LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động": http://123doc.vn/document/550002-phap-lenh-thu-tuc-giai-quyet-cac-tranh-chap-lao-dong.htm
ký toà án, người giám định, người phiên dịch;
D) Trong một hội đồng xét xử mà Thẩm phán, Hội thẩm là người thân thích với
nhau;
Đ) Có căn cứ cho thấy Thẩm phán, Hội thẩm không vô tư trong khi xét xử.
2- Kiểm sát viên, Thư ký toà án phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi
nếu:
A) Đã tham gia tố tụng cùng một vụ án ở cấp xét xử khác;
B) Có căn cứ quy định tại các điểm a và đ khoản 1 Điều này.
3- Người giám định, người phiên dịch phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay
đổi nếu có căn cứ quy định tại các điểm a và đ khoản 1 Điều này.
Điều 18. Trình tự và thẩm quyền thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát
viên, Thư ký toà án, người giám định, người phiên dịch
1- Trước khi mở phiên toà, việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký toà án,
người giám định, người phiên dịch do Chánh án toà án quyết định. Việc thay đổi Kiểm
sát viên do Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định; nếu Kiểm sát viên bị thay đổi là
Viện trưởng Viện kiểm sát thì Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp quyết định.
2- Tại phiên toà, việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký toà án, người giám
định, người phiên dịch do Hội đồng xét xử quyết định sau khi nghe ý kiến của người bị
yêu cầu thay đổi. Trong trường hợp không có người thay thế ngay, Hội đồng xét xử
quyết định hoãn phiên toà.
Nếu tại phiên toà có đề nghị thay đổi Kiểm sát viên mà Hội đồng xét xử thấy lý
do của việc đề nghị thay đổi là chính đáng thì ra quyết định hoãn phiên toà.
Trong thời hạn ba ngày kể từ ngày hoàn phiên toà, Chánh án Toà án, Viện
trưởng Viện kiểm sát cử người khác thay thế.
CHƯƠNG IV
NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG
Điều 19. Các đương sự
1- Người lao động, tập thể lao động, người sử dụng lao động tham gia tố tụng với
tư cách là nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
2- Đương sự là cá nhân có thể tự mình hoặc uỷ quyền bằng văn bản cho người
khác thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình trong quá trình giải quyết vụ án
lao động.
3- Đương sự là tập thể lao động thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng thông qua đại
diện Ban chấp hành công đoàn cơ sở.
4- Người sử dụng lao động là tổ chức thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng thông
qua người đại diện theo pháp luật hoặc theo uỷ quyền.
5- Trong trường hợp công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở khởi kiện thì phải
cung cấp tài liệu, chứng cứ và có quyền, nghĩa vụ tố tụng như nguyên đơn; Ban chấp
hành công đoàn cơ sở của tập thể lao động có lợi ích cần được bảo vệ phải tham gia tố
tụng với tư cách là nguyên đơn.
5
Điều 20. Quyền, nghĩa vụ tố tụng của các đương sự
1- Nguyên đơn có quyền thay đổi yêu cầu của mình. Bị đơn có quyền phản bác
yêu cầu của nguyên đơn hoặc đề đạt yêu cầu có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có thể yêu cầu độc lập hoặc cùng tham gia tố
tụng với bên đương sự khác.
2- Các đương sự có quyền:
A) Đưa ra tài liệu, chứng cứ; được đọc, sao chép và xem các tài liệu, chứng cứ
do bên đương sự khác cung cấp;
B) Yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
C) Tham gia phiên toà;
D) Yêu cầu thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Thư ký toà án, người
giám định, người phiên dịch nếu có một trong những lý do quy định tại Điều 17 của
Pháp lệnh này;
Đ) Hoà giải với nhau;
E) Tranh luận tại phiên toà;
G) Kháng cáo bản án, quyết định của Toà án;
H) Yêu cầu người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định của Toà án theo
trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm.
3- Các đương sự có nghĩa vụ:
A) Cung cấp đầy đủ, kịp thời các tài liệu, chứng từ có liên quan theo yêu cầu của
Toà án;
B) Phải có mặt theo giấy triệu tập của Toà án. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ
đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng thì có thể bị Toà án phạt
tiền từ năm mươi nghìn đồng đến một trăm nghìn đồng;
C) Chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên toà.
Điều 21. Năng lực hành vi về tố tụng của đương sự
1- Người lao động từ đủ 18 tuổi trở lên có quyền tự mình thực hiện quyền, nghĩa
vụ của đương sự trong tố tụng.
2- Trẻ em chưa đủ 15 tuổi thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng
thông qua người đại diện. Ngươi lao động từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể tự
mình tham gia tố tụng, nhưng khi cần thiết, Toà án triệu tập người đại diện của họ
tham gia tố tụng.
3- Nếu đương sự là người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần mà không
thể tham gia tố tụng được thì phải có người đại diện của họ tham gia tố tụng.
4- Trong trường hợp không có người đại diện cho đương sự nói tại khoản 3 Điều
này tham gia tố tụng, Toà án chỉ định một người thân thích của đương sự hoặc một
thành viên của một tổ chức xã hội làm người đại diện cho họ.
Điều 22. Người đại diện do đương sự uỷ quyền
1- Đương sự có thể uỷ quyền cho luật sư hoặc người khác đại diện cho mình
tham gia tố tụng trừ những người sau đây không được tham gia tố tụng với tư cách là
người đại diện do đương sự uỷ quyền:
6
A) Không có quốc tịch Việt Nam hoặc không cư trú ở Việt Nam, trừ trường hợp
pháp luật có quy định khác đối với đương sự là người có quốc tịch nước ngoài, người
không có quốc tịch hoặc là người Việt Nam định cư ở nước ngoài;
B) Chưa đủ 18 tuổi;
C) Bị bệnh tâm thần;
D) Đang bị khởi tố về hình sự hoặc bị kết án những chưa được xoá án;
Đ) Cán bộ toà án, kiểm sát;
E) Người giám định, người phiên dịch, người làm chứng trong vụ án;
G) Người thân thích với Thẩm phám, Hội thẩm nhân dân, Thư ký toà án, Kiểm
sát viên đang tham gia giải quyết vụ án.
2- Người được uỷ quyền thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng của đương sự trong
phạm vị được uỷ quyền.
3- Việc uỷ quyền tham gia tố tụng phải làm thành văn bản và được chứng thực
hợp pháp.
Điều 23. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
1- Đương sự tự mình hoặc có thể nhờ luật sư hoặc người khác bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của mình.
2- Một người có thể bảo vệ quyền lợi cho nhiều đương sự trong cùng một vụ án,
nếu quyền lợi của những người đó không đối lập nhau.
3- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền:
A) Tham gia tố tụng từ khi khởi kiện;
B) Đề nghị thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Thư ký Toà án, người
giám định, người phiên dịch theo quy định tại các điều 17, 18 và 20 của Pháp lệnh này;
C) Cung cấp tài liệu, chứng cứ, đề đạt yêu cầu, đọc hồ sơ vụ án, sao chép những
điểm cần thiết trong hồ sơ vụ án, tham dự hoà giải, tham gia phiên toà.
4- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có nghĩa vụ sử dụng
các quyền tố tụng theo quy định của pháp luật để góp phần làm sáng tổ sự thật của vụ
án.
Điều 24. Người làm chứng
1- Người biết được những tình tiết liên quan đến vụ án lao động có thể tự mình
hoặc được Toà án, Viện kiểm sát triệu tập đến làm chứng.
2- Người làm chứng phải có mặt theo giấy triệu tập của Toà án, Viện kiểm sát,
có nghĩa vụ trình bày trung thực tất cả những gì mình biết về vụ án và phải chịu trách
nhiệm về lời trình bày của mình.
3- Người yêu cầu Toà án triệu tập người làm chứng phải nộp tiền tạm ứng chi
phí cho người làm chứng. Người thưa kiện phải chịu chi phí cho người làm chứng, nếu
việc làm chứng có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án.
Điều 25. Người giám định
1- Khi cần thiết, Toà án, viện kiểm sát tự mình hoặc theo yêu cầu của đương sự
trưng cầu giám định. Người giám định phải có mặt theo giấy triệu tập của Toà án, Viện
kiểm sát.
7
2- Người giám định có quyền tìm hiểu tài liệu của vụ án liên quan đến đối tượng
phải giám định.
Người giám định có nghĩa vụ giám định một cách khách quan, trung thực đối
tượng được yêu cầu giám định.
3- Chi phí giám định liên quan đến tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp gây ra
cho người lao động do người sử dụng lao động chịu. Trong các trường hợp khác, người
thua kiện phải chịu chi phí giám định nếu kết quả giám định có ý nghĩa cho việc giải
quyết vụ án; nếu kết quả giám định không có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án thì
người yêu cầu trưng cầu giám định hoặc Toà án, Viện kiểm sát tự mình trưng cầu giám
định phải chịu chi phí giám định.
Điều 26. Người phiên dịch.
1- Trong trường hợp có người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt
thì Toà án có trách nhiệm cử trách nhiệm cử người phiên dịch.
2- Người phiên dịch phải có mặt theo giấy triệu tập của Toà án và phiên dịch
trung thực.
3- Người thua kiện phải chịu chi phí phiên dịch.
Điều 27. Kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng
1- Nếu đương sự là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ về tài sản của người đó
có người thừa kế thì người thừa kế thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng.
2- Nếu người sử dụng lao động là tổ chức trong trường hợp sáp nhập, phân chia
doanh nghiệp, chuyển quyền sở hữu, quyền quản lý hoặc quyền sử dụng tài sản của
doanh nghiệp thì người kế thừa quyền, nghĩa vụ của tổ chức đó thực hiện quyền, nghĩa
vụ tố tụng của tổ chức cũ.
3- Việc kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng có thể được Toà án chấp nhận ở bất cứ
giai đoạn nào trong quá trình giải quyết vụ án lao động.
Điều 28. Tham gia tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân
Trong quá trình giải quyết vụ án lao động, Viện kiểm sát có quyền tham gia tố
tụng ở bất cứ giai đoạn nào khi xét thấy cần thiết.
Đối với những vi phạm pháp luật liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của
người lao động là người chưa thành niên, người tàn tật và các vi phạm pháp luật
nghiêm trọng khác, nếu không có ai khởi kiện thì Viện kiểm sát có quyền khởi tố.
CHƯƠNG V
ÁN PHÍ
Điều 29. Án phí
Các đương sự phải chịu án phí tuỳ theo loại vụ án và trên cơ sở lợi ích, mức độ
lỗi của họ trong quan hệ pháp luật mà Toà án giải quyết.
Chính phủ phối hợp với Toà án nhân dân tối cao quy định về án phí.
Điều 30. Người phải nộp tiền tạm ứng án phí; người phải chịu án phí
1- Nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan có yêu cầu độc lập phải nộp tiền tạm ứng án phí và chịu án phí, trừ các
trường hợp quy định tại Điều 31 của Pháp lệnh này.
8
2- Người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc
thẩm trong thời hạn kháng cáo; nếu trong thời hạn đó mà không nộp tiền tạm ứng án
phí phúc thẩm thì coi như không kháng cáo, trừ trường hợp được miễn nộp một phần
hoặc toàn bộ tiền tạm ứng án phí.
3- Trong trường hợp rút đơn kiện trước khi mở phiên toà thì nguyên đơn được
trả lại 50% số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Trong trường hợp hoà giải thành trước khi
mở phiên toà thì các đương sự phải nộp 50% mức án phí sơ thẩm. Các đương sự thoả
thuận với nhau về mức án phí mà mỗi bên phải chịu; nếu họ không thoả thuận được thì
Toà án quyết định. Trong trường hợp các đương sự hoà giải thành tại phiên toà thì mỗi
bên đương sự chịu một nửa mức án phí sơ thẩm.
4- Nếu việc giải quyết vụ án bị tạm đình chỉ thì án phí được quyết định khi vụ án
được tiếp tục giải quyết. Nếu việc giải quyết vụ án bị đình chỉ theo quy định tại các
điểm a, c, d và đ khoản 1 Điều 41 của Pháp lệnh này thì số tiền tạm ứng án phí được
nộp vào ngân sách Nhà nước.
5- Các đương sự phải chịu án phí sơ thẩm khi yêu cầu không được Toà án chấp
nhận; phải nộp án phí phúc thẩm nếu Toà án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án, quyết
định sơ thẩm.
6- Người đã nộp tiền tạm ứng án phí được hoàn trả lại phần chênh lệch, nếu theo
quyết định của Toà án họ phải chịu mức án phí ít hơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp;
được trả lại toàn bộ trong trường hợp Toà án quyết định họ không phải chịu án phí.
Điều 31. Miễn nộp tiền tạm ứng án phí, miễn án phí
1- Các đương sự sau đây được miễn nộp tiền tạm ứng, được miễn án phí:
A) Người lao động đòi tiền lương, bảo hiểm xã hội, tiền bồi thường tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp;
B) Người lao động đòi bồi thường thiệt hại hoặc khởi kiện vì bị sa thải, chấm dứt
hợp đồng lao động trái pháp luật;
C) Ban chấp hành công đoàn cơ sở khởi kiện vì lợi ích của tập thể lao động.
2- Công đoàn cơ sở, công đoàn cấp tỉnh, công đoàn ngành khởi kiện hoặc kháng
cáo không phải nộp tiền tạm ứng án phí, không phải chịu án phí sơ thẩm và án phí
phúc thẩm.
Viện kiểm sát khởi tố, kháng nghị không phải nộp tiền tạm ứng án phí, không
phải chịu án phí sơ thẩm, án phí phúc thẩm.
3- Đương sự là người lao động không thuộc các trường hợp theo khoản 1 Điều
này nếu có khó khăn về kinh tế được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận,
thì có thể được Toà án cho miễn nộp một phần hoặc toàn bộ tiền tạm ứng án phí và án
phí.
CHƯƠNG VI
KHỞI KIỆN, THỤ LÝ VỤ ÁN
Điều 32. Khởi kiện vụ án
1- Người khởi kiện phải làm đơn yêu cầu Toà án cấp có thẩm quyền giải quyết
trong các thời hạn sau đây:
A) Một năm kể từ ngày phát sinh tranh chấp hoặc sáu tháng kể từ ngày Hội đồng
hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên của cơ quan lao động cấp huyện hoà giải
9
không thành đối với các tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải,
đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc về bồi thường thiệt hại cho người sử
dụng lao động; b) Sáu tháng kể từ ngày Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải
viên của cơ quan lao động cấp huyện hoà giải không thành đối với các tranh chấp lao
động cá nhân khác;
C) Ba tháng kể từ ngày có quyết định về tranh chấp lao động tập thể của Hội
đồng trọng tài lao động cấp tỉnh mà tập thể lao động, người sử dụng lao động không
đồng ý với quyết định đó.
2- Đơn kiện phải ghi rõ:
A) Ngày, tháng, năm làm đơn;
B) Toà án được yêu cầu giải quyết vụ án;
C) Họ, tên của nguyên đơn, bị đơn;
D) Địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn; nếu không rõ địa chỉ của bị đơn thì ghi địa
chỉ nơi làm việc hoặc nơi cư trú cuối cùng hoặc nơi có trụ sở của bị đơn;
Đ) Nội dung tranh chấp, giá trị tranh chấp nếu có;
E) Quá trình thương lượng, hoà giải, quyết định của Hội đồng trọng tài lao động
cấp tỉnh (nếu có);
G) Các yêu cầu đề nghị Toà án giải quyết.
3- Đơn kiện phải do nguyên đơn hoặc người đại diện của nguyên đơn ký. Kèm
theo đơn kiện phải có các tài liệu chứng minh yêu cầu của nguyên đơn.
4- Hội đồng hoà giải lao động cơ sở, hoà giải viên của cơ quan lao động cấp
huyện, Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh có trách nhiệm gửi cho Toà án hồ sơ kèm
theo biên ban hoà giải không thành hoặc quyết định về việc giải quyết tranh chấp lao
động.
Điều 33. Quyền thay đổi yêu cầu của người khởi kiện
1- Người đã khởi kiện có quyền thay đổi yêu cầu đã nêu trong đơn kiện trước khi
Toà án mở phiên toà.
2- Tại phiên toà, việc thay đổi yêu cầu chỉ được chấp nhận nếu không phải hoãn
phiên toà để xác minh thêm, hoặc các đương sự thoả thuận được với nhau về việc thay
đổi đó.
Điều 34. Trả lại đơn kiện
Toà án trả lại đơn kiện trong những trường hợp sau đây:
A) Người nộp đơn không có quyền khởi kiện;
B) Đơn kiện làm không đúng quy định tại khoản 2 Điều 32 của Pháp lệnh này;
C) Thời hiệu khởi kiện đã hết;
D) Sự việc chưa được Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên của
cơ quan lao động cấp huyện hoặc Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh giải quyết
trước, trừ những việc không nhất thiết phải qua hoà giải tại cơ sở.
Đ) Sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp
luật của Toà án hoặc bằng quyết định của cơ quan có thẩm quyền khác;
E) Sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.
10
Điều 35. Thụ lý vụ án
1- Khi Toà án xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền của mình thì thông báo ngay cho
nguyên đơn biết. Trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày nộp đơn, nguyên đơn phải nộp
tiền tạm ứng án phí, trừ trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí.
2- Toà án thụ lý vụ án kể từ ngày nguyên đơn xuất trình biên lai nộp tiền tạm
ứng án phí. Trong trường hợp người khởi kiện được miễn nộp tiền tạm ứng án phí thì
ngày Toà án thụ lý vụ án được tính kể từ ngày nhận được đơn kiện.
CHƯƠNG VII
CHUẨN BỊ XÉT XỬ
Điều 36. Thời hạn chuẩn bị xét xử
1- Trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày thụ lý vụ án, Toà án phải thông báo cho bị
đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết nội dụng đơn kiện.
Trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày nhận được thông báo, bị đơn và người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải gửi cho Toà án ý kiến của mình bằng văn bản về
đơn kiện và các tài liệu khác có liên quan đến việc giải quyết vụ án; hết thời hạn này
mà không nhận được ý kiến bằng văn bản thì Toà án tiếp tục giải quyết vụ án.
2- Trong thời hạn ba mươi ngày kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán được phân
công Chủ toạ phiên toà phải ra một trong các quyết định sau đây:
A) Đưa vụ án ra xét xử;
B) Tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án;
C) Đình chỉ việc giải quyết vụ án.
Đối với các vụ tranh chấp lao động tập thể phức tạp, thời hạn nói tại khoản này
cũng không quá bốn mươi ngày.
3- Trong thời hạn mười ngày kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà
án phải mở phiên toà; trong trường hợp có lý do chính đáng, thời hạn đó không quá
mười lăm ngày.
4- Ngay sau khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà án phải gửi hồ sơ vụ án
cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu trong thời hạn năm ngày, trong trường hợp
Viện kiểm sát khởi tố hoặc có yêu cầu tham gia phiên toà.
Điều 37. Xác minh, thu thập chứng cứ
1- Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, nếu xét thấy cần thiết, Toà án có thể tự mình
hoặc uỷ thác cho Toà án khác tiền hành xác minh, thu nhập chứng cứ để làm rõ các
tình tiết của vụ án. Toà án được uỷ thác có nhiệm vụ thực hiện ngay việc uỷ thác và
thông báo kết quả cho Toà án đã uỷ thác.
2- Việc xác minh, thu nhập chứng cứ bao gồm:
A) Yêu cầu các đương sự cung cấp, bổ sung chứng cứ hoặc trình bày về những
vấn đề cần thiết;
B) Yêu cầu các bên tranh chấp lao động, cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân hữu
quan cung cấp chứng cứ có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án;
11
C) Yêu cầu người làm chứng trình bày về những vấn đề cần thiết;
D) Xác minh tại chỗ;
Đ) Trưng cầu giám định;
E) Lập hội đồng định giá hoặc yêu cầu cơ quan chuyên môn định giá tài sản khi
cần thiết.
Điều 38. Hoà giải
1- Trước khi quyết định mở phiên toà, Toà án tiến hành hoà giải để các đương sự
có thể thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.
Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc đại diện được
uỷ quyền của họ phải có mặt khi Toà án hoà giải. Nếu nguyên đơn đã được triệu tập
hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng thì Toà án ra quyết
định đình chỉ việc giải quyết vụ án. Nếu nguyên đơn có văn bản yêu cầu không tiến
hành hoà giải hoặc đương sự không phải là nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến
lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng thì Toà án lập biên bản về việc
hoà giải không thành và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.
2- Nếu qua việc hoà giải các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải
quyết vụ án thì Toà án lập biên bản hoà giải thành và ra quyết định công nhận sự thoả
thuận của các đương sự; quyết định này có hiệu lực pháp luật.
Trong trường hợp các đương sự không thể thoả thuận được với nhau thì Toà án
lập biên bản hoà không thành và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Điều 39. Quyết định đưa vụ án ra xét xử
Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải có các nội dung sau đây:
1- Ngày, tháng, năm, địa điểm mở phiên toà;
2- Việc xét xử được tiến hành công khai hoặc kín;
3- Họ, tên của các đương sự, những người được tham gia tố tụng khác;
4- Nội dung tranh chấp;
5- Họ, tên của Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký phiên toà; họ, tên của Kiểm sát
viên tham gia phiên toà (nếu có).
Điều 40. Tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án
1- Toà án quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án trong các trường hợp sau
đây:
A) Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết, tổ chức đã giải thể mà chưa có cá
nhân, tổ chức kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng;
B) Đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử mà một trong các đương sự không thể có mặt
vì lý do chính đáng;
C) Chưa tìm được địa chỉ của bị đơn;
D) Cần đợi kết quả giải quyết vụ án hình sự, vụ án dân sự, vụ án kinh tế, vụ án
hành chính hoặc vụ án lao động khác có liên quan;
Đ) Đã có Toà án thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp mà doanh
nghiệp đó là đương sự của vụ án;
12
E) Đã có quyết định sát nhập, phân chia doanh nghiệp, chuyển quyền sở hữu,
quyền quản lý hoặc quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp mà chưa xác định được
người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng.
2- Toà án tiếp tục giải quyết vụ án khi lý do tạm dình chỉ không còn.
3- Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án có thể bị kháng cáo, kháng nghị.
Điều 41. Đình chỉ giải quyết vụ án
1- Toà án quyết định đình chỉ giải quyết vụ án trong các trường hợp sau đây:
A) Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không
được thừa kế; tổ chức đã giải thể mà không có cá nhân, tổ chức kế thừa quyền, nghĩa
vụ tố tụng;
B) Người khởi kiện rút đơn kiện, Viện kiểm sát rút quyết định khởi tố;
C) Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không
có lý do chính đáng;
D) Thời hạn khởi kiện đã hết trước ngày Toà án thụ lý đơn khởi kiện;
Đ) Sự việc đã được giải quyết bằng văn bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực
pháp luật của Toà án hoặc của cơ quan có thẩm quyền khác;
E) Đã có quyết định của Toà án mở thủ tục giải quyết đơn yêu cầu tuyên bố phá
sản doanh nghiệp mà doanh nghiệp đó là đương sự của vụ án;
G) Sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.
2- Quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án có thể bị kháng cáo,
Kháng nghị, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.
Điều 42. Gửi các quyết định của Toà án
Khi có các quyết định quy định tại các điều 39, 40 và 41 của Pháp lệnh này, Toà
án phải gửi ngay các quyết định đó cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, các đương
sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
CHƯƠNG VII
BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI
Điều 43. Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
1- Đương sự có quyền làm đơn yêu cầu Toà án ra quyết định áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời để bảo vệ lợi ích cấp thiết của đương sự, bảo đảm việc thi hành án;
đương sự phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình, nếu có lỗi trong
việc gây ra thiệt hại thì phải bồi thường.
2- Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án tự mình hoặc theo yêu cầu bằng văn
bản của Viện kiểm sát hoặc của công đoàn theo quy định của pháp luật, thì có thể ra
quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và phải chịu trách nhiệm về quyết
định đó. Nếu do áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trái pháp luật mà gây thiệt hại
thì phải bồi thường.
Việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể được tiến hành ở bất cứ giai
đoạn nào trong quá trình giải quyết vụ án; nếu trước khi mở phiên toà thì do Thẩm
13
phán được phân công giải quyết vụ án quyết định, nếu tại phiên toà thì do Hội đồng
xét xử quyết định.
3- Yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải được Toà án xem xét trong
thời hạn ba ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, nếu chấp nhận thì Toà án phải ra ngay
quyết định. Nếu tự mình thấy cần áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Toà án có
quyền ra quyết định ngay.
4- Trong quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải ghi rõ thời hạn có
hiệu lực của quyết định nhưng không được quá thời hạn giải quyết vụ án theo quy định
của pháp luật.
Điều 44. Các biện pháp khẩn cấp tạm thời
Các biện pháp khẩn cấp tạm thời gồm có:
1- Tạm đình chỉ việc thi hành quyết định sa thải người lao động;
2- Buộc người sử dụng lao động tạm ứng: tiền lương, tiền bồi thường, trợ cấp do
tại nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động;
3- Cấm hoặc buộc đương sự, tổ chức, cá nhân khác có liên quan thực hiện những
hành vi nhất định nếu xét thấy cần thiết cho việc giải quyết vụ án lao động hoặc để bảo
đảm cho việc thi hành án.
Điều 45. Thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời
1- Biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể bị thay đổi hoặc huỷ bỏ.
2- Việc thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời, nếu trước khi mở
phiên toà do Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án quyết định, nếu tại phiên toà
do Hội đồng xét xử quyết định.
Điều 46. Thi hành, khiếu nại, kiếm nghị quyết định áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời.
1- Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được thi hành ngay mặc dù
có khiếu nại hoặc kiện nghị.
2- Các đương sự có quyền khiếu nại Viện kiểm sát, công đoàn theo quy định của
pháp luật có quyền kiếm nghị với Chánh án toà án đang giải quyết vụ án về quyết định
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Trong thời hạn ba ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiếm nghị, Chánh án toà
án đang giải quyết vụ án phải xem xét và trả lợi.
CHƯƠNG IX
PHIÊN TOÀ SƠ THẨM
Điều 47. Những người tham gia phiên toà
Phiên toà được tiến hành với sự có mặt của các đương sự hoặc người đại diện
của đương sự. Trong trường hợp Ban chấp hành công đoàn cơ sở khởi kiện thì phải có
mặt đại diện của công đoàn đó tại phiên toà. Trong trường hợp Ban chấp hành công
đoàn cơ sở không khởi kiện thì đại diện công đoàn có thể tham gia phiên toà với tư
cách là người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự là người lao động. Nếu công đoàn
cấp trên của công đoàn cơ sở khởi kiện thì đại diện công đoàn cấp trên và đại diện
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét