Thứ Sáu, 7 tháng 3, 2014

Phép biện chứng duy vật đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay ở nước ta


PHẦN MỞ ĐẦU
Mười năm nỗ lực phấn đấu, nhất là 5 năm qua, nhân dân ta đã tạo nên
những đổi mới kinh tế quan trọng. Trong khi nhịp độ tăng trưởng nhanh và
vượt mức kế hoạch thì cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch theo hướng tiến
bộ. Và một trong những nguyên nhân để tạo nên sự tăng trưởng kinh tế là
nước ta bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận
động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước.
Phát triển quan điểm kinh tế của Đại hội VI, Hội nghị lần thứ VI Ban
chấp hành Trung ương đã khẳng định phát triển kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần là một chủ trương chiến lược lâu dài trong thời kỳ quá độ lên
CNXH. Việc chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần chính là để giải
phóng sức sản xuất, động viên tối đa mọi nguồn lực bên trong và bên ngoài
để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nâng
cao hiệu quả kinh tế xã hội, cải thiện đời sống nhân dân. Không thể có các
thành tựu kinh tế như vừa qua nếu không thực hiện chính sách kinh tế
nhiều thành phần. Vì thế phát triển kinh tế nhiều thành phần, mở cửa thu
hút đầu tư trực tiếp của bên ngoài là chiến lược đúng đắn.
Chính vì tính cấp thiết và tầm quan trọng của vấn đề này đã thôi thúc
em chọn đề tài "Phép biện chứng duy vật đối với sự nghiệp đổi mới hiện
nay ở nước ta". Em xin chân thành cám ơn sự hướng dẫn tận tình của thầy
giáo đã giúp em hiểu sâu sắc đề tài và hoàn thành bài viết này.
1

Phần I
CƠ SỞ KHÁCH QUAN VÀ MỐI QUAN HỆ CỦA CÁC
thành phần kinh tế
I/ NỘI DUNG CỦA QUY LUẬT MÂU THUẪN PHÉP BIỆN CHỨNG
Quy luật mâu thuẫn là một trong ba quy luật của phép biện chứng duy
vật và là hạt nhân của phép biện chứng. Nội dung của quy luật chỉ ra cho
chúng ta thấy nguồn gốc, động lực của sự phát triển.
Quan điểm siêu hình cho rằng sự vật là một thể đồng nhất tuyệt đối,
chúng không có mâu thuẫn bên trong. Thực chất của quan điểm này là phủ
nhận mâu thuẫn là nguồn gốc, động lực của sự phát triển. Còn quan điểm
của chủ nghĩa duy vật cho rằng sự vật, hiện tượng luôn luôn có mâu thuẫn
bên trong và mâu thuẫn là hiện tượng khách quan chủ yếu bởi vì sự vật
hiện tượng của thế giới khách quan đều được tạo thành từ nhiều yếu tố,
nhiều bộ phận, nhiều quá trình khác nhau.
Các mặt đối lập là những mặt có xu hướng phát triển trái ngược nhau
nhưng chúng lại có quan hệ chặt chẽ với nhau trong một chỉnh thể duy
nhất là sự vật. Quan hệ đó thể hiện các mặt vừa thống nhất vừa tiêu diệt
nhau. Sự thống nhất giữa các mặt đối lập là sư lương tựa, rằng buộc, phụ
thuộc lẫn nhau làm tiền đề để tồn tại và phát triển cho nhau, có mặt này
mới có mặt kia. Đấu tranh giữa các mặt đối lập là sự bài trừ gạn bỏ, phủ
định lẫn nhau giữa chúng. Hai mặt đối lập cùng tồn tại trong một thể thống
nhất, chúng thường xuyên muốn tiêu diệt lẫn nhau. Đó là một tất yếu
khách quan không tách rời sự thống nhất giữa chúng.
Quan hệ giữa thống nhất và đấu tranh là hai mặt đối lập tồn tại không
tách rời nhau. Sự thống nhất giữa các mặt chỉ diễn ra trong những điều kiện
nhất định với một thời gian xác định. Bất cứ sự thống nhất nào cũng diễn
ra sự đấu tranh giữa các mặt đối lập làm cho nó luôn luôn có xu hướng
chuyển thành cái khác. Còn đấu tranh diễn ra từ khi thể thống nhất xác lập
cho đến khi nó bị phá vỡ để chuyển thành mới. Đấu tranh giữa các mặt
2

đối lập diễn ra trải qua nhiều giai đoạn với nhiều hình thức khác nhau, từ
khác biệt đến đối lập, từ đối lập đến xung đột, từ xung đột đến mâu thuẫn.
Đến đây nếu có đủ điều kiện thích hợp thì nó diễn ra sự chuyển hoá
cuối cùng giữa các mặt đối lập. Cả hai đều có sự thay đổi về chất, cùng
phát triển đến một trình độ cao hơn. Từ đó mâu thuẫn được giải quyết sự
vật mới ra đời thay thế sự vật cũ và quá trình lại tiếp tục.
Vì thế đấu tranh giữa các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực bên trong
của sự phát triển.
II. TÍNH TẤT YẾU CỦA NỀN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN
Trong thời kỳ quá độ còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế do lịch sử
để lại và còn có lợi cho sự phát triển kinh tế CNXH: Kinh tế tư bản tư
nhân, kinh tế cá thể.
Trong quá trình hình thành và phát triển nền kinh tế mới, vẫn còn bị
ảnh hưởng những khuyết tật của cơ chế cũ, cơ chế tập chung quan liêu bao
cấp đã phủ định những mâu thuẫn vốn có của nền kinh tế quá độ. Sự mâu
thuẫn giai cấp trong xã hội tuy không gay gắt nhưng cũng có những hạn
chế nhất định đối với sự phát triển của xã hội. Mâu thuẫn giai cấp là một
tất yếu, khách quan của bất kỳ một xã hội nào và mâu thuẫn chính là cơ sở
cho sự phát triển của xã hội đó. ở nước ta, bên cạnh mâu thuẫn giai cấp
còn có mâu thuẫn chế độ sở hữu. Mấy năm trước đây đã ồ ạt xoá bỏ chế
độ tư hữu, xác lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất dưới hai hình thức
sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Nước ta quá độ lên CHXN, bỏ qua chế
độ Tư bản, từ một nước xã hội vốn là thuộc địa nửa phong kiến, lực lượng
sản xuất rất thấp. Đất nước trải qua hàng chục năm chiến tranh, hậu quả để
lại còn nặng nề, kinh tế nông nghiệp kém phát triển. Bên cạnh những nước
XHCN đã đạt được những thành tựu to lớn về nhiều mặt, đã từng là chỗ
dựa cho phong trào hoà bình và cách mạng thế giới, cho việc đẩy lùi nguy
cơ chiến tranh hạt nhân, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh vì hoà
bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội vẫn còn là một nước
XHCN lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Vì thế mâu thuẫn giữa CHXH và
CNTB đang diễn ra gay gắt. Trước mắt CNTB còn có tiềm năng phát triển
3

kinh tế nhờ ứng dụng những thành tựu đổi mới khoa học công nghệ, cải
tiến phương pháp quản lý. Chính nhờ những thứ đó mà các nước tư bản
có nền đại chủ nghĩa tư bản phát triển. Các nước XHCN trong đó có Việt
Nam phải tiến hành cuộc đấu tranh rất khó khăn và phức tạp, chống nghèo
nàn lạc hậu, chống chủ nghĩa thực dân mới dưới mọi hình thức chống chủ
nghĩa thực dân mới dưới mọi hình thức chống sự can thiệp và xâm lược của
chủ nghĩa đế quốc nhằm bảo vệ độc lập và chủ quyền dân tộc. Chính sự
vận động của tất cả các mâu thuẫn đó đã dẫn tới hậu quả tất yếu phải đổi
mới nền kinh tế nước ta và một trong những thành tựu về đổi mới nền kinh
tế là bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động
theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Sự tồn tại nền kinh tế
nhiều thành phần khắc phục được tình trạng độc quyền, tạo ra động lực
cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát
triển.
III. MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ
1. Mặt thống nhất
Hiến pháp Nhà nước 1992 xác nhận sự tồn tại lâu dài của nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước theo định hướng XHCN. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần
dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân. Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VI và lần thứ VIII đã được xác định nền kinh tế
nước ta tồn taị 5 thành phần kinh tế.
Hiện nay chúng ta công nhận các thành phần kinh tế trong thời kỳ
quá độ tiến lên CNXH, xác nhận sự tồn tại lâu dài của nó hơn nữa lại tuyên
bố phát triển tất cả các thành phần kinh tế đó theo định hướng XHCN.
Đây không phải là một giáo điều sách vở mà là những kinh nghiệm rút ra
từ thực tế, những thể hiện từ những thất bại. Mục tiêu hàng đầu trong việc
phát triển các thành phần kinh tế được tóm tắt thành 3 điểm: Giải phóng
sức sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội, cải thiện đời sống của nhân
dân. Mục tiêu cũng chính đã thể hiện nhất quán từ hội nghị Trung ương lần
thứ VI khiến Đảng ta phải ban hành những chính sách để khuyến khích sản
xuất "bung ra" và cho đến nay, trong chính sách phát triển 5 thành phần
4

kinh tế chúng ta vẫn thấy cần thiết thực sự lưu ý đến các thành phần mà
trước đây gọi là phi XHCN, là đối tượng phải cải tạo ngay khi bước vào
thời kỳ xây dựng CNXH. Chính nhờ việc phát triển nền kinh tế nhiều
thành phần, công cuộc đổi mới của chúng ta đã đạt những kết quả quan
trọng. Cơ chế vận hành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định
hướng XHCN là cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp
luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ khác. Nền kinh tế nhiều thành
phần nước ta phát triển theo định hướng XHCN nhưng đều chịu sự điều tiết
thống nhất của các quy luật kinh tế khách quan đang tác động trong thời kỳ
quá độ (Nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH trong hoàn cảnh quốc tế
có những biến đổi to lớn và sâu sắc). Đó là"Kinh tế quốc doanh giữ vai trò
chủ đạo.
2. Mặt mâu thuẫn:
a. Quy luật không những chỉ ra quan hệ giữa các mặt đối lập mà còn
chỉ ra cho chúng ta thấy, nguồn gốc, đông lực của sự phát triển chính vì thế
trong sự phát triển các thành phần kinh tế nước ta hiện nay bên cạnh mặt
thống nhất còn song song phát triển theo định hướng tư bản chủ nghĩa. Mặc
dù vậy đó mới chỉ là khả năng vì thực trạng kinh tế - xã hội nước ta và
tương quan lực lượng trong bối cảnh quốc tế như hiện nay khi vận mệnh
của đất nước phát triển theo hướng XHCN "Chưa phải là một cái gì không
thể đảo ngược lại. Là quyết tâm cao kiên định chưa đủ mà phải có đường
lối sáng suốt khôn ngoan của một chính Đảng cách mạng tiên tiến giàu trí
tuệ và đặc biệt phải có bộ máy Nhà nước mạnh". Mâu thuẫn cơ bản trên
còn thể hiện giữa một bên gồm những lực lượng và khuynh hướng phát
triển theo định hướng XHCN trong tất cả các thành phần kinh tế, được sự
cổ vũ, khuyến khích hướng dẫn, bảo trợ của những lực lượng chính trị - xã
hội tiên tiến với một bên là khuynh hướng tự phát và những lực lượng và
những lực lượng gây tổn hại cho quốc tế nhân sinh. Mâu thuẫn cơ bản này
được quyết định những mâu thuẫn kinh tế - xã hội khác cả về chiều rộng và
chiều sâu, trong quá trình phát triển kinh tế nhà nước theo định hướng
XHCN. Do đặc điểm của thời kỳ quá độ tiến lên XHCN ở nước ta là phát
triển mạnh mẽ và nhanh chóng lực lượng sản xuất, khắc phục những kinh
tế lạc hậu và lỗi thời bằng cách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
5

phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản của Nhà nước để đưa nền
kinh tế nước ta đi lên CNXH. Do đó mâu thuẫn kinh tế cơ bản ẩn chứa
bên trong quá trình này là: mâu thuẫn giữa hai định hướng phát triển kinh
tế - xã hội: Định hướng XHCN và định hướng phi XHCN. Đó là mâu thuẫn
bên trong của nền kinh tế nước ta hiện nay. Hai định hướng đó song song
và thường xuyên tác động lẫn nhau tạo thành mâu thuẫn kinh tế cơ bản chi
phối quá trình phát triển nền kinh tế nước ta trong thời kỳ quá độ tiến lên
CNXH. Ngoài ra còn có một mâu thuẫn nữa tác động mạnh mẽ vào quá
trình phát triển của nền kinh tế nước ta hiện nay là mâu thuẫn của nhân dân
ta dưới sự lãnh đạo của Đảng giữ vững nền độc lập dân tộc và kiên định đi
theo con đường XHCN với các thế lực phản động trong và ngoài nước. Có
một điều có vẻ như ngược đời trong công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta
hiện nay là xây dựng CNXH bằng cách mở rộng đường cho CNTB. Nhưng
CNTB ở đây là CNTB hoạt động dưới sự quản lý của Nhà nước XHCN.
Bên trong bản thân các thành phần kinh tế còn tồn tại mâu thuẫn giữa
lợi ích các ngành trong thành phần kinh tế đó, những ngành độc quyền như
CN quốc phòng, Ngân hàng Nhà nước, Bưu chính viễn thông, không phải
là không chịu sự cạnh tranh khốc liệt của nền kinh tế thị trường. Ngành
nào c ũng muốn - kinh doanh đạt hiệu quả cao nhất. Trong nền kinh tế hiện
nay thực hiện điều đó không phải là dễ dàng. Nhưng chính sự cạnh tranh đó
đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển cao hơn với chất lượng và
số lượng sản phẩm ngày càng phong phú hơn.
Đấu tranh và phát triển là hai mặt của hiện tượng, là quan hệ nhân - quả của
một vấn đề. Có đấu tranh mới có phát triển vì vậy như bất kỳ một giá trị nào, sự
đấu tranh của các mặt đối lập tất yếu sẽ dẫn đến sự chuyển hoá giữa chúng. Trong
cơ chế thị trường mặc dù là sự cạnh tranh rất khốc liệt "Thương trường là chiến
trường" nhưng những gì còn tồn tại được và mặt hàng nào được người tiêu dùng
chấp nhận, đó chính là do sự nỗ lực đổi mới của bản thân ngành đó. Chính vì vậy
các doanh nghiệp không thể ngồi yên thụ động mà phải đổi mới, cải tiến đáp ứng
nhu cầu của thị trường, thúc đẩy tính năng động sáng tạo và sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Đó là tính ưu việt của mâu thuẫn nhưng bên cạnh đó những
mâu thuẫn này cũng đã nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội. Đó là sự coi trọng lợi ích và
đồng tiền, vì tiền họ sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn để đạt được mục đích của mình.
6

Phần II
THỰC TRẠNG - GIẢI PHÁP CỦA CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ
I. THỰC TRẠNG CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ TRONG THỜI GIAN QUA:
1. Kinh tế quốc doanh:
Dựa trên sở hữu toàn dân tư liệu sản xuất, theo số liệu thống kê đến
cuối năm 1989 cả nước có 12.080 xí nghiệp quốc doanh với vốn tương ứng
là 10 tỷ đồng USD. Trong đó công nghiệp chiếm 49,3% tổng số vốn, xây
dựng chiếm 9% tổng số vốn. Nông nghiệp chiếm 8,1% tổng số vốn lâm
nghiệp 1,2% tổng số vốn. CTVT: 14,8%; Thương nghiệp 11,6%; Các
ngành khác 5,93% tổng số vốn. Hàng năm thành phần kinh tế này tạo ra
khoảng 35 - 40% GDP và từ 22 - 30% TNQD, đóng góp vào ngân sách từ
60 - 80% số thu của ngân sách Nhà nước. Thành phần kinh tế này nắm giữ
toàn bộ công nghiệp nặng, hàng tiêu dùng chiếm tỉ trọng phần lớn.
*Hiện nay sau đổi mới cơ cấu thành phần kinh tế và cơ chế quản lý
kinh tế, tuy có tạo nên sự chuyển biến bước đầu, một số xí nghiệp đã vượt
qua khó khăn tạo nên thế ổn định để đi ra và đi lên. Song những nhân tố đó
chưa nhiều và những chuyển biến đó chưa có cơ sở vững chắc và lâu dài.
Đến 31/12/1991 đã có 500 xí nghiệp Nhà nước phá sản và ngừng hoạt
động. Việc sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước theo Nghị định 388 - HĐBT
chỉ mới được ở 10 Bộ, trong đó số doanh nghiệp hiện có là 1566, số đủ
điều kiện tồn tại là 1.096, số phải chuyển thể là 470. Về địa phương đã tiến
hành được 10 tỷ . Thành phần trong đó số doanh nghiệp hiện có 2464, số
đủ điều kiện 582, số phải chuyển thể 882, việc triển khai thí điểm cổ phần
hoá theo quyết định 202 - HĐBT chưa tiến hành được bao nhiêu, do
nhiều nguyên nhân khác nhau làm ách tắc và chậm chạp.
* Từ thực trạng nói trên. Ta có thể thấy một số đặc trưng của xí
nghiệp quốc doanh hiện nay là :
- Sau một số khó khăn tất yếu, đã có vài doanh nghiệp trụ lại, vươn lên
góp phần đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống xã hội và dân cư, dập tắt
7

những cơn sốt hàng hoá, góp phần bình ổn giá cả. Tuy vậy số doanh
nghiệp này chưa nhiều và chưa vững chắc.
- Sự tồn tại thành phần kinh tế là cần thiết nhưng còn quá nhiều với
ngân sách, chất lượng và hiệu quả rất thấp.
- Sự tăng trưởng và tồn tại hay hồi sinh của một số xí nghiệp về mặt
thực chất vẫn còn lợi dụng kẽ hở của bao cấp Nhà nước, những sơ hở của
pháp luật.
- Quen sống trong cơ chế bao cấp nên thiếu độ nhạy cảm với các
thông số biến động của thị trường.
Nhiều doanh nghiệp đã trở thành nơi để cho người lợi dụng quốc
doanh để buôn lậu, tham nhũng làm thất thoát tài sản vốn liếng của Nhà
nước.
2. Kinh tế tập thể:
Kinh tế tập thể dựa trên sở hữu tập thể về TLSX (trừ ruộng đất sở hữu
toàn dân). Đây là thành phần kinh tế tuy trình độ xã hội hoá tư liệu sản
xuất, tổ chức và quản lý sản xuất còn thấp hơn kinh tế quốc dân nhưng sản
xuất với lượng hàng hoá cung ứng cho sản xuất và tiêu dùng đời sống xã
hội. Trước biến động có tính bước ngoặt của nền kinh tế chuyển sang kinh
tế thị trường và sự sụp đổ của các nước Liên xô và đông âu cũ, kinh tế thị
trường nước ta nhìn chung bị giảm sút và biến dạng. Trong công nghiệp
số HTX 32.034 (1988) chỉ còn 9.660 (1991) m ức sản xuất năm 1991 so
với năm trước giảm 47% nên giá trị sản lượng đóng cũng giảm dần từ chỗ
chiếm 23,9% (năm 1988) giảm xuống còn 6,8% (năm 1991). Trong thương
nghiệp và dịch vụ tính đến năm 1989 toàn ngành có 21.094 điểm bán hàng
tập thể, trong đó 14.992 HTX mua bán ở phường xã. Tính đến năm 1991
hơn 75% số HTX giải thể. Số còn lại hoạt động cầm chừng. Từ chỗ toàn
ngành thương nghiệp dịch vụ chiếm 15% tổng mức bán lẻ trên t hị trường
trước năm 1996 đến năm 1991 chỉ còn chiếm 1,8%. Trong nông nghiệp sự
xuất hiện kinh tế nông hộ với tư cách là đơn vị kinh tế cơ sở, thực hiện
rộng rãi cơ chế khoán, hộ gia đình xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ, được
giao quyền sử dụng ruộng đất, bước đầu giải phóng mức sản xuất khai thác
8

tiềm năng lao động và vốn của nhân dân. Nhà nước tiếp tục đổi mới và
kiện toàn kinh tế tập thể theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ , bình đẳng
phát huy và kết hợp hài hoà sức mạnh của tập thể và của xã viên. Phát triển
các hình thức hợp tác, đa dạng và mở rộng các hình thức kinh tế tập thể
trong nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, mua bán, tín dụng (nông dân) ở
những nơi cần thiết và có điều kiện.
3. Kinh tế tư bản Nhà nước.
Hiện nay việc nhận thức thành phần kinh tế còn rất hạn hẹp và rất đơn
giản, mặc dù nó có vị trí rất quan trọng trong cơ cấu kinh tế những thành
phần ở nước ta. Thành phần kinh tế này rất phát triển, đa dạng. Nó bao gồm
các loại hình doanh nghiệp thuộc hình thức sở hữu hỗn hợp. Theo số liệu
của Tổng cục thống kê, tính đến tháng 7 năm 1992 đã có 461 dự án đầu tư
đã được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký là 3.563 triệu USD; trong
đó hình thức liên doanh là chủ yếu, phổ biến chiếm 342 dự án và chiếm
55% tổng số vốn đăng ký. Nếu tính theo địa phương và miền thì các tỉnh
phía nam chiếm 72,5% số dự án và 73,5% tổng số vốn đăng ký cả nước.
Còn số dự án đầu tư và đang có chiều hướng tăng lên, tính đến tháng 6
năm 1994 đã có 800 dự án với tổng số vốn đăng ký là 8,7 tỷ USD và dự
báo đến năm 2000 có thể đạt 20 tỷ USD. Kinh tế tư bản Nhà nước có vai
trò quan trọng trong việc vận động tiềm năng to lớn về vốn, công nghệ khả
năng quản lý của các nhà tư bản vì lợi ích của họ cũng như lợi ích của đất
nước. Nhà nước cần phát triển rộng rãi các hình thức liên doanh, nhiều
phương thức góp vốn thích hợp giữa kinh tế Nhà nước với tư bản tư nhân
trong và ngoài nước, để tạo đà cho các doanh nghiệp Việt nam phát triển,
bằng khả năng hợp tác và cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài.
4. Thành phần kinh tế tư nhân:
Trên thực tế kinh tế tư nhân ở nước ta bao gồm: Các xí nghiệp tư
nhân, hộ tư nhân và cá thể tuy nhiên việc phân loại này cả lý luận và thực
tiễn còn đang có chỗ chưa thống nhất. Nhưng mặc dù khu vực kinh tế này
mới được hồi sinh, nhưng từ năm 1989 đến nay đã phát triển nhanh và
mạnh. Ví dụ: ngành công nghiệp chiếm 27,2% (1989) đến nay gần 30%
trong tổng giá trị sản phẩm công nghiệp; tính đến năm 1991 trong thương
9

nghiệp thành phần kinh tế tư nhân có 730 nghìn hộ với 950 nghìn người
kinh doanh chuyên nghiệp và 1,2 triệu người buôn bán nhỏ. Số hộ qui mô
vừa và nhỏ chiếm đại bộ phận. Tính đến giữa tháng 8 năm 1992 đã 571 hộ
kinh doanh lớn được phép chuyển thành doanh nghiệp tư nhân với số vốn
là 114 tỷ đồng Việt Nam ; 412 hộ chuyển thành Công ty trách nhiệm hữu
hạn với số vốn 268 tỷ đồng Việt nam; 29 hộ chuyển thành công ty cổ phần
vơí số vốn 159 tỷ đồng Việt Nam. Trên thị trường xã hội, thành phần kinh
tế này đua tranh với thương nghiệp quốc doanh và tập thể nên đã chiếm
lĩnh về bán lẻ và dịch vụ tiêu dùng từ 60,8% (1989) lên 73,1% (1991).
Theo sự phân loại, kinh tế nông hộ cũng thuộc khu vực kinh tế này. Cho
đến nay có khoảng 10.402 hộ trong đó hộ sản xuất hàng hoá có mức thu
nhập từ 5 triệu đồng trở lên chiếm 22,4%; hộ tự cấp tự túc chiếm 62,8%;
hộ nghèo và quá nghèo chiếm 14,8%. Khu vực kinh tế tư nhân là thành
phần kinh tế phát triển mạnh. Cuối năm 1988 đến nửa năm 1990 kinh tế tư
bản tư nhân phát triển khá rầm rộ. Cả nước lúc đó có gần 500 xí nghiệp và
công ty tư doanh. Thành phố Hồ Chí Minh có 235 doanh nghiệp tư nhân
với số vốn đầu tư mỗi đơn vị từ 100 triệu đồng trở lên. Đến tháng 7 năm
1992 sau hơn 1 năm ban hành luật doanh nghiệp tư nhân cả nước có 785
xí nghiệp tư nhân với tổng số vốn đăng ký 424 tỷ đồng. Nhìn chung hiện
nay khu vực kinh tế tư nhân hoạt động còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là
về vốn, nguyên liệu, thị trường và qui chế. Hiện nay thành phố có trên 40%
doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn về vốn; 8% gặp khó khăn về nguyên
liệu; 7% về thị trường và 4% về qui chế. Các số liệu tương ứng ở nông
thôn là 44%; 4%.
5. Kinh tế cá thể tiểu chủ:
Thành phần kinh tế này có thể kinh doanh như các tác nhân kinh tế
độc lập (như khái niệm "hộ gia đình" trong nền kinh tế thị trường) nhưng
cũng có thể là các vệ tinh cho doanh nghiệp Nhà nước hay HTX, ở đây
chúng ta thấy chính các thành phần kinh tế cũng đan xen với nhau: Về
bản chất là kinh tế cá thể, tiểu chủ, nhưng biểu hiện ra có thể là các cơ sở
gia công cho doanh nghiệp hoặc các HTX. Kinh tế cá thể được khuyến
khíchphát triển trong các ngành ở cả thành thị và nông thôn không bị hạn
chế việc mở rộng kinh doanh, có thể tồn tại độc lập, tham gia các loại hình
10

HTX, liên kết với các doanh nghiệp lớn bằng nhiều hình thức. Thành phần
kinh tế này dựa trên hình thức sở hữu cá nhân về tư liệu sản xuất và lao
động trực tiếp của bản thân người lao động . Kinh tế cá thể có đặc điểm
kỹ thuật thủ công, năng suất lao động thấp, sản xuất nhỏ phân tán nhưng
khi có chính sách kinh tế đúng kinh tế cá thể có khả năng đóng góp nhiều
cho lợi ích xã hội như tiền vốn, sức lao động, kinh nghiệm truyền thống.
Tuy nhà nước cũng cần có những biện pháp quản lý thị trường chặt chẽ
để hạn chế và khắc phục tính tự phát của nó.
II. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ TRIỂN VỌNG:
Để thực hiện có hiệu quả các mục tiêu chiến lược kinh tế đến năm
2000, cơ cấu kinh tế trong những năm 90 phải chuyển dịch rõ ràng. Và
một trong những phương hướng chuyển dịch đó là phải sắp xếp lại và đổi
mới quản lý để đảm bảo sự phát triển có hiệu quả của kinh tế quốc doanh,
kinh tế tập thể, khuyến khích mọi loại hình kinh doanh mang lại hiệu quả
kinh tế - xã hội cao, tạo môi trường hợp tác và cạnh tranh bình đẳng giữa
các đơn vị kinh tế.
Để phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, thiết lập từng
bước quan hệ sản xuất XHCN từ thấp đến cao với sự đa dạng về hình thức
sở hữu. Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng
XHCN, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước kinh
tế quốc doanh và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng của nền kinh
tế quốc dân. Thực hiện nhiều hình thức phân phối lấy phân phối theo kết
quả lao động và hiệu quả kinh tế lao động là chủ yếu.
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII. Đảng ta đã khảng định: Xây
dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị
trường, đi đôi với tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước theo định
hướng XHCN. Tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng
xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường
sinh thái. Cần tăng cường hiệu lực quản lý vĩ mô của Nhà nước khai thác
mặt tích cực và khắc phục, ngăn ngừa hạn chế những tác động tiêu cực
của cơ chế thị trường. Bảo đảm bình đẳng về quyền và nghĩa vụ từ pháp
luật của mọi doanh nghiệp, cá nhân, không phân biệt thành phần kinh tế.
11

KẾT LUẬN
Trên đây là những khái quát sơ bộ nhất về quan hệ năm thành phần
kinh tế nước ta hiện nay. Để thực hiện mục tiêu tổng quát của chiến lược
phát triển kinh tế năm 2000: ổn định tình hình kinh tế xã hội, phấn đấu
vượt qua tình trạng nước nghèo kém phát triển, cải thiện đời sống nhân
dân củng cố quốc phòng và an ninh, và tạo điều kiện cho đất nước phát
triển nhanh hơn vào đầu thế kỷ 21, thì việc xác định đúng quan hệ và có
chính sách phù hợp với năm thành phần kinh tế là một nhiệm vụ cấp bách
và rất cần thiết của Đảng và Nhà nước ta trong những năm này.
Với sự hiểu biết còn hạn chế và trình độ có hạn nên trong bài viết của
em còn rất nhiều thiếu sót, em rất mong được sự quan tâm chỉ bảo của thầy
giáo. Em xin chân thành cảm ơn !

12

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét