LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "hoàn thiện chiến lược sản phẩm nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho siêu thị v mart": http://123doc.vn/document/1042006-hoan-thien-chien-luoc-san-pham-nham-nang-cao-nang-luc-canh-tranh-cho-sieu-thi-v-mart.htm
Sơ đồ tổ chức của công ty TNHH Đầu Tư Thương Mại Việt Thành :
5 | P a g e
Manichanh Mienmany
MTSV: CQ484194
GVHD: TS. Cao Tiến Cường
6 | P a g e
Manichanh Mienmany
MTSV: CQ484194
Chủ tịch HĐTV Giám
Đốc
GĐ điều hành KD
Phòng kế toán
Phòng kinh doanh siêu thị
Phòng kinh doanh bán buôn
Siêu thị
Vmart
Thành
Công
Siêu thị
Vmart
Khương
Trung
Hệ thống
siêu thị,
đại lý trên
toàn quốc
GVHD: TS. Cao Tiến Cường
1.2 Định hướng phát triển của công ty TNHH Đầu Từ Thương Mại Việt
Thành
Ngay từ ban đầu công ty đã xác địn hướng ngành nghề chính là kinh doanh hệ
thống siêu thị bán lẻ và phân phối hàng tiêu dùng, một lĩnh vực đầy khó khăn
nhưng theo nhận định cùng đầy tiềm năng phát triển. Năm 2006 công ty có một
siêu thị tại 104 H4 Thành Công, Ba Đình, Hà Nội với doanh số ít ỏi hơn 2 tỷ đồng.
Năm 2007 Công ty thành lập trung tâm bán buôn tại Thành Phố Thanh Hóa có VP
tài 410 Trần Phú TP Hà Nội. Năm 2008 thành lập siêu thị Vmart Khương Trung tài
59 phố Khương Trung.
Doanh số dự kiến năm 2008 khoảng 24 tỷ đồng. Lợi nhuận trước thuế ước tính đạt
khoảng 6% doanh sô.
1.3 Đối tác
Chỉ 3 năm xây dựng và phát triển Công Ty TNHH Đầu tư Thương mại Việt Thành
với sự sáng tạo năng động, nỗ lực của toàn thể cán bộ CN viên, công ty đã và đang
phát triển về mọi mặt được các khách hàng tín nhiệm và được xã hội thừa nhận.
Đối tác đầu vào của công ty là đại đa số các doanh nghiệp sản xuất trong và ngoài
nước, các nhà phân phối độc quyền tại Việt Nam trong đó có những khách hàng
lớn như: Unilever Việt Nam, Tập đoàn Phú Thái, Công ty TNHH một thành viện
kỹ nghệ súc sản Vissan, Công ty Kinh Đô, Công ty Cp Đồ Hộp Hạ Long, công ty
LD TNHH Hải Hà – Kotobuki…
7 | P a g e
Manichanh Mienmany
MTSV: CQ484194
GVHD: TS. Cao Tiến Cường
Trong lĩnh vực phân phối công ty đã hợp tác với hầu hết các hệ thống siêu thị tại
Hà Nội và một số tỉnh miền bắc như: Tràng Tiền Plazza, Tổng công ty TM Hà Nội
Hapro, Siêu thị Tây Đô, Vinaconex Thanh hóa…
Đặc biệt vừa qua công ty đã ký kết hợp đồng phân phối độc quyền sản phẩm
Kodomo baby của tập đoàn Lion Nhật Bản được nhập khẩu bởi công ty TNHH
Công Nghệ Trí Việt.
1.4 Kế hoạch mục tiêu
Với những giá trị cơ bản, triết lý kinh doanh và những nguyên tắc trong định
hướng cùng sự hợp tác của quý khách hàng và đặc biệt là tinh thần trách nhiệm,
nhiệt tình, sáng tạo lao động không mệt mỏi của đội ngũ cán bộ công nhân viên
trong những năm tới của công ty TNHH Đầu tư Thương mại Việt Thành sẽ xây
dựng một hệ thống bán lẻ ổn định, tạo chỗ đứng trên thị trường không ngừng hợp
tác và sáng tạo xây dựng giá trị của mình được xã hội thừa nhận đạt tốc độ tăng
trưởng cao (khoảng 30% - 40% /năm). Công ty TNHH Đầu tư Thương mại Việt
Thành tin tưởng sự thực hiện thành công kế hoạch của mình trong những năm tới.
2. Các đối thủ cạnh tranh của Vmart
2.1 Sơ lược về ngành kinh doanh siêu thị tại Việt Nam
2.1.1 Khái niệm
Bên trong một siêu thị.
"Siêu thị" là từ được dịch ra từ các thuật ngữ nước ngoài - "supermarket" (tiếng
Anh) hay "supermarché" (tiếng Pháp), trong đó "super" nghĩa là "siêu" và "market"
là "thị trường" ("chợ").
Theo Quy chế Siêu thị, Trung tâm thương mại của Bộ Thương mại Việt Nam (nay
là Bộ Công Thương Việt Nam) ban hành ngày 24 tháng 9 năm 2004:
8 | P a g e
Manichanh Mienmany
MTSV: CQ484194
GVHD: TS. Cao Tiến Cường
Siêu thị là loại hình cửa hàng hiện đại; kinh doanh tồng hợp hoặc chuyên doanh;
có cơ cấu chủng loại hàng hoá phong phú, đa dạng, bảo đảm chất lượng; đáp ứng
các tiêu chẩn về diện tích kinh doanh, trang bị kỹ thuật và trình độ quản lý, tổ
chức kinh doanh; có các phương thức phục vụ văn minh, thuận tiện nhằm thoả
mãn nhu cầu mua sắm hàng hóa của khách hàng.
Trên thế giới hiện có một số khái niệm về siêu thị như sau:
Theo Philips Kotler, siêu thị là "cửa hàng tự phục vụ tương đối lớn có mức chi phí
thấp, tỷ suất lợi nhuận không cao và khối luợng hàng hóa bán ra lớn, đảm bảo
thỏa mãn đầy đủ nhu cầu của người tiêu dùng về thực phẩm, bột giặt, các chất tẩy
rửa và những mặt hàng chăm sóc nhà cửa"
Theo nhà kinh tế Marc Benoun của Pháp, siêu thị là "cửa hàng bán lẻ theo phương
thức tự phục vụ có diện tích từ 400m
2
đến 2500m
2
chủ yếu bán hàng thực phẩm"
Theo Từ điển kinh tế thị trường từ A đến Z:
"Siêu thị là cửa hàng tự phục vụ bày bán nhiều mặt hàng đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng hàng ngày của người tiêu dùng như thực phẩm, đồ uống, dụng cụ gia đình và
các loại vật dụng cần thiết khác"
Siêu thị truyền thống thường được xây dựng trên diện tích lớn, gần khu dân cư để
tiện lợi cho khách hàng và đảm bảo doanh thu.
2.1.2 Phân biệt siêu thị với chợ và trung tâm thương mại
Quy mô của siêu thị thì lớn hơn các cửa hàng tạp phẩm (hoặc chợ) và tương đối
nhỏ hơn các trung tâm thương mại.
9 | P a g e
Manichanh Mienmany
MTSV: CQ484194
GVHD: TS. Cao Tiến Cường
Theo Quy chế Siêu thị, Trung tâm thương mại, Trung tâm thương mại có quy mô
lớn hơn, không chỉ bao gồm các loại hình cửa hàng, cơ sở hoạt động dịch vụ mà
còn bao gồm cả hội trường, phòng họp, văn phòng cho thuê…được bố chí tập
trung, liên hoàn.
2.1.3 Tên gọi và biển hiệu
Tại Việt Nam, các siêu thị phải ghi bằng tiếng Việt là SIÊU THỊ trước tên thương
mại hoặc tên riêng do thương nhân tự đặt và trước các từ địa chỉ danh hay tính chất
của Siêu thị. Nếu ghi thêm bằng tiếng nước ngoài, kích cỡ chữ phải nhỏ hơn kích
cỡ tên tiếng Việt và phải đặt dưới hoặc sau tiếng Việt.
2.1.4 Các loại hình siêu thị
Hàng hóa ở đây rất đa dạng và được chọn lọc kĩ hơn so với trong chợ hay cửa hàng
tạp phẩm. Loại hình này gọi chung là siêu thị truyền thống vì ngày nay, từ "siêu
thị" còn được chỉ những nơi chỉ chuyên kinh doanh một mặt hàng, một chủng loại
hàng nào đó mà thôi. Ví dụ: siêu thị máy tính, siêu thị điện thoại di động, siêu thị
trái cây, siêu thị điện máy, siêu thị kính thuốc thậm chí còn có siêu thị việc làm
nữa. (những cách gọi này hay được dùng tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.)
2.1.5 Tiêu chuẩn Siêu thị
Theo quy định của Bộ Công Thương Việt Nam, siêu thị được phân làm 3 hạng:
Siêu thị hạng I
Ngoài các tiêu chuẩn về kiến trúc hiện đại, kho hàng, kỹ thuật bảo quản, khu vệ
sinh, khu giải trí, các siêu thị kinh doanh tổng hợp phải đảm bảo các tiêu chuẩn cơ
bản sau:
10 | P a g e
Manichanh Mienmany
MTSV: CQ484194
GVHD: TS. Cao Tiến Cường
• Có diện tích kinh doanh từ 5.000m
2
trở lên;
• Có Danh mục hàng hoá kinh doanh từ 20.000 tên hàng trở lên;
Đối với siêu thị chuyên doanh, tiêu chuẩn cơ bản là:
• Diện tích từ 1.000m
2
trở lên;
• Có Danh mục hàng hoá kinh doanh từ 2.000 tên hàng trở lên
Siêu thị hạng II
Siêu thị kinh doanh tổng hợp phải đảm bảo các tiêu chuẩn cơ bản sau:
• Có diện tích kinh doanh từ 2.000m
2
trở lên;
• Có Danh mục hàng hoá kinh doanh từ 10.000 tên hàng trở lên;
Đối với siêu thị chuyên doanh, tiêu chuẩn cơ bản là:
• Diện tích từ 500m
2
trở lên;
• Có Danh mục hàng hoá kinh doanh từ 1.000 tên hàng trở lên
Siêu thị hạng III
Siêu thị kinh doanh tổng hợp phải đảm bảo các tiêu chuẩn cơ bản sau:
• Có diện tích kinh doanh từ 500m
2
trở lên;
• Có Danh mục hàng hoá kinh doanh từ 4.000 tên hàng trở lên;
Đối với siêu thị chuyên doanh, tiêu chuẩn cơ bản là:
• Diện tích từ 500m
2
trở lên (như siêu thị tổng hợp);
• Có Danh mục hàng hoá kinh doanh từ 500 tên hàng trở lên
2.1.6 Đặc trưng của siêu thị
Theo Viện nghiên cứu Thương mại Việt Nam, siêu thị có các đặc trưng sau:
• Đóng vai trò cửa hàng bán lẻ: Siêu thị thực hiện chức năng bán lẻ - bán
hàng hóa trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ sử dụng chứ không
phải để bán lại. Đây là một kênh phân phối ở mức phát triển cao, được quy
hoạch và tổ chức kinh doanh dưới hình thức những cửa hàng quy mô, có
trang thiết bị và cơ sở vật chất hiện đại, văn minh, do thương nhân đầu tư và
quản lý, được Nhà nước cấp phép hoạt động.
• Áp dụng phương thức tự phục vụ (self-service hay libre - service): Đây là
phương thức bán hàng do siêu thị sáng tạo ra, được ứng dụng trong nhiều
11 | P a g e
Manichanh Mienmany
MTSV: CQ484194
GVHD: TS. Cao Tiến Cường
loại cửa hàng bán lẻ khác và là phương thức kinh doanh chủ yếu của xã hội
văn minh giữa phương thức tự chọn và tự phục vụ có sự phân biệt:
o Tự chọn: khách hàng sau khi chọn mua được hàng hoá sẽ đến chỗ
người bán để trả tiền hàng, tuy nhiên trong quá trình mua vẫn có sự
giúp đỡ, hướng dẫn của người bán.
o Tự phục vụ: khách hàng xem xét và chọn mua hàng, bỏ vào giỏ hoặc
xe đẩy đem đi và thanh toán tại quầy tính tiền đặt gần lối ra vào.
Người bán vắng bóng trong quá trình mua hàng.
• Phương thức thanh toán thuận tiện: Hàng hóa gắn mã vạch, mã số được
đem ra quầy tính tiền ở cửa ra vào, dùng máy quét để đọc giá, tính tiền bằng
máy và tự động in hóa đơn. Đây chính là tính chất ưu việt của siêu thị, đem
lại sự thỏa mãn cho người mua sắm Đặc điểm này được đánh giá là cuộc
đại "cách mạng" trong lĩnh vực thương mại bán lẻ.
• Sáng tạo nghệ thuật trưng bày hàng hoá: qua nghiên cứu cách thức vận
động của người mua hàng khi vào cửa hàng, người điều hành siêu thị có
cách bố trí hàng hóa thích hợp trong từng gian hàng nhằm tối đa hoá hiệu
quả của không gian bán hàng. Do người bán không có mặt tại các quầy hàng
nên hàng hóa phải có khả năng "tự quảng cáo", lôi cuốn người mua. Siêu thị
làm được điều này thông qua các nguyên tắc sắp xếp, trưng bày hàng hóa
nhiều khi được nâng lên thành những thủ thuật. Chẳng hạn, hàng có tỷ suất
lợi nhuận cao được ưu tiên xếp ở những vị trí dễ thấy nhất, được trưng bày
với diện tích lớn; những hàng hóa có liên quan đến nhau được xếp gần nhau;
hàng khuyến mại phải thu hút khách hàng bằng những kiểu trưng bày đập
vào mắt; hàng có trọng lượng lớn phải xếp ở bên dưới để khách hàng dễ lấy;
bày hàng với số lượng lớn để tạo cho khách hàng cảm giác là hàng hoá đó
được bán rất chạy
12 | P a g e
Manichanh Mienmany
MTSV: CQ484194
GVHD: TS. Cao Tiến Cường
• Hàng hóa chủ yếu là hàng tiêu dùng thường ngày như: thực phẩm, quần
áo, bột giặt, đồ gia dụng, điện tử với chủng loại rất phong phú, đa dạng.
Siêu thị thuộc hệ thống các cửa hàng kinh doanh tổng hợp, khác với các cửa
hàng chuyên doanh chỉ chuyên sâu vào một hoặc một số mặt hàng nhất định.
Theo quan niệm của nhiều nước, siêu thị phải là nơi mà người mua có thể
tìm thấy mọi thứ họ cần và với một mức giá "ngày nào cũng thấp"
(everyday-low-price). Chủng loại hàng hóa của siêu thị có thể lên tới hàng
nghìn, thậm chí hàng chục nghìn loại hàng. Thông thường, một siêu thị có
thể đáp ứng được 70-80% nhu cầu hàng hóa của người tiêu dùng về ăn uống,
trang phục, mỹ phẩm, đồ làm bếp, chất tẩy rửa, vệ sinh
Trong các đặc trưng trên, phương thức bán hàng tự phục vụ và nghệ thuật
trưng bày hàng hoá của siêu thị đã mở ra kỷ nguyên thương mại bán lẻ văn
minh hiện đại.
2.1.7 Tình hình thực tế tại Việt Nam
Do đặc trưng lịch sử phát triển kinh tế, siêu thị tại Việt Nam ra đời khá muộn. Quá
trình hình thành và phát triển của siêu thị Việt Nam qua các thời kỳ:
• Thời kỳ 1993 - 1994: Những siêu thị đầu tiên ra đời tại thành phố Hồ Chí
Minh.
• Thời kỳ 1995 - 1997: Mở rộng ra các thành phố lớn trên cả nước: Trong
thời kỳ này bắt đầu có sự xuất hiện của các siêu thị ở Hà Nội vào đầu năm
1995.
• Từ năm 1998 đến nay: Cạnh tranh, đào thải và chuyên nghiệp hơn: Do sự
xuất hiện ồ ạt, kinh doanh không bài bản, thiếu kiến thức thương nghiệp và
phải cạnh tranh với các hình thức bán lẻ truyền thống như chợ, cửa hàng,
hàng rong và cạnh tranh lẫn nhau nên rất nhiều siêu thị đó đã vỡ nợ, phá sản,
13 | P a g e
Manichanh Mienmany
MTSV: CQ484194
GVHD: TS. Cao Tiến Cường
làm ăn thua lỗ và có nguy cơ phá sản. Những siêu thị còn tồn tại và phát
triển là nhờ những nhà quản lý tỉnh táo hơn, có hướng phát triển phù hợp.
Có nhiều siêu thị (cũng như trung tâm thương mại) không đáp ứng đủ điều
kiện kinh doanh theo quy định như: diện tích kinh doanh chưa đạt mức tối
thiểu; bảo quản hàng hoá không đúng quy trình; thiếu các điều kiện cần
thiết để phục vụ khách hàng (khu vệ sinh, khu giải trí).
Năm 2008 này là lần đầu tiên Việt Nam vươn lên ngôi vị thị trường hấp dẫn
nhất thế giới, tính từ khi A.T. Kearney bắt đầu công bố GRDI năm 2001 -
(Theo SGTT)
Năm 2008 này là lần đầu tiên Việt Nam vươn lên ngôi vị thị trường hấp dẫn
nhất thế giới, tính từ khi A.T. Kearney bắt đầu công bố GRDI năm 2001 -
đánh giá về độ hấp dẫn của thị trường bán lẻ ở những nền kinh tế mới nổi -
dựa trên 25 yếu tố khác nhau, bao gồm cả rủi ro kinh tế, chính trị, mức độ
hấp dẫn cũng như bão hòa của thị trường bán lẻ.
Nhu cầu hiện đại hóa hệ thống bán lẻ ở Việt Nam
Đáng chú ý, 3 yếu tố quan trọng tạo nên sức hấp dẫn của thị trường bán lẻ Việt
Nam chính là tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt trên 8% (các năm qua), áp lực cạnh
tranh giữa các hệ thống bán lẻ chưa lớn, và Việt Nam có 65% dân số là người tiêu
dùng trẻ, mạnh tay chi tiêu. Năm 2007, Việt Nam chỉ xếp thứ 4, năm nay có sự
thay đổi là nhờ kinh tế tăng trưởng mạnh, thể chế chính sách đang cải tiến theo
hướng thân thiện với nhà đầu tư nước ngoài, và đặc biệt là nhu cầu của người tiêu
dùng về những mô hình bán lẻ hiện đại.
Năm 2007, doanh thu bán lẻ cả nước đạt trên 45 tỉ USD. Nếu tính tốc độ tăng
trưởng bình quân trên 20% như các năm qua, dự kiến doanh thu bán lẻ năm nay sẽ
đạt trên 54 tỉ USD. Để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng trong nước cũng như
đón các cơ hội kinh doanh, mục tiêu phát triển thương mại trong nước, theo đề án
14 | P a g e
Manichanh Mienmany
MTSV: CQ484194
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét