể nhà trường giới thiệu, làm tờ trình đề nghị Phòng giáo dục và đào
tạo trình Uỷ ban nhân dân cấp huyện ra quyết định thành lập Hội đồng trường. Chủ
tịch Hội đồng trường do các thành viên hội đồng bầu ra; thư ký hội đồng do Chủ
tịch hội đồng chỉ định. Nhiệm kỳ của Hội đồng trường là 5 năm; hằng năm, nếu có
sự thay đổi về nhân sự, Hiệu trưởng làm văn bản đề nghị cấp có thẩm quyền ra
quyết định bổ sung, kiện toàn Hội đồng trường.
3. Nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng trường tiểu học công lập :
a) Quyết nghị về mục tiêu, chiến lược, các dự án, kế hoạch đầu tư và phát triển
của nhà trường trong từng giai đoạn và từng năm học;
b) Quyết nghị về tổ chức, nhân sự, tài chính, tài sản của nhà trường; giới thiệu
người để bổ nhiệm làm Hiệu trưởng theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền;
c) Giám sát các hoạt động của nhà trường; giám sát việc thực hiện các nghị
quyết của Hội đồng trường, việc thực hiện quy chế dân chủ trong các hoạt động
của nhà trường.
4. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, thành phần, cơ cấu tổ chức, thủ tục thành
lập và hoạt động của Hội đồng trường đối với trường tiểu học tư thục được thực
hiện theo Quy chế tổ chức và hoạt động của trường tư thục thuộc các cấp học phổ
thông.
Điều 21. Hội đồng thi đua khen thưởng, hội đồng tư vấn
1. Hội đồng thi đua khen thưởng do Hiệu trưởng thành lập vào đầu mỗi năm
12
học. Hiệu trưởng là Chủ tịch hội đồng thi đua khen thưởng. Các thành viên của hội
đồng gồm : Phó Hiệu trưởng, Bí thư Chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch
Công đoàn, Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Tổng phụ trách Đội,
các giáo viên chủ nhiệm lớp, tổ trưởng tổ chuyên môn, tổ trưởng tổ văn phòng.
Hội đồng thi đua khen thưởng giúp Hiệu trưởng tổ chức phong trào thi đua, đề
nghị danh sách khen thưởng đối với cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh nhà
trường.
Hội đồng thi đua khen thưởng họp vào cuối học kỳ và cuối năm học.
2. Hiệu trưởng có thể thành lập các hội đồng tư vấn giúp hiệu trưởng về
chuyên môn, quản lý. Nhiệm vụ, quyền hạn, thành phần và thời gian hoạt động của
các hội đồng tư vấn do Hiệu trưởng quyết định.
Điều 22. Tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam và đoàn thể trong trường
1. Tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam trong trường tiểu học lãnh đạo nhà
trường và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật và Điều lệ của Đảng.
2. Công đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền
phong Hồ Chí Minh, Sao Nhi đồng Hồ Chí Minh và các tổ chức xã hội khác hoạt
động trong trường tiểu học theo quy định của pháp luật và Điều lệ của từng tổ chức
nhằm giúp nhà trường thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục.
Điều 23. Quản lý tài sản, tài chính
1. Quản lý tài sản của trường tiểu học tuân theo các quy định của pháp luật.
Mọi thành viên trong trường có trách nhiệm giữ gìn, bảo vệ tài sản nhà trường.
2. Việc quản lý thu, chi từ các nguồn tài chính của nhà trường thực hiện theo
quy định hiện hành của Bộ Tài chính và Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Chương III
CHƯƠNG TRÌNH VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
Điều 24. Chương trình giáo dục, kế hoạch dạy học
1. Trường tiểu học thực hiện chương trình giáo dục, kế hoạch dạy học do Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành; thực hiện kế hoạch thời gian năm học
theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo và phù hợp với điều kiện cụ thể của
từng địa phương.
2. Căn cứ vào kế hoạch dạy học và kế hoạch thời gian năm học, nhà trường cụ
13
thể hoá các hoạt động giáo dục và giảng dạy, xây dựng thời khoá biểu phù hợp với
tâm lý, sinh lý lứa tuổi học sinh và điều kiện của địa phương.
Học sinh dân tộc thiểu số được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình. Việc
dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số được thực hiện theo quy định
của Chính phủ.
Học sinh tàn tật, khuyết tật học hoà nhập được thực hiện kế hoạch dạy học linh
hoạt phù hợp với khả năng của từng cá nhân và Quy định về giáo dục hoà nhập
dành cho người tàn tật, khuyết tật.
Điều 25. Sách giáo khoa và tài liệu tham khảo
1. Sách giáo khoa được sử dụng chính thức trong giảng dạy, học tập ở trường
tiểu học và các cơ sở giáo dục khác thực hiện chương trình giáo dục tiểu học.
2. Nhà trường có trách nhiệm trang bị tài liệu tham khảo phục vụ cho hoạt
động giảng dạy và nghiên cứu của giáo viên; khuyến khích giáo viên sử dụng tài
liệu tham khảo để nâng cao chất lượng giáo dục.
3. Tài liệu học tập dành cho học sinh tàn tật, khuyết tật, học sinh có hoàn cảnh
đặc biệt khó khăn do Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn riêng.
Điều 26. Hoạt động giáo dục
1. Hoạt động giáo dục bao gồm hoạt động trên lớp và hoạt động ngoài giờ lên
lớp nhằm rèn luyện đạo đức, phát triển năng lực, bồi dưỡng năng khiếu, giúp đỡ
học sinh yếu kém phù hợp đặc điểm tâm lý, sinh lý lứa tuổi học sinh tiểu học.
2. Hoạt động giáo dục trên lớp được tiến hành thông qua việc dạy học các môn
học bắt buộc và tự chọn.
3. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp bao gồm hoạt động ngoại khoá, hoạt
động vui chơi, thể dục thể thao, tham quan du lịch, giao lưu văn hoá; hoạt động bảo
vệ môi trường; lao động công ích và các hoạt động xã hội khác.
Điều 27. Hệ thống sổ sách phục vụ hoạt động giáo dục trong trường
1. Đối với nhà trường :
a) Sổ đăng bộ;
b) Sổ phổ cập giáo dục tiểu học;
c) Sổ nghị quyết;
d) Sổ kế hoạch công tác;
đ) Sổ kiểm tra, đánh giá giáo viên về công tác chuyên môn;
14

Thứ Năm, 27 tháng 3, 2014

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động": http://123doc.vn/document/550002-phap-lenh-thu-tuc-giai-quyet-cac-tranh-chap-lao-dong.htm


C) Đã tham gia tố tụng trong cùng một vụ án với tư cách là Kiểm sát viên, Thư
ký toà án, người giám định, người phiên dịch;
D) Trong một hội đồng xét xử mà Thẩm phán, Hội thẩm là người thân thích với
nhau;
Đ) Có căn cứ cho thấy Thẩm phán, Hội thẩm không vô tư trong khi xét xử.
2- Kiểm sát viên, Thư ký toà án phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi
nếu:
A) Đã tham gia tố tụng cùng một vụ án ở cấp xét xử khác;
B) Có căn cứ quy định tại các điểm a và đ khoản 1 Điều này.
3- Người giám định, người phiên dịch phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay
đổi nếu có căn cứ quy định tại các điểm a và đ khoản 1 Điều này.
Điều 18. Trình tự và thẩm quyền thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát
viên, Thư ký toà án, người giám định, người phiên dịch
1- Trước khi mở phiên toà, việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký toà án,
người giám định, người phiên dịch do Chánh án toà án quyết định. Việc thay đổi Kiểm
sát viên do Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định; nếu Kiểm sát viên bị thay đổi là
Viện trưởng Viện kiểm sát thì Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp quyết định.
2- Tại phiên toà, việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký toà án, người giám
định, người phiên dịch do Hội đồng xét xử quyết định sau khi nghe ý kiến của người bị
yêu cầu thay đổi. Trong trường hợp không có người thay thế ngay, Hội đồng xét xử
quyết định hoãn phiên toà.
Nếu tại phiên toà có đề nghị thay đổi Kiểm sát viên mà Hội đồng xét xử thấy lý
do của việc đề nghị thay đổi là chính đáng thì ra quyết định hoãn phiên toà.
Trong thời hạn ba ngày kể từ ngày hoàn phiên toà, Chánh án Toà án, Viện
trưởng Viện kiểm sát cử người khác thay thế.
CHƯƠNG IV
NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG
Điều 19. Các đương sự
1- Người lao động, tập thể lao động, người sử dụng lao động tham gia tố tụng với
tư cách là nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
2- Đương sự là cá nhân có thể tự mình hoặc uỷ quyền bằng văn bản cho người
khác thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình trong quá trình giải quyết vụ án
lao động.
3- Đương sự là tập thể lao động thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng thông qua đại
diện Ban chấp hành công đoàn cơ sở.
4- Người sử dụng lao động là tổ chức thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng thông
qua người đại diện theo pháp luật hoặc theo uỷ quyền.
5- Trong trường hợp công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở khởi kiện thì phải
cung cấp tài liệu, chứng cứ và có quyền, nghĩa vụ tố tụng như nguyên đơn; Ban chấp
hành công đoàn cơ sở của tập thể lao động có lợi ích cần được bảo vệ phải tham gia tố
tụng với tư cách là nguyên đơn.
5
Điều 20. Quyền, nghĩa vụ tố tụng của các đương sự
1- Nguyên đơn có quyền thay đổi yêu cầu của mình. Bị đơn có quyền phản bác
yêu cầu của nguyên đơn hoặc đề đạt yêu cầu có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có thể yêu cầu độc lập hoặc cùng tham gia tố
tụng với bên đương sự khác.
2- Các đương sự có quyền:
A) Đưa ra tài liệu, chứng cứ; được đọc, sao chép và xem các tài liệu, chứng cứ
do bên đương sự khác cung cấp;
B) Yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
C) Tham gia phiên toà;
D) Yêu cầu thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Thư ký toà án, người
giám định, người phiên dịch nếu có một trong những lý do quy định tại Điều 17 của
Pháp lệnh này;
Đ) Hoà giải với nhau;
E) Tranh luận tại phiên toà;
G) Kháng cáo bản án, quyết định của Toà án;
H) Yêu cầu người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định của Toà án theo
trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm.
3- Các đương sự có nghĩa vụ:
A) Cung cấp đầy đủ, kịp thời các tài liệu, chứng từ có liên quan theo yêu cầu của
Toà án;
B) Phải có mặt theo giấy triệu tập của Toà án. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ
đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng thì có thể bị Toà án phạt
tiền từ năm mươi nghìn đồng đến một trăm nghìn đồng;
C) Chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên toà.
Điều 21. Năng lực hành vi về tố tụng của đương sự
1- Người lao động từ đủ 18 tuổi trở lên có quyền tự mình thực hiện quyền, nghĩa
vụ của đương sự trong tố tụng.
2- Trẻ em chưa đủ 15 tuổi thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng
thông qua người đại diện. Ngươi lao động từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể tự
mình tham gia tố tụng, nhưng khi cần thiết, Toà án triệu tập người đại diện của họ
tham gia tố tụng.
3- Nếu đương sự là người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần mà không
thể tham gia tố tụng được thì phải có người đại diện của họ tham gia tố tụng.
4- Trong trường hợp không có người đại diện cho đương sự nói tại khoản 3 Điều
này tham gia tố tụng, Toà án chỉ định một người thân thích của đương sự hoặc một
thành viên của một tổ chức xã hội làm người đại diện cho họ.
Điều 22. Người đại diện do đương sự uỷ quyền
1- Đương sự có thể uỷ quyền cho luật sư hoặc người khác đại diện cho mình
tham gia tố tụng trừ những người sau đây không được tham gia tố tụng với tư cách là
người đại diện do đương sự uỷ quyền:
6
A) Không có quốc tịch Việt Nam hoặc không cư trú ở Việt Nam, trừ trường hợp
pháp luật có quy định khác đối với đương sự là người có quốc tịch nước ngoài, người
không có quốc tịch hoặc là người Việt Nam định cư ở nước ngoài;
B) Chưa đủ 18 tuổi;
C) Bị bệnh tâm thần;
D) Đang bị khởi tố về hình sự hoặc bị kết án những chưa được xoá án;
Đ) Cán bộ toà án, kiểm sát;
E) Người giám định, người phiên dịch, người làm chứng trong vụ án;
G) Người thân thích với Thẩm phám, Hội thẩm nhân dân, Thư ký toà án, Kiểm
sát viên đang tham gia giải quyết vụ án.
2- Người được uỷ quyền thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng của đương sự trong
phạm vị được uỷ quyền.
3- Việc uỷ quyền tham gia tố tụng phải làm thành văn bản và được chứng thực
hợp pháp.
Điều 23. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
1- Đương sự tự mình hoặc có thể nhờ luật sư hoặc người khác bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của mình.
2- Một người có thể bảo vệ quyền lợi cho nhiều đương sự trong cùng một vụ án,
nếu quyền lợi của những người đó không đối lập nhau.
3- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền:
A) Tham gia tố tụng từ khi khởi kiện;
B) Đề nghị thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Thư ký Toà án, người
giám định, người phiên dịch theo quy định tại các điều 17, 18 và 20 của Pháp lệnh này;
C) Cung cấp tài liệu, chứng cứ, đề đạt yêu cầu, đọc hồ sơ vụ án, sao chép những
điểm cần thiết trong hồ sơ vụ án, tham dự hoà giải, tham gia phiên toà.
4- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có nghĩa vụ sử dụng
các quyền tố tụng theo quy định của pháp luật để góp phần làm sáng tổ sự thật của vụ
án.
Điều 24. Người làm chứng
1- Người biết được những tình tiết liên quan đến vụ án lao động có thể tự mình
hoặc được Toà án, Viện kiểm sát triệu tập đến làm chứng.
2- Người làm chứng phải có mặt theo giấy triệu tập của Toà án, Viện kiểm sát,
có nghĩa vụ trình bày trung thực tất cả những gì mình biết về vụ án và phải chịu trách
nhiệm về lời trình bày của mình.
3- Người yêu cầu Toà án triệu tập người làm chứng phải nộp tiền tạm ứng chi
phí cho người làm chứng. Người thưa kiện phải chịu chi phí cho người làm chứng, nếu
việc làm chứng có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án.
Điều 25. Người giám định
1- Khi cần thiết, Toà án, viện kiểm sát tự mình hoặc theo yêu cầu của đương sự
trưng cầu giám định. Người giám định phải có mặt theo giấy triệu tập của Toà án, Viện
kiểm sát.
7
2- Người giám định có quyền tìm hiểu tài liệu của vụ án liên quan đến đối tượng
phải giám định.
Người giám định có nghĩa vụ giám định một cách khách quan, trung thực đối
tượng được yêu cầu giám định.
3- Chi phí giám định liên quan đến tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp gây ra
cho người lao động do người sử dụng lao động chịu. Trong các trường hợp khác, người
thua kiện phải chịu chi phí giám định nếu kết quả giám định có ý nghĩa cho việc giải
quyết vụ án; nếu kết quả giám định không có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án thì
người yêu cầu trưng cầu giám định hoặc Toà án, Viện kiểm sát tự mình trưng cầu giám
định phải chịu chi phí giám định.
Điều 26. Người phiên dịch.
1- Trong trường hợp có người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt
thì Toà án có trách nhiệm cử trách nhiệm cử người phiên dịch.
2- Người phiên dịch phải có mặt theo giấy triệu tập của Toà án và phiên dịch
trung thực.
3- Người thua kiện phải chịu chi phí phiên dịch.
Điều 27. Kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng
1- Nếu đương sự là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ về tài sản của người đó
có người thừa kế thì người thừa kế thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng.
2- Nếu người sử dụng lao động là tổ chức trong trường hợp sáp nhập, phân chia
doanh nghiệp, chuyển quyền sở hữu, quyền quản lý hoặc quyền sử dụng tài sản của
doanh nghiệp thì người kế thừa quyền, nghĩa vụ của tổ chức đó thực hiện quyền, nghĩa
vụ tố tụng của tổ chức cũ.
3- Việc kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng có thể được Toà án chấp nhận ở bất cứ
giai đoạn nào trong quá trình giải quyết vụ án lao động.
Điều 28. Tham gia tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân
Trong quá trình giải quyết vụ án lao động, Viện kiểm sát có quyền tham gia tố
tụng ở bất cứ giai đoạn nào khi xét thấy cần thiết.
Đối với những vi phạm pháp luật liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của
người lao động là người chưa thành niên, người tàn tật và các vi phạm pháp luật
nghiêm trọng khác, nếu không có ai khởi kiện thì Viện kiểm sát có quyền khởi tố.
CHƯƠNG V
ÁN PHÍ
Điều 29. Án phí
Các đương sự phải chịu án phí tuỳ theo loại vụ án và trên cơ sở lợi ích, mức độ
lỗi của họ trong quan hệ pháp luật mà Toà án giải quyết.
Chính phủ phối hợp với Toà án nhân dân tối cao quy định về án phí.
Điều 30. Người phải nộp tiền tạm ứng án phí; người phải chịu án phí
1- Nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan có yêu cầu độc lập phải nộp tiền tạm ứng án phí và chịu án phí, trừ các
trường hợp quy định tại Điều 31 của Pháp lệnh này.
8
2- Người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc
thẩm trong thời hạn kháng cáo; nếu trong thời hạn đó mà không nộp tiền tạm ứng án
phí phúc thẩm thì coi như không kháng cáo, trừ trường hợp được miễn nộp một phần
hoặc toàn bộ tiền tạm ứng án phí.
3- Trong trường hợp rút đơn kiện trước khi mở phiên toà thì nguyên đơn được
trả lại 50% số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Trong trường hợp hoà giải thành trước khi
mở phiên toà thì các đương sự phải nộp 50% mức án phí sơ thẩm. Các đương sự thoả
thuận với nhau về mức án phí mà mỗi bên phải chịu; nếu họ không thoả thuận được thì
Toà án quyết định. Trong trường hợp các đương sự hoà giải thành tại phiên toà thì mỗi
bên đương sự chịu một nửa mức án phí sơ thẩm.
4- Nếu việc giải quyết vụ án bị tạm đình chỉ thì án phí được quyết định khi vụ án
được tiếp tục giải quyết. Nếu việc giải quyết vụ án bị đình chỉ theo quy định tại các
điểm a, c, d và đ khoản 1 Điều 41 của Pháp lệnh này thì số tiền tạm ứng án phí được
nộp vào ngân sách Nhà nước.
5- Các đương sự phải chịu án phí sơ thẩm khi yêu cầu không được Toà án chấp
nhận; phải nộp án phí phúc thẩm nếu Toà án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án, quyết
định sơ thẩm.
6- Người đã nộp tiền tạm ứng án phí được hoàn trả lại phần chênh lệch, nếu theo
quyết định của Toà án họ phải chịu mức án phí ít hơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp;
được trả lại toàn bộ trong trường hợp Toà án quyết định họ không phải chịu án phí.
Điều 31. Miễn nộp tiền tạm ứng án phí, miễn án phí
1- Các đương sự sau đây được miễn nộp tiền tạm ứng, được miễn án phí:
A) Người lao động đòi tiền lương, bảo hiểm xã hội, tiền bồi thường tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp;
B) Người lao động đòi bồi thường thiệt hại hoặc khởi kiện vì bị sa thải, chấm dứt
hợp đồng lao động trái pháp luật;
C) Ban chấp hành công đoàn cơ sở khởi kiện vì lợi ích của tập thể lao động.
2- Công đoàn cơ sở, công đoàn cấp tỉnh, công đoàn ngành khởi kiện hoặc kháng
cáo không phải nộp tiền tạm ứng án phí, không phải chịu án phí sơ thẩm và án phí
phúc thẩm.
Viện kiểm sát khởi tố, kháng nghị không phải nộp tiền tạm ứng án phí, không
phải chịu án phí sơ thẩm, án phí phúc thẩm.
3- Đương sự là người lao động không thuộc các trường hợp theo khoản 1 Điều
này nếu có khó khăn về kinh tế được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận,
thì có thể được Toà án cho miễn nộp một phần hoặc toàn bộ tiền tạm ứng án phí và án
phí.
CHƯƠNG VI
KHỞI KIỆN, THỤ LÝ VỤ ÁN
Điều 32. Khởi kiện vụ án
1- Người khởi kiện phải làm đơn yêu cầu Toà án cấp có thẩm quyền giải quyết
trong các thời hạn sau đây:
A) Một năm kể từ ngày phát sinh tranh chấp hoặc sáu tháng kể từ ngày Hội đồng
hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên của cơ quan lao động cấp huyện hoà giải
9
không thành đối với các tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải,
đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc về bồi thường thiệt hại cho người sử
dụng lao động; b) Sáu tháng kể từ ngày Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải
viên của cơ quan lao động cấp huyện hoà giải không thành đối với các tranh chấp lao
động cá nhân khác;
C) Ba tháng kể từ ngày có quyết định về tranh chấp lao động tập thể của Hội
đồng trọng tài lao động cấp tỉnh mà tập thể lao động, người sử dụng lao động không
đồng ý với quyết định đó.
2- Đơn kiện phải ghi rõ:
A) Ngày, tháng, năm làm đơn;
B) Toà án được yêu cầu giải quyết vụ án;
C) Họ, tên của nguyên đơn, bị đơn;
D) Địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn; nếu không rõ địa chỉ của bị đơn thì ghi địa
chỉ nơi làm việc hoặc nơi cư trú cuối cùng hoặc nơi có trụ sở của bị đơn;
Đ) Nội dung tranh chấp, giá trị tranh chấp nếu có;
E) Quá trình thương lượng, hoà giải, quyết định của Hội đồng trọng tài lao động
cấp tỉnh (nếu có);
G) Các yêu cầu đề nghị Toà án giải quyết.
3- Đơn kiện phải do nguyên đơn hoặc người đại diện của nguyên đơn ký. Kèm
theo đơn kiện phải có các tài liệu chứng minh yêu cầu của nguyên đơn.
4- Hội đồng hoà giải lao động cơ sở, hoà giải viên của cơ quan lao động cấp
huyện, Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh có trách nhiệm gửi cho Toà án hồ sơ kèm
theo biên ban hoà giải không thành hoặc quyết định về việc giải quyết tranh chấp lao
động.
Điều 33. Quyền thay đổi yêu cầu của người khởi kiện
1- Người đã khởi kiện có quyền thay đổi yêu cầu đã nêu trong đơn kiện trước khi
Toà án mở phiên toà.
2- Tại phiên toà, việc thay đổi yêu cầu chỉ được chấp nhận nếu không phải hoãn
phiên toà để xác minh thêm, hoặc các đương sự thoả thuận được với nhau về việc thay
đổi đó.
Điều 34. Trả lại đơn kiện
Toà án trả lại đơn kiện trong những trường hợp sau đây:
A) Người nộp đơn không có quyền khởi kiện;
B) Đơn kiện làm không đúng quy định tại khoản 2 Điều 32 của Pháp lệnh này;
C) Thời hiệu khởi kiện đã hết;
D) Sự việc chưa được Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên của
cơ quan lao động cấp huyện hoặc Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh giải quyết
trước, trừ những việc không nhất thiết phải qua hoà giải tại cơ sở.
Đ) Sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp
luật của Toà án hoặc bằng quyết định của cơ quan có thẩm quyền khác;
E) Sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.
10
Điều 35. Thụ lý vụ án
1- Khi Toà án xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền của mình thì thông báo ngay cho
nguyên đơn biết. Trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày nộp đơn, nguyên đơn phải nộp
tiền tạm ứng án phí, trừ trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí.
2- Toà án thụ lý vụ án kể từ ngày nguyên đơn xuất trình biên lai nộp tiền tạm
ứng án phí. Trong trường hợp người khởi kiện được miễn nộp tiền tạm ứng án phí thì
ngày Toà án thụ lý vụ án được tính kể từ ngày nhận được đơn kiện.
CHƯƠNG VII
CHUẨN BỊ XÉT XỬ
Điều 36. Thời hạn chuẩn bị xét xử
1- Trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày thụ lý vụ án, Toà án phải thông báo cho bị
đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết nội dụng đơn kiện.
Trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày nhận được thông báo, bị đơn và người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải gửi cho Toà án ý kiến của mình bằng văn bản về
đơn kiện và các tài liệu khác có liên quan đến việc giải quyết vụ án; hết thời hạn này
mà không nhận được ý kiến bằng văn bản thì Toà án tiếp tục giải quyết vụ án.
2- Trong thời hạn ba mươi ngày kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán được phân
công Chủ toạ phiên toà phải ra một trong các quyết định sau đây:
A) Đưa vụ án ra xét xử;
B) Tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án;
C) Đình chỉ việc giải quyết vụ án.
Đối với các vụ tranh chấp lao động tập thể phức tạp, thời hạn nói tại khoản này
cũng không quá bốn mươi ngày.
3- Trong thời hạn mười ngày kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà
án phải mở phiên toà; trong trường hợp có lý do chính đáng, thời hạn đó không quá
mười lăm ngày.
4- Ngay sau khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà án phải gửi hồ sơ vụ án
cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu trong thời hạn năm ngày, trong trường hợp
Viện kiểm sát khởi tố hoặc có yêu cầu tham gia phiên toà.
Điều 37. Xác minh, thu thập chứng cứ
1- Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, nếu xét thấy cần thiết, Toà án có thể tự mình
hoặc uỷ thác cho Toà án khác tiền hành xác minh, thu nhập chứng cứ để làm rõ các
tình tiết của vụ án. Toà án được uỷ thác có nhiệm vụ thực hiện ngay việc uỷ thác và
thông báo kết quả cho Toà án đã uỷ thác.
2- Việc xác minh, thu nhập chứng cứ bao gồm:
A) Yêu cầu các đương sự cung cấp, bổ sung chứng cứ hoặc trình bày về những
vấn đề cần thiết;
B) Yêu cầu các bên tranh chấp lao động, cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân hữu
quan cung cấp chứng cứ có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án;
11
C) Yêu cầu người làm chứng trình bày về những vấn đề cần thiết;
D) Xác minh tại chỗ;
Đ) Trưng cầu giám định;
E) Lập hội đồng định giá hoặc yêu cầu cơ quan chuyên môn định giá tài sản khi
cần thiết.
Điều 38. Hoà giải
1- Trước khi quyết định mở phiên toà, Toà án tiến hành hoà giải để các đương sự
có thể thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.
Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc đại diện được
uỷ quyền của họ phải có mặt khi Toà án hoà giải. Nếu nguyên đơn đã được triệu tập
hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng thì Toà án ra quyết
định đình chỉ việc giải quyết vụ án. Nếu nguyên đơn có văn bản yêu cầu không tiến
hành hoà giải hoặc đương sự không phải là nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến
lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng thì Toà án lập biên bản về việc
hoà giải không thành và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.
2- Nếu qua việc hoà giải các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải
quyết vụ án thì Toà án lập biên bản hoà giải thành và ra quyết định công nhận sự thoả
thuận của các đương sự; quyết định này có hiệu lực pháp luật.
Trong trường hợp các đương sự không thể thoả thuận được với nhau thì Toà án
lập biên bản hoà không thành và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Điều 39. Quyết định đưa vụ án ra xét xử
Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải có các nội dung sau đây:
1- Ngày, tháng, năm, địa điểm mở phiên toà;
2- Việc xét xử được tiến hành công khai hoặc kín;
3- Họ, tên của các đương sự, những người được tham gia tố tụng khác;
4- Nội dung tranh chấp;
5- Họ, tên của Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký phiên toà; họ, tên của Kiểm sát
viên tham gia phiên toà (nếu có).
Điều 40. Tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án
1- Toà án quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án trong các trường hợp sau
đây:
A) Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết, tổ chức đã giải thể mà chưa có cá
nhân, tổ chức kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng;
B) Đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử mà một trong các đương sự không thể có mặt
vì lý do chính đáng;
C) Chưa tìm được địa chỉ của bị đơn;
D) Cần đợi kết quả giải quyết vụ án hình sự, vụ án dân sự, vụ án kinh tế, vụ án
hành chính hoặc vụ án lao động khác có liên quan;
Đ) Đã có Toà án thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp mà doanh
nghiệp đó là đương sự của vụ án;
12
E) Đã có quyết định sát nhập, phân chia doanh nghiệp, chuyển quyền sở hữu,
quyền quản lý hoặc quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp mà chưa xác định được
người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng.
2- Toà án tiếp tục giải quyết vụ án khi lý do tạm dình chỉ không còn.
3- Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án có thể bị kháng cáo, kháng nghị.
Điều 41. Đình chỉ giải quyết vụ án
1- Toà án quyết định đình chỉ giải quyết vụ án trong các trường hợp sau đây:
A) Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không
được thừa kế; tổ chức đã giải thể mà không có cá nhân, tổ chức kế thừa quyền, nghĩa
vụ tố tụng;
B) Người khởi kiện rút đơn kiện, Viện kiểm sát rút quyết định khởi tố;
C) Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không
có lý do chính đáng;
D) Thời hạn khởi kiện đã hết trước ngày Toà án thụ lý đơn khởi kiện;
Đ) Sự việc đã được giải quyết bằng văn bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực
pháp luật của Toà án hoặc của cơ quan có thẩm quyền khác;
E) Đã có quyết định của Toà án mở thủ tục giải quyết đơn yêu cầu tuyên bố phá
sản doanh nghiệp mà doanh nghiệp đó là đương sự của vụ án;
G) Sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.
2- Quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án có thể bị kháng cáo,
Kháng nghị, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.
Điều 42. Gửi các quyết định của Toà án
Khi có các quyết định quy định tại các điều 39, 40 và 41 của Pháp lệnh này, Toà
án phải gửi ngay các quyết định đó cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, các đương
sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
CHƯƠNG VII
BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI
Điều 43. Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
1- Đương sự có quyền làm đơn yêu cầu Toà án ra quyết định áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời để bảo vệ lợi ích cấp thiết của đương sự, bảo đảm việc thi hành án;
đương sự phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình, nếu có lỗi trong
việc gây ra thiệt hại thì phải bồi thường.
2- Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án tự mình hoặc theo yêu cầu bằng văn
bản của Viện kiểm sát hoặc của công đoàn theo quy định của pháp luật, thì có thể ra
quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và phải chịu trách nhiệm về quyết
định đó. Nếu do áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trái pháp luật mà gây thiệt hại
thì phải bồi thường.
Việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể được tiến hành ở bất cứ giai
đoạn nào trong quá trình giải quyết vụ án; nếu trước khi mở phiên toà thì do Thẩm
13
phán được phân công giải quyết vụ án quyết định, nếu tại phiên toà thì do Hội đồng
xét xử quyết định.
3- Yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải được Toà án xem xét trong
thời hạn ba ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, nếu chấp nhận thì Toà án phải ra ngay
quyết định. Nếu tự mình thấy cần áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Toà án có
quyền ra quyết định ngay.
4- Trong quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải ghi rõ thời hạn có
hiệu lực của quyết định nhưng không được quá thời hạn giải quyết vụ án theo quy định
của pháp luật.
Điều 44. Các biện pháp khẩn cấp tạm thời
Các biện pháp khẩn cấp tạm thời gồm có:
1- Tạm đình chỉ việc thi hành quyết định sa thải người lao động;
2- Buộc người sử dụng lao động tạm ứng: tiền lương, tiền bồi thường, trợ cấp do
tại nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động;
3- Cấm hoặc buộc đương sự, tổ chức, cá nhân khác có liên quan thực hiện những
hành vi nhất định nếu xét thấy cần thiết cho việc giải quyết vụ án lao động hoặc để bảo
đảm cho việc thi hành án.
Điều 45. Thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời
1- Biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể bị thay đổi hoặc huỷ bỏ.
2- Việc thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời, nếu trước khi mở
phiên toà do Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án quyết định, nếu tại phiên toà
do Hội đồng xét xử quyết định.
Điều 46. Thi hành, khiếu nại, kiếm nghị quyết định áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời.
1- Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được thi hành ngay mặc dù
có khiếu nại hoặc kiện nghị.
2- Các đương sự có quyền khiếu nại Viện kiểm sát, công đoàn theo quy định của
pháp luật có quyền kiếm nghị với Chánh án toà án đang giải quyết vụ án về quyết định
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Trong thời hạn ba ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiếm nghị, Chánh án toà
án đang giải quyết vụ án phải xem xét và trả lợi.
CHƯƠNG IX
PHIÊN TOÀ SƠ THẨM
Điều 47. Những người tham gia phiên toà
Phiên toà được tiến hành với sự có mặt của các đương sự hoặc người đại diện
của đương sự. Trong trường hợp Ban chấp hành công đoàn cơ sở khởi kiện thì phải có
mặt đại diện của công đoàn đó tại phiên toà. Trong trường hợp Ban chấp hành công
đoàn cơ sở không khởi kiện thì đại diện công đoàn có thể tham gia phiên toà với tư
cách là người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự là người lao động. Nếu công đoàn
cấp trên của công đoàn cơ sở khởi kiện thì đại diện công đoàn cấp trên và đại diện
14

Một số từ láy thường gặp ở Tiểu học


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Một số từ láy thường gặp ở Tiểu học": http://123doc.vn/document/551286-mot-so-tu-lay-thuong-gap-o-tieu-hoc.htm


Thể loại:Từ láy tiếng Việt
Từ điển mở Wiktionary
Bước tới: dẫn lái, tìm
Dưới đây là những từ láy của tiếng Việt, một lớp từ được dùng rất thường xuyên trong ngôn ngữ hàng
ngày của người Việt Nam.
Các trang trong thể loại “Từ láy tiếng Việt”
a
• anh ánh
b
• be be
• bon bon
• bong bóng
• bung xung
• bàn bạc
• bát ngát
• bây bẩy
• béo bở
• bép xép
• bì bà bì bõm
• bì bõm
• bìm bìm
• bóng bảy
• bôn chôn
• bông lông
• bùi ngùi
• bùi nhùi
• bú dù
• bĩ bàng
• bơ phờ
• bơ vơ
• bươm bướm
• bạc nhạc
• bảnh bao
• bấp bênh
• bần thần
• bầy hầy
• bập bẹ
• bập bềnh
• bẽ bàng
• bẽn lẽn
• bề bộn
• bềnh bồng
• bệ vệ
• bịt bùng
• bỏ bê
• bỏm bẻm
• bối rối
• bồi hồi
• bồn chồn
c tiếp
• chích chòe
• chín chắn
• chòng chành
• chòng chọc
• chót vót
• chùn chụt
• chăm chắm
• chũm chọe
• chơm chởm
• chưng hửng
• chạng vạng
• chạy chọt
• chần chừ
• chậm chạp
• chập choạng
• chập chờn
• chập chững
• chật vật
• chắc chắn
• chằm chằm
• chằng chịt
• chặt chẽ
• chễm chệ
• chệnh choạng
• chống chế
• chồng ngồng
• chới với
• chờn vờn
• chứa chan
• chững chạc
• cun cút
• cuống cuồng
• cuống cà kê
• cuồn cuộn
• cà rá
• cào cào
• càu nhàu
• cáu kỉnh
• còng cọc
• cót két
• côi cút
• cúm núm
• căm căm
• cầm cập
d tiếp
• dìu dịu
• dính dáng
• dông dài
• dõng dạc
• dùng dằng
• dại dột
• dầm dề
• dần dần
• dập dìu
• dập dềnh
• dậy dàng
• dắt díu
• dằng dặc
• dễ dàng
• dễ dãi
• dịu dàng
• dồi dào
• dồn dập
• dớ dẩn
• dụ dỗ
• dửng dưng
e
• e dè
• em em
• en en
• eo sèo
• eo éo
g
• gai góc
• gan góc
• gau gáu
• gay go
• gay gắt
• ghê ghê
• gion giỏn
• giu giú
• già giặn
• giàn giụa
• giáo giở
• giây giướng

g
gây gấy
gây gổ
gì gì
gìn giữ
gò gẫm
gòn gọn
gói gắm
góp nhóp
gùn gút
gườm gườm
gường gượng
gượng gạo
gạ gẫm
gạch gạch
gạn gùng
gạt gẫm
gấp gáp
gầm gừ
gần gũi
gần gận
gần gụi
gầy guộc
gầy gò
gật gà gật gù
gật gà gật gưỡng
gật gù
gật gưỡng
gắng gượng
gắng gổ
gắt gao
gắt gỏng
gằm gằm
gặp gỡ
gọn gàng
gọn lỏn
gọn thon lỏn
gốc gác
gớm guốc
gờm gờm
gờn gợn
gởi gắm
gỡ gạc
gục gặc
gừ gừ
gửi gắm
h
h tiếp
hài hước
há hốc
háo hức
hâm hấp
héo hắt
hí hoáy
hòm hòm
hóm hỉnh
hôi hám
hôi hổi
hú hí
hú họa
húng hắng
húp híp
hăm hở
hăng hái
hơ hớ
hơi hơi
hơn hớn
hư hèn
hưng hửng
hấp tấp
hất hủi
hẩm hiu
hắt hiu
hắt hủi
hằm hằm
hằn học
hẹn hò
hếch hoác
hể hả
hỏi han
hốc hếch
hối hả
hối hận
hống hách
hốt hoảng
hồ hải
hồ hởi
hồn hậu
hồng hào
hồng hồng
hồng hộc
hổn ha hổn hển
hổn hển
hổng hểnh
hỗn hào
k tiếp
kha khá
khang khác
khang kháng
khang khảng
khanh khách
khao khát
khe khắt
khe khẽ
kheo khéo
kheo khư
khi khu
khin khít
khinh khích
khinh khỉnh
kho khó
khoan khoan
khoe khoang
khom khom
khoăm khoăm
khoảng khoát
khoảnh khoái
khoảnh khắc
khum khum
khuya khoắt
khuất khúc
khuếch khoác
khàn khàn
khách khứa
khát khao
kháu khỉnh
khè khè
khéo léo
khép nép
khét lẹt
khì khì
khìn khịt
khít khịt
khò khè
khò khò
khòm khòm
khó khăn
khóc lóc
khô không khốc
khô khốc
khôn khéo
khôn khôn
khù khờ

k
khắc khổ
khắt khe
khẳng kheo
khẳng khiu
khặc khừ
khề khà
khệ nệ
khệnh khạng
khỏe khoắn
khờ khĩnh
khờ khạo
khụt khịt
khủng khỉnh
khừ khừ
kinh cụ
kinh kệ
kiêng cữ
kiêu căng
kiết cú
kiền kiền
ky cóp
kè kè
kè nhè
kèm nhèm
kèn cựa
kèn kẹt
kèo cò
kèo kẹo
kèo nèo
ké né
kém cạnh
kém cỏi
kì kèo
kìn kìn
kìn kịt
kình kịch
kích thích
kĩu cà kĩu kịt
kĩu kịt
kẽo kẹt
kề cà
kềnh càng
kềnh kệnh
kể lể
kỳ cạch
kỳ cục
kỳ kèo
l tiếp
lanh lẹ
lanh lẹn
lanh lợi
lao nhao
lau láu
lau nhau
lay láy
lay lắt
lay nhay
le lói
le te
lem luốc
lem lém
lem nhem
len lén
len lét
len lỏi
leng beng
leng keng
leo kheo
leo lét
leo lẻo
leo nheo
leo teo
leo trèo
li bì
li la li lô
li ti
lia lịa
lim dim
linh tinh
liên miên
liếm láp
liến láu
liếp nhiếp
liền liền
liều liệu
liều lĩnh
liểng xiểng
lo lắng
loai nhoai
loang loáng
loang loãng
loang lổ
loang toàng
loay hoay
loe loét
l tiếp
loắt choắt
loằng ngoằng
lu bù
lu loa
lui lủi
lum khum
lung bung
lung lay
lung linh
lung lạc
lung tung
luôm nhuôm
luôn luôn
luông tuồng
luấn quấn
luẩn quẩn
luống cuống
luồn lọt
luồn lỏi
luộm thuộm
là là
là lượt
lài nhài
làm loạn
làm lành
làm lông
làm lơ
làm lẽ
làm lễ
làm lụng
làm nhàm
làn làn
làng nhàng
lành canh
lành lạnh
lành lặn
lành mạnh
lành tranh
lào xào
làu bàu
làu làu
láp nháp
lòng thòng
lẻ
lẻ loi
lục lộ
lục súc

l
• lừng lẫy
• lử thử lử thừ
• lửng lơ
• lữ thứ
• lững chững
• lững lờ
• lững thững
• lực lưỡng
• lực lượng
m
• ma mãnh
• mai mái
• mai mỉa
• man mác
• man mát
• mang máng
• mang mẻ
• mau mắn
• may mắn
• men mét
• minh linh
• miên man
• miệt mài
• moi móc
• mon men
• mong manh
• mong mỏi
• mong mỏng
• mum múp
• muộn màng
• muộn mằn
• mài miệt
• màn màn
• mành mành
• màu mè
• màu mẽ
• màu mỡ
• mày mò
• mách mao
• mát mặt
• mát mẻ
• máu me
m tiếp
• mô tô
• mông muội
• mông mênh
• mông mốc
• mùa màng
• mùi mẽ
• múa may
• múa máy
• múa mép
• múm mím
• múp míp
• mũ mấn
• mũm mĩm
• mơ màng
• mơ mòng
• mơn mởn
• mơn trớn
• mưa móc
• mưu mô
• mười mươi
• mạnh mẽ
• mạo muội
• mạt sát
• mải miết
• mải mê
• mảnh khảnh
• mảnh mai
• mảy may
• mấp máy
• mấp mé
• mấp mô
• mất mát
• mầm mống
• mẫm mạp
• mẫu mực
• mập mạp
• mập mờ
• mắc míu
• mắc mớ
• mắc mớp
• mắng mỏ
• mằn mặn
• mặn mà
• mặt mày
n tiếp
• nanh nọc
• nao nao
• nao núng
• nem nép
• ngai ngái
• ngam ngám
• ngan ngán
• ngang ngang
• ngang ngạnh
• ngang ngửa
• ngao ngán
• ngau ngáu
• ngay ngáy
• ngay ngắn
• nghi ngút
• nghiêm nghiêm
• nghiêng nghiêng
• nghiến ngấu
• nghiền ngẫm
• nghiện ngập
• nghiệt ngã
• nghiệt ngõng
• nghèo ngặt
• nghé nghẹ
• nghêu ngao
• nghìn nghịt
• nghí ngoáy
• nghĩ ngợi
• nghẹn ngào
• nghếch ngác
• nghề ngỗng
• nghễnh ngãng
• nghễu nghện
• nghệch ngạc
• nghịch ngợm
• ngo ngoe
• ngoa ngoét
• ngoa ngoắt
• ngoam ngoáp
• ngoan ngoãn
• ngoang ngoảng
• ngoay ngoảy
• ngoe ngoe
• ngoe ngoé

n
• ngày ngày
• ngái ngái
• ngái ngủ
• ngán ngẩm
• ngáp ngủ
• ngâm nga
• ngâm ngợi
• ngân nga
• ngâu ngấu
• ngây ngô
• ngây ngất
• ngây ngấy
• ngã ngũ
• ngòn ngọt
• ngòng ngoèo
• ngô nghê
• ngôn ngổn
• ngông nghênh
• ngù ngờ
• ngùi ngùi
• ngùn ngụt
• ngú ngớ
• ngúc ngắc
• ngúng nguẩy
• ngăm ngăm
• ngăn ngắn
• ngơ ngác
• ngơm ngớp
• ngơn ngớt
• người người
• ngường ngượng
• ngượng nghịu
• ngượng ngùng
• ngượng ngượng
• ngượng ngập
• ngại ngùng
• ngại ngại
• ngại ngần
• ngạo nghễ
• ngạo ngược
• ngạt ngào
• ngả ngốn
• ngả ngớn
• ngả vạ
n tiếp
• ngắc ngứ
• ngắn ngủi
• ngắn ngủn
• ngằn ngặt
• ngẳng nghiu
• ngặt nghẹo
• ngặt nghẽo
• ngặt ngòi
• ngặt ngõng
• ngọ ngoạy
• ngọt ngào
• ngốc nga ngốc nghếch
• ngốc nghếch
• ngốn ngấu
• ngồ ngộ
• ngồi rồi
• ngồm ngoàm
• ngồn ngộn
• ngồng ngồng
• ngổ ngáo
• ngổn ngang
• ngộ nghĩnh
• ngộc nghệch
• ngờ nghệch
• ngờ ngợ
• ngỡ ngàng
• ngủ nghê
• ngủn ngoẳn
• ngủng nghỉnh
• ngứa ngáy
• ngựa nghẽo
• nhai nhải
• nham nham
• nham nháp
• nham nhở
• nhan nhản
• nhanh nhánh
• nhanh nhảnh
• nhanh nhảu
• nhanh nhẹ
• nhanh nhẹn
• nhao nhao
• nhau nhảu
• nhay nhay
n tiếp
• nhon nhỏn
• nhong nhong
• nhong nhóng
• nhoè nhoẹt
• nhu nhú
• nhung nhúc
• nhung nhăng
• nhuôm nhuôm
• nhuế nhóa
• nhuốc nhơ
• nhàn nhã
• nhàn nhạt
• nhàn tản
• nhàng nhàng
• nhàu nhàu
• nhá nhem
• nhác nhớm
• nháo nhào
• nháo nhác
• nháo nhâng
• nháy nháy
• nhân nhẩn
• nhâng nháo
• nhâu nhâu
• nhây nhây
• nhây nhớt
• nhã nhặn
• nhãi nhép
• nhão nhoét
• nhão nhạo
• nhè nhè
• nhè nhẹ
• nhèo nhèo
• nhèo nhẹo
• nhì nhèo
• nhì nhằng
• nhìn nhõ
• nhìn nhận
• nhí nha nhí nhoẻn
• nhí nha nhí nhảnh
• nhí nhoẻn
• nhí nháy
• nhí nhảnh
• nhí nhắt

l
lừng lẫy
lử thử lử thừ
lửng lơ
lữ thứ
lững chững
lững lờ
lững thững
lực lưỡng
lực lượng
m
ma mãnh
mai mái
mai mỉa
man mác
man mát
mang máng
mang mẻ
mau mắn
may mắn
men mét
minh linh
miên man
miệt mài
moi móc
mon men
mong manh
mong mỏi
mong mỏng
mum múp
muộn màng
muộn mằn
mài miệt
màn màn
mành mành
màu mè
màu mẽ
màu mỡ
mày mò
mách mao
mát mặt
mát mẻ
máu me
máu mê
máu mặt
mâm mê
m tiếp
mô tô
mông muội
mông mênh
mông mốc
mùa màng
mùi mẽ
múa may
múa máy
múa mép
múm mím
múp míp
mũ mấn
mũm mĩm
mơ màng
mơ mòng
mơn mởn
mơn trớn
mưa móc
mưu mô
mười mươi
mạnh mẽ
mạo muội
mạt sát
mải miết
mải mê
mảnh khảnh
mảnh mai
mảy may
mấp máy
mấp mé
mấp mô
mất mát
mầm mống
mẫm mạp
mẫu mực
mập mạp
mập mờ
mắc míu
mắc mớ
mắc mớp
mắng mỏ
mằn mặn
mặn mà
mặt mày
mặt mũi
mẹo mực
mếu máo
n tiếp

nanh nọc

nao nao

nao núng

nem nép

ngai ngái

ngam ngám

ngan ngán

ngang ngang

ngang ngạnh

ngang ngửa

ngao ngán

ngau ngáu

ngay ngáy

ngay ngắn

nghi ngút

nghiêm

nghiêng

nghiến ngấu

nghiền ngẫm

nghiện ngập

nghiệt ngã

nghiệt ngõng

Kế hoạch phát triển THCS thân thiện


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Kế hoạch phát triển THCS thân thiện": http://123doc.vn/document/552431-ke-hoach-phat-trien-thcs-than-thien.htm



5
Tác dụng của kế hoạch trong quản lý
- Để phối hợp các hoạt động trong nh tr ng học.
- Để khẳng định sự phát triển của nhà trường trong tư
ơng lai.
- Để đảm bảo cơ sở hợp lý cho các hoạt động của nhà
trường và tạo khả năng thực hiện các hoạt động một
cách kinh tế.
- Có tác dụng kiểm tra nên KH được xem như một công
cụ quản lý.

6
Kóỳ
hoaỷc
h
Kóỳ
Hoaỷc
h
Truỡ
tờnh
Trióứn khai
Laỡm caùi
gỗ?
Laỡm nhổ thóỳ naỡo?
+
+
+

Choỹn vióỷc õuùng maỡ laỡm

Laỡm õuùng vióỷc õuùng õaợ
choỹn

7
Kế hoạch và kế hoạch hóa

Kế hoạch
Là những điều vạch ra một cách có hệ thống
những công việc dự định làm trong một thời
gian nhất định với cách thức, trình tự, thời hạn
tiến hành.

8

Kế hoạch hóa
- Là làm cho phát triển một cách có kế hoạch.
- Là công cụ Quản lý được thể hiện bằng hai đặc
trưng cơ bản: định hướng có lượng hóa ở mức độ
cho phép và giữ được trạng thái cân đối giữa các
bộ phận cấu thành của nền Kinh tế (ở tầm vĩ mô),
giữa các yếu tố Sản xuất và vận hành Sản xuất (ở
tầm vĩ mô) trong từng thời kỳ.

9
Kế hoạch hóa giáo dục
Với nghĩa rộng là áp dụng sự phân tích hệ
thống và hợp lý các quá trình phát triển GD
với mục đích làm cho GD đạt được các kết
quả và có hiệu quả hơn, phù hợp với những
yêu cầu và nhiệm vụ của người học và XH
đặt ra.

10
Lập kế hoạch
Là xây dựng phương án về mục tiêu, các
hoạt động cụ thể của toàn bộ hệ thống
trong một thời gian nhất định nhằm đư
ợc mục tiêu.

11
Kế hoạch năm học
* Là kế hoạch tổng hợp tất cả các hoạt
động trong năm học của nhà trường.
* K ho ch đóng vai trò chủ đạo, chi
phối các hoạt động của nhà trường và là
cơ sở để xây dựng các kế hoạch khác ở
trường học.

12
Nguyên tắc lập kế hoạch
1. M c đích của KH phải được xác định rõ ràng.
2. Lập KH phải dựa trên cơ sở khoa học và số liệu
tin cậy.
3. KH đề ra phải đo được khi triển khai thực hiện.
4. KH cần có tính khả thi.
5. KH bộ phận cần được lồng ghép trong KH chung.
6. Các kế hoạch cần phải linh hoạt.
7. KH phải được công khai hóa.

13

1. Mục đích của KH phải được xác định rõ ràng.

Nêu rõ mục đích hay nhiệm vụ cần giải quyết.

Mục tiêu hay kết quả mong muốn cần đạt được.
_ Các hoạt động hay công việc cần thực hiện.

Các nguồn lực cần thiết đã được bàn bạc thống
nhất và hướng tới lợi ích rõ ràng.
Nội dung của từng nguyên tắc lập KH

14
2.
Lập KH phải dựa trên cơ sở khoa học và
số liệu tin cậy.
Quyết định khi lập kế hoạch phải dựa vào
+
Phân tích vấn đề.
+
Xác định những nguyên nhân.
+
Đánh giá tác động của nhiều yếu tố.
+ Số liệu thực tế và các dự báo đáng tin cậy.

Thứ Tư, 19 tháng 3, 2014

Dự báo về tác động của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO đối với các doanh nghiệp xuất khẩu vừa và nhỏ Việt Nam – Những giải pháp đề xuất


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Dự báo về tác động của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO đối với các doanh nghiệp xuất khẩu vừa và nhỏ Việt Nam – Những giải pháp đề xuất": http://123doc.vn/document/553732-du-bao-ve-tac-dong-cua-to-chuc-thuong-mai-the-gioi-wto-doi-voi-cac-doanh-nghiep-xuat-khau-vua-va-nho-viet-nam-nhung-giai-phap-de-xuat.htm


Nghiên cứu khoa học Trịnh Quang Huy
5
Nghiên cứu khoa học Trịnh Quang Huy
Chỳ thớch:
Bỏo cỏo lờn i hi ng.
Cỏc cam kt a biờn thụng bỏo cho i hi ng.
Bỏo cỏo lờn c quan gii quyt tranh chp.
(Ngun: www. wto. org).
4.Thnh viờn v iu kin cn thit gia nhp WTO.
4.1.Thnh viờn.
Hin nay WTO cú 141 thnh viờn, trong ú khụng ch bao gm cỏc quc
gia cú ch quyn m cũn c cỏc lónh th riờng bit nh EU, Macao, Hng
Kụng.
Theo quy nh ca Hip nh ca WTO, cú hai loi thnh viờn WTO l
thnh viờn sỏng lp v thnh viờn gia nhp.
Thnh viờn sỏng lp l nhng nc l mt bờn ký kt GATT 1947 v phi
ký, phờ chun Hip nh v WTO trc ngy 31/12/1994 (tt c cỏc bờn ký
kt GATT 1947 u ó tr thnh thnh viờn sỏng lp ca WTO).
Thnh viờn gia nhp l cỏc nc hoc lónh th gia nhp Hip nh WTO
sau ngy 01/01/1995. Cỏc nc ny phi m phỏn v cỏc iu kin gia nhp
vi tt c cỏc nc ang l thnh viờn ca WTO v quyt nh gia nhp phi
c i hi ng WTO b phiu thụng qua vi ớt nht hai phn ba s phiu.
4.2. iu kin gia nhp.
Cỏc nc thnh viờn cú ngha v bo m rng nhng th tc, quy nh v
lut phỏp quc gia ca h phi phự hp vi nhng iu khon ca nhng hip
nh ny. Qỳa trỡnh hi ho hoỏ cỏc quy nh ca tt c cỏc nc thnh viờn
s to iu kin thun li cho thng mi hng hoỏ v dch v. Ngoi ra, s
hi ho ca cỏc quy nh ca tng quc gia s bo m cho vic khụng to ra
nhng ro cn khụng cn thit i vi thng mi v xut khu ca tng
nc thnh viờn nh s khụng b cn tr do mc thu cao hoc nhng ro cn
khỏc i vi thong mi.
6
Nghiên cứu khoa học Trịnh Quang Huy
Mc dự khụng nht thit phi tham gia WTO nhng nhng li ớch m mt
quc gia cú th cú c t mt h thng thng mi a phng ny l rt ln
bi vỡ t chc ny hin ang chim 90% th phn thng mi th gii.
5.Nhng hip nh v nguyờn tc ca WTO.
5.1.Nhng hip nh chớnh ca WTO.
iu chnh quan h thng mi quc t, WTO cú 16 hip nh chớnh,
nh: Hip nh chung v thu quan v thng mi (GATT 1994); Hip nh
v hng ro k thut trong thng mi (TBTs); Hip nh v cỏc bin phỏp v
sinh kim dch (SPS); Hip nh vố th tc cp phộp XNK (ILP); Hip nh
v quy tc xut x (ROO); Hip nh v kim tra trc khi giao hng (PSI);
Hip nh tr giỏ tớnh thu hi quan (ACV); Hip nh v cỏc bin phỏp t v
(ASG); Hip nh v tr cp (SCM) v phỏ giỏ (ADP); Hip nh v nụng
nghip (AOA); Hip nh v thng mi hng dt may v may mc (ATC);
Hip nh v cỏc bin phỏp u t liờn quan n thng mi (TRIMS); Hip
nh v thng mi dch v (GATS); Hip nh v cỏc khớa cnh liờn quan
n thng mi ca quyn s hu trớ tu (TRIPS) v tho thun v cỏc quy
tc v th tc iu chnh vic gii quyt tranh chp (DSV).
Tt c cỏc thnh viờn WTO u phi tham gia vo cỏc hip nh núi trờn,
quy nh ny gi l s chp thun c gúi. Bờn cnh ú WTO vn duy trỡ 2
hip nh nhiu bờn, cỏc thnh viờn WTO cú th tham gia hoc khụng tham
gia, ú l: Hip nh v buụn bỏn mỏy bay dõn dng, Hip nh v mua st
ca Chớnh ph. Cũn 2 hiờp nh nhiu bờn khỏc l Hip nh quc t v cỏc
sn phm sa; Hip nh quc t v tht bũ thỡ cui nm 1997, WTO ó chm
dt v a nhng ni dung ca chỳng vo phm vi iu chnh ca cỏc Hip
nh nụng nghip v Hip nh v cỏc bin phỏp v sinh kim dch.
5.2.Cỏc nguyờn tc phỏp lý ca WTO.
WTO hot ng da trờn 5 nguyờn tc chớnh:
Nguyờn tc th nht l thng mi khụng cú s phõn biờt i x. Nguyờn
tc ny c c th hoỏ trong cỏc quy nh v quy ch i x ti hu quc
(MFN) v i x quc gia (NT) m ni dung chớnh l dnh s i x bỡnh
7
Nghiên cứu khoa học Trịnh Quang Huy
ng i vi cỏc thng nhõn, hng hoỏ, dch v ca cỏc bờn tham gia thng
mi.
Nguyờn tc th hai l to dng mt nn tng n nh cho thng mi. Cỏc
nc thnh viờn cú ngha v minh bch hoỏ cỏc chớnh sỏch ca mỡnh, cam kt
s khụng cú nhng thay i bt li cho thng mi. Nu thay i phi bỏo
trc, tham vn v bói tr.
Nguyờn tc th ba l m bo thng mi ngy cng t do hn thụng qua
m phỏn. K t hip nh GATT nm 1947 n nay, WTO dó qua 8 vũng
m phỏn gim thiu, d b cỏc hng ro phi thu v m ca th trng.
Nguyờn tc th t l to mụi trng cnh tranh ngy cng bỡnh ng. WTO
khụng cho phộp cỏc hnh vi cnh tranh khụng lnh mnh trong thng mi
quc t, vớ d nh bỏn phỏ giỏ, tr cp cho hng hoỏ, ng thi cho phộp cỏc
nc c ỏp dng cỏc bin phỏp t v khi nn sn xut trong nc b e do,
gõy thit hi bi hng nhp khu.
Nguyờn tc th nm l iu kin c bit dnh cho cỏc nc ang phỏt
trin. Hin nay, 3/4 thnh viờn ca WTO l cỏc nc ang phỏt trin v kộm
phỏt trin. Thc hin nguyờn tc ny, WTO dnh cho cỏc nc ang phỏt
trin, cỏc nn kinh t chuyn i nhng linh hot v u ói nht nh trong
vic thc thi cỏc hip nh, ng thi chỳ ý n tr giỳp k thut cho cỏc
nc ny, vi mc tiờu m bo s tham gia sõu rng hn ca h vo h
thng thng mi a phng.
Ngoi ra, WTO cũn mt s cỏc nguyờn tc phỏp lý khỏc nh:
-Bo h bng hng ro thu quan.
-Hu b ch hn ch s lng nhp khu.
-Quyn khc t v kh nng ỏp dng nhng hnh ng cn thit trong
trng hp khn cp.
-Cỏc tho thun v thng mi khu vc.
-Ch ngoi l cho hng dt may.
8
Nghiên cứu khoa học Trịnh Quang Huy
Chơng 2. Thực trạng các doanh nghiệp
xuất nhập khẩu vừa và nhỏ Việt Nam
1. Khái quát tình hình phát triển xuất nhập khẩu
1.1. Tình hình xuất khẩu:
Từ thập kỷ 90 cho đến nay, xuất khẩu của Việt Nam đã có bớc phát triển
ngoạn mục. Tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nớc năm 2000 đạt 16,5 tỷ USD
(xuất khẩu hàng hoá đạt 14,3 tỷ USD và xuất khẩu dịch vụ đạt 2,2 tỷ USD),
tăng gấp 6,87 lần so với 1990 (đạt 2,4 tỷ USD). Tốc độ tăng trởng xuất khẩu
trung bình hàng năm của thời kỳ 1991 2000 là 21,5%. Năm 2001 xuất khẩu
hàng hoá đạt 15,2 tỷ USD, tăng 6,3% so với năm 2000. Năm 2002, kim ngạch
xuất khẩu đạt 16,706 tỷ USD, tăng 11,2% so với năm 2001 và năm 2003, kim
ngạch xuất khẩu ớc đạt 19870 triệu USD, tăng 7,4% so với kế hoạch phấn đấu
cả năm (18,5 tỷ USD) và tăng 18,9% so với cùng kỳ năm 2002.
Sau thời kỳ bị chững lại năm 1998 và những tháng đầu năm 1999, xuất
khẩu của Việt Nam đã trở lại nhịp độ tăng trởng cao. Năm 1999 tăng 23,3% và
năm 2000 tăng 24%. Cho tới năm 2003 đã tăng 18,9% so với năm 2002, đa xuất
khẩu bình quân theo đầu ngời của Việt Nam vợt xa ngỡng 170 USD (chỉ sự
chậm phát triển về ngoại thơng). Bên cạnh đó là sự cải thiện quan trọng cơ cấu
sản phẩm xuất khẩu theo hớng tích cực tăng dần tỷ trọng và tốc tăng trởng
của nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp (tỷ trọng phát triển từ
38,3% năm 2002 lên 43% năm 2003) và giảm dần tỷ trọng nhóm hàng nguyờn
liu, khoáng sản (từ 31,2% năm 2002 và còn 27,6% năm 2003) và giảm nhẹ tỷ
trọng nhóm hàng nông lâm thuỷ sản (từ 30,5% năm 2002 giảm còn 29,4% năm
2003). Ngoài ra, Việt Nam còn chú trọng xuất khẩu theo hớng tăng tỷ lệ sản
phẩm chế biến, giảm xuất khẩu thô, hàng nông lâm thuỷ sản đầu thập kỷ 90
từng chiếm tỷ trọng trên dới 50% trong tổng xuất khẩu của Việt Nam (năm
1990 chiếm tỷ trọng 48%, năm 1991 chiếm 52%, 1992 chiếm 49,5% tổng kim
ngạch xuất khẩu) đã từng bớc giảm đáng kể. Thị trờng xuất khẩu sản phẩm của
9
Nghiên cứu khoa học Trịnh Quang Huy
Việt Nam cũng không ngừng đợc mở rộng và đa dạng hoá. Từ chỗ chỉ xuất
khẩu sang các nớc thuộc Liên Xô cũ và Đông Âu, ngày nay sản phẩm của Việt
Nam đã có mặt ở khắp mọi nơi trên thế giới. Hàng Việt Nam đã chiếm đợc thị
phần nhất định ở những thị trờng lớn thế giới nh EU, Mỹ, Nhật Bản
Về xuất khẩu dịch vụ, chúng ta đã phát triển đợc nhiều hình thức dịch vụ
thu ngoại tệ, khách du lch nớc ngoài vào Việt Nam tăng từ 250 ngàn lợt ngời
năm 1991 lên khoảng 2 triệu lợt ngời năm 2000, doanh thu đạt 450 triệu USD.
Cho tới năm 2003, ngành du lịch đón đợc gần 2,5 triệu lợt khách quốc tế và 13
triệu lợt khách trong nớc, doanh thu đạt khoảng 20.000 tỷ đồng. Trong lĩnh vực
bu chính viễn thông, tổng doanh thu phát sinh đạt 3045 tỷ đồng, tăng 1,34% so
với thực hiện năm 2002 và vợt 9,1% với kế hoạch, trong đó dịch vụ bu chính
viễn thông vợt 11,1% so với kế hoạch và tăng 3,3% so với thực hiện năm 2002.
Về lĩnh vực vận tải hàng không, năm 2003 vận chuyển đợc trên 4 triệu lợt
khách trong và ngoài nớc, tăng 2,1% so với năm 2002, chủ yếu gặp khó khăn do
chịu ảnh hởng của dịch bệnh SARS. Lĩnh vực vận tải biển, tổng lợng hàng qua
các cảng biển dự tính đạt mức 115 triệu tấn, tăng 12,7% so với năm 2002. Tổng
doanh thu dịch vụ vận tải ớc đạt 31200 tỷ đồng, tăng 5% so với năm 2002. Các
dịch vụ khác nh ngân hàng, xây dựng, y tế, giáo dục thu đợc hàng ngàn tỷ
đồng.
Lao động ở nớc ngoài tính đến năm 2000 có khoảng 9 vạn ngời. Cho tới
năm 2003, cả nớc đa đợc 75 000 lao động và chuyên gia đi làm việc tại nớc
ngoài, tăng 63% so với năm 2002 và vợt 50% so với kế hoạch năm, đa tổng số
lao động Việt Nam đang làm việc ở nớc ngoài lên khoảng 340000 ngời, tỷ lệ lao
động có tay nghề là 35,5% tại hơn 40 nớc và vùng lãnh thổ, mi nm xut
khu lao ng em v c khong 1,5 t USD.
Đảng và Nhà nớc Việt Nam đã đề ra chiến lợc phát triển xuất khẩu lâu
dài thời kỳ 2001 2010 cho các đơn vị kinh tế và định hớng xuất khẩu năm
2004. Năm 2004, dự kiến xuất khẩu hàng hoá đạt 22,45 tỷ USD, tăng 13% so
với năm 2003, trong đó các doanh nghiệp 100% vốn trong nớc dự kiến 10,85 tỷ
10
Nghiên cứu khoa học Trịnh Quang Huy
USD, tăng 9,5% các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài dự kiến 11,6 tỷ USD,
tăng 16,4%. Tăng cờng xuất khẩu vào các thị trờng Hoa Kỳ, EU, Nhât Bản,
Ôxtrâylia, các nớc ASEAN, các tiểu vơng quốc ả rập thống nhất, Nam Phi,
Mêxico, Canada, Hàn Quốc, Nga về xuất khẩu dịch vụ, dự kiến đạt 3300
triệu USD, so với năm 2003 tăng 10% và xuất khẩu lao động, dự kiến đa
khoảng hơn 8 vạn lao động đi làm việc ở nớc ngoài.
Định hớng xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam thời kỳ 2001 2010
Nhóm hàng hoá
Kim ngạch 2010
(triệu USD)
Tỷ trọng
2000 2010
1. Nguyên, nhiên liệu 1.750 20,1 3 3,5
2. Nông sản, thuỷ sản 8.000 8.600 23,3 16 17
3. Chế biến chế tạo 20.000 21.000 31,4 40 45
4. Công nghệ cao 7.000 5,4 12 14
5. Hàng hoá khác 12.500 19,4 23 25
Tổng xuất khẩu hàng hoá 48.000 50.000 100 100
Định hớng xuất khẩu dịch vụ thời kỳ 2001 2010
Ngành dịch vụ Kim ngạch 2005 Kim ngạch 2010
1. Xuất khẩu lao động 1500 4500
2. Du lịch 1000 1600
3. Một số ngành (ngân hàng, bu chính
viễn thông, vận tải )
1600 2000-2500
Tổng kim ngạch xuất khẩu dịch vụ 4100 8100-8600
11
Nghiên cứu khoa học Trịnh Quang Huy
Định hớng thị trờng xuất khẩu của Việt Nam tới 2010
(Đơn vị: %)
Thị trờng Tỷ trọng 2005 Tỷ trọng 2010
Châu á 57-60 46-50
Nhật Bản 15-16 17-18
ASEAN 23-25 15-16
Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông 16-18 14-16
Châu Âu 26-27 27-30
EU 21-22 25-27
SNG và Đông Âu 1,5-2 3-5
Bắc Mỹ (chủ yếu là Mỹ) 5-6 15-20
Ôxtrâylia và New Zealand 3-5 5-7
Các khu vực khác 2 2-3
1.2. Tình hình nhập khẩu:
Năm 2003 là năm có kim ngạch nhập khẩu cao nhất từ trớc tới nay và có
vận tốc tăng trởng cao nhất trong 3 năm trở lại đây. Cả năm ớc đạt 24945 triệu
USD, tăng 21,7% so với kế hoạch phấn đấu cả năm (20,5 tỷ USD) (năm 2001
tăng 3,4%, năm 2002 tăng 22,1%). Trong đó các doanh nghiệp 100% vốn trong
nớc đạt 16,240 triệu USD, tăng 24,6% các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài
đạt 8705 triệu USD, tăng 29,8%.
So với năm 2002, kim ngạch xuất khẩu năm 2003 hàng máy móc, thiết
bị, phụ tùng (chiếm 29,8%) tăng 18,2%, nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu
(chiếm 63,5%), tăng 24,2%, hàng tiêu dùng chiếm 6,7%, tăng 14,3%.
Có 10 mặt hàng chủ lực tốc độ tăng trởng kim ngạch cao hơn tốc độ xuất
khẩu (19,8%), có 5 mặt hàng chủ lực tốc độ tăng trởng kim ngạch thấp hơn tốc
độ xuất khẩu và 2/17 mặt hàng chủ lực vận tốc tăng trởng kim ngạch thấp hơn
năm 2002. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là: phân bón, xăng dầu, linh
kiện và phụ tùng xe gắn máy, thép thành phẩm và phôi thép, giấy các loại, linh
kiện ôtô, tân dợc.
Cơ cấu thị trờng xuất khẩu có sự chuyển dịch, phát triển mạnh ở các thị
trờng công nghệ nguồn, công nghệ cao nh: Hoa Kỳ (+166%), Hàn Quốc
(+133%), EU (+38%).
12
Nghiên cứu khoa học Trịnh Quang Huy
Tóm lại, xuất khẩu hàng hoá năm 2003 tăng trởng 26,4% là tốc độ cao
nhất trong 3 năm gần đây, chủ yếu do khối lợng xuất khẩu tăng nhanh để đpá
ứng yêu cầu của đầu t mở rộng sản xuất và sản xuất hàng xuất khẩu. Cơ cấu thị
trờng xuất khẩu đang có sự chuyển dịch theo hớng phát triển xuất khẩu công
nghệ nguồn, công nghệ cao ở các thị trờng Hoa Kỳ, EU Từ tháng 7/2003,
triển khai thực hiện cắt giảm thuế theo Hiệp định u đãi thuế quan có hiệu lực
chung CEPT/AFTA, hoạt động nhập khẩu vẫn diễn ra bình thờng, hoạt động
xuất khẩu năm 2003 là nhân tố quan trọng thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu phát
triển.
Dự kiến trong năm 2004, Việt Nam sẽ nhập khẩu khoảng 26,5 t USD,
tăng 6,2% so với năm 2003, trong đó các doanh nghiệp 100% vốn trong nớc dự
kiến 17,1 tỷ USD, tăng 5,3%, các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài dự kiến
đạt 9,4 tỷ USD, tăng 8%. Khối lợng xuất khẩu tăng 3%, giá nhập khẩu tăng 3%.
Tăng trởng xuất nhập khẩu nhanh, bền vững là một trong những điều
kiện để đảm bảo tăng trởng kinh tế ở Việt Nam sau gần 20 năm cải cách và mở
cửa. Chính việc duy trì mức tăng trởng xuất khẩu trung bình hàng năm khoảng
20% đã góp phần quan trọng đảm bảo cho tăng trởng GDP của đất nớc đạt trên
7,5%/năm trong điều kiện thị trờng nội địa nớc ta còn nhỏ hẹp do sức mua hạn
chế.
Xuất khẩu tăng nhanh đáp ứng tốt nhu cầu ngoại tệ cho xuất khẩu phục
vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, cải thiện cán cân thơng mại của Việt
Nam một cách tích cực theo chiều hớng nhập siêu giảm dần qua các năm.
Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam 1991 2003
Đơn vị: Triệu USD
Năm Xuất khẩu Nhập khẩu Cán cân thơng mại
1991 2042 2388 -346
1992 2571 2535 36
1993 2985 3924 -939
1994 4054 5825 -1771
1995 5450 8155 -2705
1996 7255 11143 -3888
13
Nghiên cứu khoa học Trịnh Quang Huy
1997 9185 11592 -2407
1998 9316 11494 -2178
1999 11540 11622 -82
2000 14308 15200 -892
2001 15027 16162 -1135
2002 16706 19733 -3027
2003 19870 24945 -5075
Xuất nhập khẩu còn là thớc đo về độ mở cửa nền kinh tế Việt Nam. Điều
này phản ánh khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam, mức độ hội nhập
của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới và khu vực. Có thể nói, xuất nhập khẩu
của Việt Nam đang phát triển khá ngoạn mục trong thời gian qua. Ngoài những
tác động ảnh hởng của điều kiện khách quan thuận lợi, đó còn là kết quả của
những nỗ lực xúc tiến xuất khẩu của Nhà nớc, các tổ chức xúc tiếp xuất khẩu và
các doanh nghiệp Việt Nam, trong đó có các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
2. Thực trạng xuất khẩu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong mọi lĩnh vực của nền kinh
tế Việt Nam tham gia ngày càng nhiều trong lĩnh vực xuất nhập khẩu. Về mặt
số lợng, có thể nói doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam tham gia xuất nhập khẩu
ngày càng tăng. Đặc biệt, luật Thơng mại ban hành năm 1997 và Nghị định
57/1998/NĐ-CP hớng dẫn thực hiện Thơng mại đã thúc đẩy việc mở rộng quyền
kinh doanh nhập khẩu cho mọi loại doanh nghiệp, kể cả các doanh nghiệp vừa
và nhỏ. Luật Doanh nghiệp mới có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2000,
khuyến khích nhiều doanh nghiệp mới ra đời tham gia hoạt động xuất nhập
khẩu.
Theo tinh thần Quyết định số 46/2001/QĐ-TTg ngày 04/04/2001 của Thủ
tớng chính phủ ban hành cơ chế quản lý xuất nhập khẩu hàng hoá thời kỳ 2001
2005, việc kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá của doanh nghiệp không
còn bị giới hạn bởi nội dung đăng ký kinh doanh nội địa nữa mà đợc mở rộng ra
mọi loại hàng hoá mà pháp luật không cấm Những điều chỉnh pháp lý thông
thoáng hơn cho phép doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia hoạt động xuất nhập
khẩu ngày càng nhiều. Theo Bộ Thơng mại, đến cuối năm 2000, số đơn vị đăng
14

Thứ Ba, 18 tháng 3, 2014

Tài liệu ULRICH SCHMIDEL DER ERSTE GESCHICHTSCHREIBER DER LA PLATA-LÄNDER pptx


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu ULRICH SCHMIDEL DER ERSTE GESCHICHTSCHREIBER DER LA PLATA-LÄNDER pptx": http://123doc.vn/document/1037316-tai-lieu-ulrich-schmidel-der-erste-geschichtschreiber-der-la-plata-l-nder-pptx.htm


Reisen fand er aber immer wieder den Zugang zu den reichen Provinzen des »Groß-
Chans« (Kaisers von China) durch eine Barriere verschlossen, und seine Hoffnung,
eine freie Durchfahrt, eine Meerenge nach Westen und Asien zu finden, wurde stets
getäuscht. Auch alle ihm nachfolgenden Seefahrer ahnten anfänglich noch nichts von
einem zusammenhängenden kolossalen Festlande, hielten vielmehr die von ihnen
entdeckten Länder für Inseln von größerem oder geringerem Umfange.
»Da man nach den Reisen des Columbus und seiner Zeitgenossen«, schließt Kohl
diesen Abschnitt, »erfahren hatte, daß man im Karaibischen Meere in Central-
Amerika mit Schiffen schwerlich durchkommen könne, so hoffte man denn auf solche
Durchlasse im Norden und im Süden dieser Central-Partie, auf [10]die Möglichkeit
einer Durch- oder Umsegelung sowohl des nördlichen als auch des südlichen großen
Länder-Flügels, und es entstanden so die viele Jahre lang fortgesetzten Bestrebungen
zu der Auffindung einer nordwestlichen und einer südlichen Durchfahrt vom Osten
zum Westen. Beide gaben Anlaß zu ganz großartigen Expeditionen, die allmählich die
richtige geographische Kenntnis des Nordens und Südens Amerikas herbeiführten.«
Hier interessiert uns nur der Süden. Aus diesen Bestrebungen erklärt sich die
Entdeckung Brasiliens durch den Portugiesen Cabral (1500); die portugiesische
Expedition zur Fortsetzung dieser Entdeckung, an welcher Vespucci teilnahm und
welche ihn, was irrtümlich sein dürfte, sogar bis zum 52° südl. Br. geführt haben soll
(1501); und die Expedition des Gonzalo Coelho (1503), welche allerdings unglücklich
verlief und nur das jetzige Bahia erreichte. Schließlich auch die Reise des Spaniers
Juan Díaz de Solís, welcher den Rio de la Plata entdeckte und dessen Persönlichkeit
das folgende Kapitel behandeln soll.
II.
J u a n D í a z d e S o l í s ist Spanier, angeblich aus Lebrija in Andalusien, dessen
Leben erst bekannt wird, als nach Columbus’ Rückkehr von seiner vierten Reise
(1504) Ferdinand V. ihn und Vicente Yañez Pinzón mit einer Expedition nach
Central-Amerika (1506) beauftragt, um jene Erforschungen fortzusetzen. Zwei Jahre
später (1508) wurde er zum Piloto Real ernannt und gemeinsam mit Pinzón und
Vespucci geht es nun weiter nach Süden, um da eine Umsegelung Südamerikas zu
versuchen. Der Küste Brasiliens folgend, gelangten sie angeblich bis zum 40° südl.
Br., es scheint aber nicht, als ob sie schon damals den La Plata entdeckt oder erkannt
hätten. Nach seiner Rückkehr verklagt und verhaftet, trat Solís in portugiesische
Dienste über, [11]kehrte aber später nach Spanien zurück und wurde nach Vespuccis
Tode (1512) an dessen Stelle zum »Piloto Mayor del Reino« ernannt; wegen seiner
wissenschaftlichen Verdienste sah man hierbei von den gesetzlichen Bedingungen ab.
Da er glaubte, daß das Gebiet der Molukken noch innerhalb der spanischen
Besitzungen liege, so beauftragte ihn der König mit einer Expedition, aber die
portugiesische Regierung reklamierte und es ist zweifelhaft, ob diese für 1512
geplante Reise zur Ausführung kam.
Kampf mit den
Kerandís bei Buenos Aires (1536).
Inzwischen entdeckte im Jahre 1513 Vasco Nuñez de Balboa die Südsee beim
Überqueren des Isthmus von Panamá, und die später in Spanien eintreffenden
Nachrichten über »Gold-Castilien«, alles Land, welches im Süden des Isthmus von
Panamá lag, veranlaßten Ferdinand V., einerseits dem Gouverneur jenes Landes den
Bau von Schiffen zur Erforschung der neuentdeckten Westküsten aufzutragen,
andererseits mit Solís wegen einer Expedition Rücksprache zu nehmen, welche eine
Durchfahrt nach der Südsee finden sollte, um die spanischen Schiffe in den Rücken
von Gold-Castilien führen zu können (llevar las naves españolas á espaldas de Castilla
del Oro). Gewiss war Solís selbst an solcher Reise interessiert, wenn auch nicht durch
egoistische Motive, wie Fregeiro betont; er verlangte vom König nicht die geringste
Vergünstigung, nur seinen Gehalt für anderthalb Jahre voraus. Am 8. Oktober 1515
segelte er mit drei Schiffen von San Lucar ab, lief noch die Canarischen Inseln an und
sichtete schließlich das Cap San Roque an der brasilianischen Küste (5° südl. Br.),
welche er nun südwärts herabfahrend genauer erforschte, so den Hafen von Rio de
Janeiro und Santos. Am 2. Februar 1516 nahm er den »Puerto de Nuestra Señora de la
Candelaria«, heute Montevideo, feierlichst für Spanien in Besitz. Die Fahrt ging dann
weiter; am 12. März umschifften sie das Steilufer von San Gregorio und »fuhren dann
in ein Gewässer ein, welches sehr groß und nicht salzig war und das sie deshalb das
›Süße Meer‹ (›Mar Dulce‹) nannten, anscheinend der Fluß, der heute [12]La Plata und
damals Solís genannt wurde«, schreibt der Chronist Herrera (wir werden gleich sehen,
worauf dieser Namenswechsel zurückzuführen ist). Die Einzelheiten, welche Solís
nun im nördlichen Mündungsgebiet des heutigen La Plata erforschte, sind zum Teil
widersprechend und auch den modernen Schriftstellern, welche diese Angaben
nachprüften, nicht vollkommen verständlich; es kommt hier auch nicht darauf an. Als
Solís Mitte März 1516 mit einigen Begleitern in einer Barke an Land ging, fielen die
Guaraní-Indianer über sie her, töteten sie mit Pfeilschüssen, ohne daß die
Schiffsartillerie dies hätte verhindern können, »schleppten nun die Getöteten
landeinwärts und angesichts der Schiffsbesatzung schnitten sie ihnen Köpfe, Arme
und Füße ab, brieten die ganzen Körper und verspeisten sie« (Herrera). Nur ein
Schiffsjunge, Francisco del Puerto, wurde am Leben gelassen (s. w. u.). Der Schwager
des Solís, Francisco de Torres, übernahm nun das Oberkommando und kehrte im
Oktober 1516 nach Spanien zurück; unterwegs gegenüber der brasilianischen Küste an
der noch heute so genannten »Ponto dos Naufragados« in der Nähe der Insel Santa
Catalina scheiterte noch eins der drei Schiffe, neun Mann der Besatzung konnten sich
aber an Land retten und wurden von den Guaranís freundlich behandelt; diese
erzählten ihnen, daß es ganz weit im Westen eine Gegend gäbe, sehr reich an
kostbaren Metallen (das heutige Bolivien). Begeistert von diesen Erzählungen,
nannten sie daher jene Gegend die »Sierra de la Plata« und bald machten sich auch
sechs von ihnen auf, sie zu suchen. Unter Führung des Portugiesen Alejo García
zogen sie ins heutige Paraguay, begleitet von 2000 Indianern, kämpften oder
verhandelten mit den Indianerstämmen des Chaco, die sie antrafen, und erreichten als
erste Europäer schließlich das Land der Inkas. Die bolivianischen Indianer aber
zwangen sie zur Rückkehr, die sie in guter Ordnung mit silbernen und goldenen
Wertsachen beladen antraten. Von Paraguay aus, wo sie blieben, [13]sandten sie ihren
zwei zurückgebliebenen Gefährten Briefe und drei Arrobas Silber, auch Goldsachen.
Der Kapitän Rodrigo de Acuña, der im Juni 1526 zu jener Küste kam, wollte jene
Sachen mit nach Spanien nehmen, das Boot kenterte aber wegen des hohen Seeganges
und es wurde fast nichts von dem kostbaren Metalle gerettet, aber wenigstens kam das
Gerücht von einer Gegend mit vielem Silber nach Spanien. Diese für die
Entdeckungsgeschichte sehr wichtigen Angaben sind erst neuerdings von Dominguez
richtig beleuchtet worden; sie sind für die allgemeine Erdkunde von Wichtigkeit, weil
dadurch ein Teil der Seefahrer von der Reise nach »Malucos« (»voy á Malucos«),
deren Zugang Magallanes bald entdecken sollte, abgelenkt und nach jenen
»Silberländern« geleitet werden sollte.
[14] Große Hungersnot in
Buenos Aires (1536).
III.
Die weltberühmte Fahrt des Fernando de Magallanes und die Lösung des so lang
ersehnten geographischen Problems durch ihn ist so bekannt, daß wir hier von einer
wenn auch nur kurzen Schilderung absehen können. Interessant für die Zwecke dieser
Zeilen sind gewisse Einzelheiten seiner Reise; am Abend des 13. Januar 1520 fuhren
die Seefahrer ein in den Rio de Solís, segelten zwei Tage und sichteten »einen Berg
ähnlich einem Hute« (»una montaña hecha como un sombrero«), den sie »Monte
Vidi« nannten. Magellanes ließ durch seine Schiffe darauf die gesamten Küsten und
Zuflüsse jenes mächtigen Beckens erforschen, um eine Durchfahrt zu finden, und
segelte Anfang Februar nach Süden weiter. Seiner Tatkraft gelang es, bis zu den
Philippinen zu dringen, wo er am 27. April 1521 durch die Eingeborenen den [15]Tod
finden sollte; 18 erschöpfte Seefahrer unter dem Kommando des Sebastian del Cano
langten schließlich als erste Weltumsegler auf einem Schiffe, der Victoria, am 6.
September 1522 in Spanien wieder an.
Sturm auf Buenos
Aires durch die vier verbündeten Indianerstämme (23 000 Mann) 1536.
Während Loaisa (1525–1526) die Fahrt durch die heute nach ihrem Entdecker
benannte Magellanstraße wiederholte, wurde im Frühling des Jahres 1526 der
Venezianer Sebastian Cabot, spanisch Gaboto, von Sevilla ausgesandt, um durch die
Magellanstraße zur Südsee, zu den Molukken und »nach Ophir, China und Japan« zu
gehen. Aber bei seiner Ankunft in Pernambuco (6. Juni 1526) erfuhr er durch den
Geschäftsführer der Faktorei, Manuel de Braga, von den vermeintlichen Reichtümern
des von Juan Díaz de Solís entdeckten Landes und diese Angaben wurden ihm
von [16]einem andern Portugiesen Gomez Arbolancha bestätigt, der dort in der
Verbannung lebte. Auf seiner Weiterfahrt stieß dann Cabot bei der Insel Santa
Catalina auf einen Trupp portugiesischer Seeleute und Soldaten, die von einem zur
Flotte des Loaisa gehörenden Schiffe desertiert waren, welches unter dem Kommando
des Rodrigo de Acuña nach Spanien zurückkehrte und, wie wir schon sahen, die
Nachrichten von einem Silberlande mit nach drüben nahm. Cabot sprach auch jene
zwei an der Küste gebliebenen Gefährten des Alejo García, welche ehemals zur
Expedition des Solís gehört hatten, und diese erzählten ihm natürlich auch von den
Schätzen, die sie aus dem Innern von ihren Kameraden erhalten hatten, und die Acuña
hatte mitnehmen sollen. Cabot gab daher auf Grund dieser Nachrichten und gewiß
auch wegen Zwistigkeiten mit seinen Kapitänen den ursprünglichen Reiseplan auf und
segelte nach dem Río de Solís, wo er am 17. April 1527 an der östlichen Küste
gegenüber der Insel Martín García ankerte. Hier fand er jenen Francisco del Puerto
wieder, der nicht wie Solís und seine Gefährten dem Kannibalismus zum Opfer
gefallen war und die Guaraní-Sprache erlernt hatte. Dieser erklärte, um zum
Goldlande zu kommen, müsse man den Paraná herauffahren bis zum Carcarañá, der
von den Bergen des Innern herabkomme. Cabot folgte diesem Rate und an besagter
Stelle gründete er am 27. Mai 1527 das Fort »Sancti Spiritus«, die erste spanische
Niederlassung auf heute argentinischem Boden, ein guter Stützpunkt für weitere
Stromfahrten nach dem Innern, heute nur durch einen Rancho gekennzeichnet (s. den
Aufsatz von Outes). Von hier machte Cabot eine große Stromfahrt Paraná aufwärts bis
zum heutigen Itatí, von den Guaranís gastlich mit Proviant versorgt, die Nachrichten
von der Herkunft einiger Silber- und Goldsachen veranlaßten ihn aber, am 28. März
1528 wieder zurück und in den Paraguay einzufahren. Durch Vermittlung der Indianer
erfuhr er von der Ankunft des Diego García am Río de Solís, welcher kurz nach Cabot
von Spanien abgereist war, nun auch nach [17]»Sancti Spiritus« gelangte und von hier
am 10. April auch den Paraná aufwärts fuhr. Cabot hatte inzwischen einen
Bergantinführer den Río Bermejo vorausgesandt, um mit den Agaes (Payaguas)
friedlich zu verhandeln, da diese viel Geld und Silber haben sollten, die Indianer
schickten aber die Abenteurer übel zurück und Cabot kehrte wieder um, begleitet von
Diego García, mit dem er sich auf dem Paraná getroffen hatte. In Sancti Spiritus, wo
sie Ende April 1828 anlangten, kam es bald zwischen beiden Führern zu Differenzen;
Cabot sandte Nachricht nach Spanien und hielt den Diego García fest, beide machten
aber schließlich doch gemeinsam eine neue Reise den Paraná und Paraguay aufwärts,
wahrscheinlich bis zur Mündung des Pilcomayo. Nach Sancti Spiritus zurückgekehrt,
fuhren sie bald weiter flußabwärts bis zu einer San Salvador genannten Stelle,
während [18]ihrer Abwesenheit wurde aber das Fort von den Indianern gestürmt
(Ende August oder Anfang September 1529) und die Hälfte der Besatzung
umgebracht; die andere floh flußabwärts bis San Salvador. Cabot und García kehrten
zwar noch einmal zum zerstörten Fort zurück, warteten dann aber in San Salvador auf
Hilfe aus Spanien, und da diese ausblieb, fuhren sie Ende Dezember 1529 heim,
Silbersachen und Indianersklaven mitbringend. In dem gegen Cabot eingeleiteten
Verfahren wurden dann die oben skizzierten Vorgänge klar gestellt.
Das Fort Buena
Esperanza (1536).
Die Expedition des Portugiesen Martim Affonso de Sousa hatte den Zweck, Gold
und Silber zu holen aus dem Lande, von dem nun nach Cabots Rückkehr die ganze
iberische Halbinsel sprach. Er fuhr die ganze brasilianische Küste herab und hielt sich
Ende 1531 auch im La Plata-Becken auf, hatte aber mit Unfällen zu kämpfen und
kehrte wieder nach Portugal zurück. Sein unberechtigtes Eingreifen in spanisches
Gebiet hatte diplomatische Reklamationen zur Folge.
IV.
Die Nachrichten von dem Reichtume der neuen Länder, von denen wir schon
gesprochen haben, neu geschürt durch die Heimkehr des goldbeladenen Pizarro aus
Perú, veranlaßten eine Menge Projekte am spanischen Hofe. Schließlich erhält Don
Pedro de Mendoza den offiziellen Auftrag, »ir á conquistar y poblar las tierras y
provincias que hay en el río de Solís, que llaman de la Plata, y por allí calar y pasar la
tierra hasta llegar á la Mar del Sur« (»auszuziehen, um die Länder und Provinzen am
Río de Solís, der Silberstrom genannt wird, zu erobern und [19]zu kolonisieren, und
daselbst einzudringen und über Land zur Südsee zu gelangen«). Wenn also auch zum
ersten Male von Kolonisieren die Rede ist, so war für Mendoza die Haupttriebsfeder
sicher der Gedanke, zur Sierra de la Plata zu gelangen, und so versteht sich seine
großartige Expedition, welche für die spätere Geschichte der »Silberländer« oder »La
Plata-Staaten« von fundamentaler Bedeutung werden sollte; man kann sagen, daß sie
damit eigentlich anhebt (siehe P. Larrouy).
Riesenschlange
von 25 Fuß Länge am Paraná (1539).
Über diese so wichtige Expedition sind wir vorzüglich unterrichtet durch einen
deutschen Landsknecht U l r i c h S c h m i d e l aus Straubing, welcher mit dabei
gewesen war und nach glücklicher Heimkehr alles sorgfältig zu Papier brachte sine ira
et studio; sein Werk bildet so die unparteiische Darstellung jener hochwichtigen
Vorgänge, von welcher aus die persönlich gefärbten Berichte der [20]einzelnen
Heerführer richtig beurteilt werden können. Ulrich Schmidel ist daher »der erste
Geschichtschreiber des Rio de la Plata«; niemand Geringerer als Don Bartolomé
Mitre hat in einem prächtigen Werke seine Verdienste hervorgehoben, und sämtliche
argentinischen Geschichtsschreiber nehmen sein Buch als Grundlage ihrer
Schilderung der ältesten geschichtlichen Ereignisse auf heut argentinischem Boden.
Doch davon noch zum Schlusse dieser Zeilen. Geben wir das Wort zunächst
Mondschein, der uns über die Persönlichkeit des Mannes im Jahre 1881 unterrichtet
hat.
Die Carios in
Paraguay (1539).
»Ulrich Schmidel stammte aus einer hochangesehenen Patrizierfamilie Straubings,
die mit dem ältesten Ratsgeschlechte der Stadt, den Zellern, vielfach verschwägert
war. Ein Schmidel erscheint zuerst nach einer allerdings nicht verbürgten Angabe
anno 1364, in welchem Jahre ein Peter Schmidel gestorben sein soll. Von [21]der
Mitte des 15. Jahrhunderts begegnen uns Mitglieder der Familie häufig als
Lehenträger der Azlburg bei Straubing, sowie in den höchsten gemeindlichen,
herzoglichen und bischöflich-augsburgischen Ämtern, als Zechverweser, fürstlicher
Rat, Zollner, Symonkastner. Die Familie lieferte der Stadt nachweisbar von 1449–
1535 nicht weniger als 15 Stadtkämmerer oder Bürgermeister. Durch den stets
geldbedürftigen Kaiser Friedrich III. erhielt sie ein Wappen verliehen, einen nach
links gewendeten schwarzen Stierrumpf im weißen Felde, eine Krone um die Hörner.
1506 befand sich Wolfgang Schmidel als Bürgermeister der Stadt mit unter den
Abgeordneten, welche zum Vergleiche am Schlusse des Landshuter Erbfolgestreites
in diese Stadt zusammenberufen worden waren. Über die späteren Schicksale der
Familie ist wenig bekannt. Ein Joh. Georg Joseph Schmidel in Straubing wird durch
Kaiserliche Ernennung [22]vom 12. August 1696 geadelt, in Bayern bestätigt und
»von« bewilligt am 26. Mai 1698. Ein Zusammenhang mit dem alten Ratsgeschlechte
war nicht nachzuweisen, vielmehr scheint nach dem bisherigen Stande der Kenntnis