Thứ Bảy, 8 tháng 3, 2014

“Quản lý dự án đầu tư nhà hỗn hợp cao tầng ở và làm việc tại LILAMA – một số bài học kinh nghiệm và kiến nghị”

1.1.2. Nội dung phân tích, đánh giá dự án đầu tư
Nội dung chủ yếu của dự án đầu tư bao gồm các khía cạnh kinh tế vi
mô và kinh tế vĩ mô, quản lý và kĩ thuật. Các khía cạnh này ở các dự án thuộc
các ngành khác nhau đều có những nét đặc thù riêng. Nhưng nội dung chủ
yếu thường bao gồm các vấn đề sau:
• Xem xét tình hình kinh tế tổng quát có liên quan đến dự án đầu tư.
Tình hình kinh tế tổng quát được đề cập đến trong dự án bao gồm vấn đề sau:
- Điều kiện địa lý tự nhiên.
- Điều kiện về dân số và lao động.
- Tình hình chính trị, các chính sách và luật lệ có ảnh hưởng đến sự
an tâm của nhà đầu tư.
- Tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của địa phương,
tình hình sản xuất kinh doanh của ngành, của cơ sở.
- Tình hình ngoại hối (cán cân thanh toán ngoại hối, dự trữ ngoại
tệ…) đặc biệt đối với dự án phải nhập khẩu nguyên vật liệu, thiết bị.
- Tình hình ngoại thương.
• Nghiên cứu về thị trường.
Thị trường thường được xác định dựa trên cơ sở thị trường mục tiêu của dự
án. Thị trường mục tiêu được xác định bằng ba bước cơ bản:
- Phân đoạn thị trường
- Xác định thị trường mục tiêu của dự án
- Định vị sản phẩm cho dự án.
- Việc xác định cần quan tâm đến các vấn đề:
- Quy mô thị trường hiện tại
- Nguồn cung cấp hiện tại, nguồn cung cấp tương lai
- Các đối thủ cạnh tranh
- Thị phần của dự án
• Đánh giá kỹ thuật của dự án
Việc này là xem xét tính khả thi về kỹ thuật của dự án bao gồm:
5
- Dự án có huy động đủ các nguồn lực kỹ thuật hay không;
- Các nguồn lực đó có đảm bảo tối ưu hay không;
Thông thường, việc lựa chọn kỹ thuật của dự án bao gồm:
- Xác định sản phẩm của dự án;
- Xác định công suất sản xuất để thỏa mãn nhu cầu;
- Xây dựng thời gian biểu cho dự án;
- Xác định địa điểm của dự án;
- Xác định các đầu vào nguyên vật liệu, lao động cho dự án;
- Xác định các máy móc thiết bị cần thiết;
• Xem xét về mặt tài chính của dự án.
Dự án đầu tư được coi là khả thi nếu đảm bảo các điều kiện:
- Số liệu về mặt tài chính đầy đủ, chính xác;
- Huy động đủ các nguồn lực tài chính và thực hiện có hiệu quả tài
chính;
- Mức độ rủi ro về mặt tài chính có thể chấp nhận được;
Khi xem xét tính khả thi về mặt tài chính của dự án, chúng ta tập trung
xem xét hai vấn đề chính: dự án có khả năng huy động đủ vốn hay không và
dự án có hiệu quả tài chính hay không.
1.1.3. Các giai đoạn của một dự án
Dự án là một thực thể thống nhất, thời gian thực hiện xác định và có độ
bất định nhất định nên các tổ chức, đơn vị thường chia dự án thành một số
giai đoạn để quản lý. Mỗi giai đoạn được đánh dấu bằng việc thực hiện một
hay nhiều công việc. Tổng hợp các giai đoạn này được gọi là chu kỳ hay vòng
đời của dự án. Chu kỳ của dự án xác định thời điểm bắt đầu, thời điểm kết
thúc và thời gian thực hiện dự án. Chu kỳ dự án xác định những công việc nào
sẽ được thực hiện trong từng giai đoạn và ai sẽ tham gia thực hiện. Nó cũng
chỉ ra những công việc nào còn lại ở giai đoạn cuối sẽ thuộc về hoặc không
thuộc về phạm vi của dự án. Thông qua chu kỳ dự án có thể nhận thấy một số
đặc điểm:
6
– Mức chi phí và yêu cầu nhân lực thường là thấp khi mới bắt đầu
dự án, tăng cao hơn vào thời kỳ phát triển, nhưng giảm nhanh khi dự án bước
vào giai đoạn kết thúc.
– Xác suất hoàn thành dự án thành công thấp nhất và do đó mức độ
rủi ro là cao nhất khi dự án bắt đầu thực hiện. Xác suất thành công sẽ tăng lên
khi dự án bước qua các giai đoạn sau.
– Khả năng ảnh hưởng của nhà tài trợ tới đặc tính cuối cùng của sản
phẩm dự án và do đó tới chi phí là cao nhất vào thời kỳ bắt đầu và giảm mạnh
khi dự án tiếp tục trong các giai đoạn sau.
Vòng đời dự án xác định các giai đoạn mà một dự án phải trải qua tính
từ lúc bắt đầu cho tới khi kết thúc dự án. Các giai đoạn thường có cơ chế tự
hoàn thiện kiểm soát quản lý thông qua các công việc giám sát, đánh giá.
Điển hình là sự chuyển tiếp giữa các giai đoạn thường có điểm mốc đánh dấu
và một kết quả chuyển giao cụ thể, kèm theo những phê duyệt, tán thành của
nhà tài trợ trước khi bước sang giai đoạn tiếp theo.
Vòng đời phát triển dự án (Systems Development Life Cycle - SDLC)
là khung làm việc dùng để mô tả các giai đoạn trong quá trình phát triển và
duy trì hệ thống. SDLC cơ bản là nhóm các giai đoạn của dự án. Các giai
đoạn của dự án thay đổi tùy theo dự án, tổ chức hoặc lãnh vực kinh doanh,
thường được chia thành 4 giai đoạn như sau:
• Giai đoạn xây dựng ý tưởng
Xây dựng ý tưởng là việc xác định bức tranh toàn cảnh về mục tiêu,
kết quả cuối cùng của dự án và phương pháp thực hiện dẫn tới kết quả đó.
Xây dựng ý tưởng dự án bắt đầu ngay khi hình thành dự án. Khảo sát-tập hợp
số liệu, xác định yêu cầu, đánh giá rủi ro, dự tính nguồn lực, so sánh lựa chọn
dự án, … là những công việc triển khai và cần được quản lý trong gian đoạn
này. Quyết định lựa chọn dự án là những quyết định chiến lược dựa trên mục
đích, nhu cầu và các mục tiêu lâu dài của tổ chức, doanh nghiệp. Trong giai
đoạn này những nội dung được xét đến là mục đích yêu cầu của dự án, tính
khả thi, lợi nhuận tiềm năng, mức độ chi phí, mực độ rủi ro và ước lượng các
7
nguồn lực cần thiết. Đồng thời cũng cần làm rõ hơn nữa ý tưởng dự án bằng
cách phác thảo những kết quả và phương pháp thực hiện trong điều kiện hạn
chế về nguồn lực. Phát triển ý tưởng dự án không cần thiết phải lượng hoá hết
bẳng các chỉ tiêu nhưng nó phải ngắn gọn, được diễn đạt trên cơ sở thực tế.
Kết thúc giai đoạn này là sự phê duyệt về chủ trương thực hiện dự án.
• Giai đoạn phát triển
Là giai đoạn chi tiết xem dự án cần được thực hiện như thế nào, nội
dung chủ yếu của giai đoạn này tập trung vào công tác thiết kế và lập kế
hoạch. Đây là giai đoạn chứa đựng những công việc phức tạp nhất của dự án.
Nội dung chủ yếu bao gồm:
- Thành lập nhóm dự án, xác định cấu trúc tổ chức.
- Lập kế hoạch tổng thể
- Phân tích, lập bảng chi tiết công việc – WBS
- Lập kế hoạch tiến độ thời gian
- Lập kế hoạch ngân sách
- Lập kế hoạch nguồn lực cần thiết
- Lập kế hoạch chi phí
- Xin phê chuẩn thực hiện tiếp
Kết thúc giai đoạn này, tiến trình dự án có thể bắt đầu. Thành công của dự án
phụ thuộc rất lớn vào chất lượng và sự chuẩn bị kỹ lưỡng của các kế hoạch
trong giai đoạn này.
• Giai đoạn thực hiện
Là giai đoạn quản lý tổ chức triển khai các nguồn lực bao gồm các
công việc cần thiết như xây dựng phòng ốc, hệ thống, lựa chọn công cụ, mua
sắm trang thiết bị, lắp đặt… Đây là giai đoạn chiếm nhiều thời gian và nỗ lực
nhất. Những vấn đề cần xem xét trong giai đoạn này là những yêu cầu kỹ
thuật cụ thể nhằm so sánh, đánh giá lựa chọn công cụ thiết bị, kỹ thuật lắp
ráp, mua thiết bị chính, phát triển hệ thống. Kết thúc giai đoạn này, các hệ
thống được xây dựng và kiểm định, hệ thống có thể chuyển sang giai đoạn
vận hành, đưa vào khai thác thử nghiệm.
8
• Giai đoạn kết thúc
Trong giai đoạn kết thúc của chu kỳ dự án, cần thực hiện những công
việc còn lại như hoàn thành sản phẩm, bàn giao hệ thống, công trình và những
tài liệu liên quan; đánh giá dự án, giải phóng các nguồn lực. Dưới đây là một
số các việc cụ thể:
- Hoàn chỉnh và lập kế hoạch lưu trữ hồ sơ liên quan đến dự án;
- Kiểm tra lại sổ sách kế toán, tiến hành bàn giao và báo cáo;
- Thanh quyết toán;
- Đối với phát triển, xây dựng hệ thống cần chuẩn bị và bàn giao sổ
tay hướng dẫn;
- Lắp đặt, quản trị và sử dụng;
- Bàn giao dự án, lấy chữ ký của khách hàng về việc hoàn thành;
- Bố trí lao động, giải quyết công ăn việc làm cho những người từng
tham gia dự án;
- Giải phóng và bố trí lại thiết bị;
1.1.4. Các quy trình trong một giai đoạn của dự án
Các dự án thường bao gồm một số quy trình liên kết với nhau. Các quy
trình này lặp đi lặp lại và diễn ra trong từng giai đoạn của vòng đời dự án và
tác động lẫn nhau. Cả 5 quy trình quản lý dự án đều hoạt động tại từng giai
đoạn vòng đời dự án, nhưng mỗi quy trình hoạt động có mức độ khác nhau
tuỳ theo mỗi giai đoạn. Chẳng hạn như sự lặp lại của quá trình khởi tạo tiến
hành ở phần đầu của mỗi gian đoạn nhằm tập trung vào các yêu cầu và mục
tiêu nghiệp vụ trong giai đoạn đó.
Các quy trình này là:
- Khởi tạo: Sự cấp phép cho dự án hay giai đoạn nào đó;
- Lập kế hoạch: Sàng lọc các mục tiêu của dự án và lựa chọn phương
án hành động tốt nhất để đạt được các mục tiêu sao cho đem lại hiệu quả về
mặt kinh tế xã hội nhất;
- Thực thi kế hoạch: Quản lý, phân bổ nguồn lực để thực hiện kế
hoạch
9
- Kiểm soát: Là giai đoạn giám sát và xem xét mức độ tiến hành trên
cơ sở nguyên tắc nhằm xác định những điểm khác biệt của mỗi giai đoạn
trong dự án này so với kế hoạch đã đề ra để thực hiện các hoạt động cần thiết
nhằm hiệu chỉnh, đảm bảo dự án đang đi đúng hướng, đáp ứng các mục tiêu
của dự án ban đầu.
- Kết thúc: Đạt được ký kết hoàn tất từ nhà tài trợ và đưa dự án hoặc
giai đoạn đó đến một kết thúc theo thứ tự.
1.2. Đầu tư xây dựng
1.2.1. Khái niệm chung về đầu tư, đầu tư xây dựng
Đầu tư là hoạt động bỏ vốn ở hiện tại nhằm tạo ra một tài sản nào đó và
vận hành nó để sinh lợi hoặc thỏa mãn nhu cầu nào đó của chủ đầu tư trong
một khoảng thời gian xác định ở tương lai.
Đầu tư xây dựng công trình là hoạt động có liên quan đến bỏ vốn ở giai
đoạn hiện tại nhằm tạo dựng tài sản cố định là công trình xây dựng để sau đó
tiến hành khai thác công trình, sinh lợi với một khoảng thời gian nhất định
nào đó ở tương lai.
1.2.2. Phân loại đầu tư xây dựng
• Phân loại theo chủ đầu tư của dự án
- Dự án đầu tư với chủ đầu tư là Nhà nước: Chủ đầu tư này do nhà
nước giao quyền quản lý sử dụng vốn Nhà nước để thực hiện quá đầu tư xây
dựng.
- Dự án đầu tư với chủ đầu tư là các thành phần kinh tế khác ( doanh
nghiệp, tư nhân, nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam …)
• Phân loại theo nguồn vốn của dự án:
- Đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước;
- Đầu tư từ vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh;
- Đầu tư từ vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước;
- Đầu tư từ vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước;
10
- Đầu tư từ các nguồn vốn khác : Vốn tự huy động của chủ đầu tư ,
vốn liên doanh, vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài.
• Phân loại theo góc độ tái sản xuất tài sản cố định ( công trình )
- Đầu tư xây dựng mới;
- Đầu tư xây dựng mở rộng;
- Đầu tư xây dựng để cải tạo, nâng cấp;
- Đầu tư xây dựng lại (Đầu tư thay thế khi công trình hết niên hạn sử
dụng)
• Phân loại theo cách khác : phân loại theo thời gian; theo nghành,
vùng kinh tế, theo phân loại công trình…Theo cách phân loại này ta có các
loại như : đầu tư ngắn hạn; đầu tư dài hạn; đầu tư cho nghành công nghiệp,
nông nhiệp; đầu tư cho vùng sâu, vùng xa; đầu tư cho công trình công nghiệp;
công trình cơ sở hạ tầng…
1.2.3. Mục tiêu của đầu tư
• Mục tiêu đầu tư của doanh nghiệp:
- Đạt được lợi nhuận lớn nhất;
- Đây là mục tiêu quan trọng và phổ biến mà doanh nghiệp thường
theo đuổi, tìm kiếm.Với kết quả cho trước thì chi phí bỏ ra bé nhất ( cực tiểu
chi phí ) thì thu được cực đại doanh thu bán hàng;
- Nâng cao trình độ công nghệ, tăng sức mạnh cạnh tranh;
- Đạt được sự thỏa mãn nào đó về hiệu quả;
- Mục tiêu khác : cải thiện điều kiện làm việc, đảm bảo yêu cầu về
môi trường, nâng cao chất lượng sản phẩm…
• Mục tiêu đầu tư của nhà nước
Nhà nước bỏ vốn ra để đầu tư thường đặt ra các loại mục tiêu sau :
- Thay dổi cơ cấu kinh tế quốc dân, tăng trưởng kinh tế bền vững
- Phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, lợi ích công cộng;
- Bảo đảm các yêu cầu về môi trường, an ninh quốc phòng.
11
1.3. Những văn bản pháp lý liên quan đến quá trình đầu tư xây dựng
– Nghị định của Chính phủ số 16/2005/NĐ-CP ban hành ngày 07
tháng 5 năm 2005 về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình.
Nghị định này hướng dẫn thi hành Luật xây dựng về lập, thẩm định,
phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình; thực hiện dự án đầu tư xây dựng
công trình; điều kiện, năng lực của tổ chức, cá nhân trong xây dựng.
– Nghị định của Chính phủ số 12/2009/NĐ-CP ban hành ngày 12
tháng 02 năm 2009 về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình.
Nghị định mới này sửa đổi, bổ sung lại hướng dẫn thi hành Luật xây
dựng về lập, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình; thực
hiện dự án đầu tư xây dựng công trình; điều kiện, năng lực của tổ chức, cá
nhân trong xây dựng.
– Nghị định số 90/2006/NĐ-CP ban hành ngày 06 tháng 9 năm 2006
quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở.
Nghị định này quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung
về phát triển nhà ở, quản lý việc sử dụng nhà ở, sở hữu nhà ở, giao dịch về
nhà ở và quản lý nhà nước về nhà ở quy định tại Luật Nhà ở ngày 29 tháng 11
năm 2005.
– Nghị định của Chính phủ số 42/1996/NĐ-CP ban hành ngày 16
tháng 7 năm 1996 về việc ban hành điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng.
– Quyết định số 08 /2008/QĐ-BXD ban hành ngày 28 tháng 5 năm
2008 về việc ban hành quy chế quản lý sử dụng nhà chung cư.
Trong đó, bản quy chế quy định quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của
các tổ chức, cá nhân liên quan trong việc quản lý sử dụng nhà chung cư.
– Thông tư 09/2000/TT-BXD ngày 17/7/2000 của Bộ Xây dựng về
việc hướng dẫn lập và quản lý chi phí xây dựng công trình thuộc dự án đầu tư.
– Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng ban hành kèm theo Nghị định
số 52/NĐ-CP ngày 8/7/1999 và Nghị định số 12/2000/NĐ-CP ngày 5/5/2000
12
của Chính phủ. Nghị định số 07/2003/NĐ-CP ngày 30/1/2003 về việc sửa đổi
bổ sung một số điều của Quy chế quản lý dự án đầu tư và xây dựng.
– Quy chế đấu thầu kèm theo Nghị định số 88/1999/NĐ-CP ngày
1/9/1999 và Nghị định số 14/2000/NĐ-CP ngày 5/5/2000 của Chính phủ sửa
đổi bổ sung một số điều của Quy chế đấu thầu.
CHƯƠNG II - QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NHÀ HỖN
HỢP CAO TẦNG Ở VÀ LÀM VIỆC TẠI 124 MINH KHAI
2.1. Giới thiệu chung về công ty LILAMA và dự án đầu tư xây dựng
nhà hỗn hợp cao tầng ở và làm việc tại 124 Minh Khai
2.1.1. Tổng quan về Tổng công ty lắp máy Việt Nam (LILAMA)
Tổng công ty lắp máy Việt Nam là công ty mẹ của Tập đoàn Công
nghiệp nặng LILAMA, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước, có tư
cách pháp nhân, có con dấu, biểu tượng, thương hiệu, Điều lệ tổ chức và hoạt
13
động; được mở tài khoản tại Kho bạc nhà nước Việt Nam và ngân hàng theo
quy định của pháp luật; được tự chủ kinh doanh; có trách nhiệm thừa kế các
quyền , nghĩa vụ pháp lý và lợi ích hợp pháp của Tổng công ty lắp máy Việt
Nam. Cơ cấu tổ chức bao gồm:
- Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát;
- Tổng giám đốc, các Phó giám đốc và Kế toán trưởng;
- Bộ máy giúp việc (các phòng, ban chuyên môn, nghiệp vụ);
- Các đơn vị sản xuất kinh doanh hạch toán phụ thuộc;
- Các Ban điều hành, Ban quản lý dự án;
- Các chi nhánh, đại diện, văn phòng, công ty con đại diện ở trong và
ngoài nước;
- Các đơn vị sự nghiệp khoa học, công nghệ, đào tạo, tin học…và các
đơn vị phụ thuộc.
Các công ty con do công ty mẹ - Tập đoàn Công nghiệp nặng
LILAMA nắm giữ 100% vốn điều lệ hoặc nắm giữ cổ phần, vốn góp chi phối,
hoạt động ở trong và ngoài nước dưới hình thức Tổng công ty (công ty) cổ
phần, Công ty TNHH, Công ty liên doanh.
Hệ thống tổ chức bộ máy của Tổng công ty giai đoạn 2007 – 2009
được thể hiện qua sơ đồ 2.1 (xem sơ đồ 2.1)
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét