Thứ Tư, 5 tháng 3, 2014

Thiết kế sản phẩm bảo hiểm “280 ngày”

nghiệp hóa diễn ra với tốc độ nhanh đang ảnh hưởng lớn đến chất lượng môi
trường sống, điều đó cũng ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con người nói chung
và sức khỏe của sản phụ nói riêng. Sau đây là phần trình bày về các rủi ro sức
khỏe thường gặp của phụ nữ trong thời kỳ mang thai.
2.1. Do bản thân sức khỏe của phụ nữ
Phụ nữ trong thời gian mang thai cũng có khả năng mắc tất cả các bệnh
như những người bình thường khác. Chín tháng mười ngày trong bụng mẹ, sự
phát triển của thai nhi phụ thuộc phần lớn vào cơ thể và tình trạng sức khỏe của
người mẹ. Vì thế nếu trong quá trình mang thai, người mẹ mắc một số bệnh nào
đó thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của thai nhi. Theo nghiên cứu của tổ
chức y tế, các nhóm bệnh của mẹ gây ảnh hưởng lớn đến thai nhi và sức khỏe
của mẹ là:
A. Các bệnh nhiễm trùng
• Do virus
 Sởi: có thể gây sảy thai hoặc sinh non. Bệnh này không gây dị tật
bẩm sinh cho con
 Bại liệt: nếu mắc bệnh trong 3 tháng đầu, khoảng 50% thai phụ bị
sảy thai, nếu bị bại liệt trong 3 tháng cuối, thai có thể chết trong bụng mẹ. bệnh
này không gây dị tật bẩm sinh cho trẻ.
 Coxsackie: virus coxsackie có thể qua rau thai, gây dị tật bẩm sinh
cho con (dị dạng ở đường tiết niệu- sinh dục, đường tiêu hóa, hệ tim mạch). Nếu
người mẹ nhiễm virus này vào tháng cuối kỳ, trẻ sinh ra có thể tử vong do viêm
cơ tim hoặc viêm màng não.
 ECHO: virus này có thể qua nhau thai và gây viêm màng não cho
trẻ, để lại di chứng thần kinh. Bệnh viêm gan do virus ECHO có thể gây tử vong
ở trẻ vói tỷ lệ khá cao.
 Cúm: có thể gây sảy thai, thai chết lưu hoặc sinh con non. Đa số trẻ
sinh ra có dị tật bẩm sinh nhẹ, hiếm khi có dị tật bẩm sinh nặng ở não. Trẻ sinh
ra dễ bị viêm phổi
 Quai bị: có thể gây sảy thai và sinh non. Trẻ sinh ra có thẻ nhẹ cân
và bị dị tật bẩm sinh.
• Do vi trùng
5
 Lao: do mẹ suy kiệt vì bệnh lao nên thai nhi sẽ phát triển chậm.
bệnh nặng có thể gây sảy thai thai chết lưu hoặc sinh con non.
 Lậu: đứa trẻ dễ bị lây nhiễm vi trùng lậu từ mẹ, bị viêm kết mạc do
lậu diễn tiến, có thể mù nếu không điều trị kịp thời
 Sốt rét: người mẹ có thể bị sảy thai, thai chết lưu hoặc sinh con non.
Trẻ sinh ra có thể bị nhẹ cân, sốt, thiếu máu, vàng da, gan và lách to.
B. Các bệnh đường hô hấp
• Hen: có thể gây thai chết lưu hoặc sinh con non.
• Bệnh phổ mãn tính: thai nhi chầm phát triển. cả 2 mẹ con có thể bị
khó thở cấp, dẫn đến tử vong
C. Các bệnh tiêu hóa
• Viêm loét đại tràng: có thể dẫn đến sảy thai
• Vàng da ứ mật: hậu quả thường gặp là thai chết lưu, sinh non hoặc
trẻ sinh bị ngạt
• Viêm tụy cấp: dễ gây sảy thai, thai chết lưu, sinh non.
D. Các bệnh về máu
• Xuất huyết giảm tiểu cầu: trẻ sinh ra có nguy cơ bị xuất huyết não
do giảm tiểu cầu
• Thiếu máu: nếu mẹ bị thiếu máu nặng, thai nhi sẽ chậm phát triển,
bị sảy thai, chết lưu, hoặc bị sinh non, bị ngạt khi sinh
E. Các bệnh thần kinh
• Động kinh: đứa trẻ rất có thể cũng bị động kinh và có nguy cơ bị dị
tật bẩm sinh cao gấp 8 lần so với những đứa trẻ có mẹ không bị động kinh. Việc
mẹ bị co giật trong thai kỳ thì sẽ làm tăng khả năng tử vong cho thai nhi
• Nhược cơ: đứa con sinh ra có thể bị yếu cơ, khóc yếu và bú yếu.
các triệu chứng này xuất hiện khoảng 10 ngày sau khi sinh và thường hồi phục
sau nhiều tuần.
F. Các bệnh tim mạch
• Bệnh tim: trẻ có nguy cơ tử vong
• Sốc do mất máu: có thể gây tình trạng ngạt cho thai
G. Các bệnh thận- nội tiết
• Viêm cầu thận: khoảng 10% trường hợp bị hư thai, 20% sinh non
hoặc sinh ngạt
• Nhiễm trùng tiểu: có thể gây sinh non, sảy thai hoặc thai chết lưu
• Tiểu đường: con sinh ra thường to và dễ bị hạ đường huyết
H. Bệnh ngoại khoa
6
• Viêm ruột thừa: bà mẹ bị viêm ruột thừa có thể sảy thai (nếu bị
trong 3 tháng đầu) hoặc sinh non (trong 3 tháng cuối)
• Chấn thương vùng bụng: các tai nạn gây chấn thương nội tạng
người mẹ cũng có thể gây chấn thương trực tiếp cho thai nhi
I. Phụ nữ còn có thể gặp các tai biến sản khoa như:
• Nhiễm khuẩn hậu sản
• Băng huyết sau sinh
• Vỡ tử cung
• Sản giật
2.2. Do tai nạn, biến cố bên ngoài
Người phụ nữ còn có thể gặp phải rủi ro do tai nạn biến cố bên ngoài vì
trong thời gian mang thai, người phụ nữ vẫn phải đi làm. Đặc thù sức khỏe khi
mang thai, nhất là thời kỳ thai nghén, người phụ nữ thường hay bị đau đầu,
chóng mặt, buồn nôn. Hơn thế nữa, với sự phát triển của thai nhi, phần bụng
người phụ nữ sẽ to dần lên gây mất cân bằng nên rất dễ bị ngã khi đi lại và tham
gia giao thông. Như vậy, trong thời kỳ mang thai người phụ nữ có khả năng gặp
cao các rủi ro về sức khỏe.
3. Rủi ro gặp phải đối với trẻ em dưới 1 tuổi
Hiện nay tình trạng tử vong ở trẻ em Việt Nam vẫn còn khá cao, trong đó
chủ yếu là trẻ sơ sinh, chiếm 70% . Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến vấn đề trên là
do đặc điểm cơ thể trẻ sơ sinh rất yếu. Sau đây là phần trình bày về đặc điểm cơ
thể trẻ sơ sinh:
Đặc điểm của trẻ sơ sinh
1. Đặc điểm của hệ thần kinh
• Đại thể não: rất ít nếp nhăn. (sinh càng non, nếp nhăn càng ít)
• Chuyển hóa của tế bào não:
– Bào thai: chuyển hóa glucose chủ yếu/ yếm khí
– Sau sinh: bắt đầu chuyển hóa ái khí, chưa đồng đều/ các vùng
• Độ thấm thành mạch máu não cao: do thiếu men Esterase carboxylic à
rất dễ bị XH não, nhất là ở vùng tiểu não/ trẻ sinh non.
2. Đặc điểm của tim mạch
7
• HA tối đa bình thường: 50-60 mmHg.
• Độ thấm thành mạch cao (thiếu men Esterase carboxylic), rất dễ vỡ, (gan,
phổi, não)
• XH liên quan chặt chẽ với ↓ oxy máu;
• Oxy máu quá cao, PaO2 >150 mmHg, kéo dài > 24 giờ à mạch máu co,
hạn chế nuôi dưỡng mô
VD: trẻ sinh non dưới 1500g có thể bị mù do xơ teo võng mạc mắt nếu nuôi lâu
ngày trong lồng ấp có tỷ lệ oxy cao trên 40%
3. Đặc điểm về hô hấp
• Bình thường: nhịp thở 40-60 lần/phút, rất dễ thay đổi
• Rất dễ rối loạn hô hấp à TD nhịp thở/phòng cấp cứu sơ sinh rất quan
trọng
• Theo Miller, nhịp thở ổn định/24 giờ đầu: tiên lượng tốt; Ngược lại: tiên
lượng xấu
• Có thể có cơn ngừng thở < 15 giây: do vỏ não chưa hoạt động tốt trong
thời gian đầu sau sinh. Nếu cơn ngừng thở kéo dài >15” và tái diễn à suy
hô hấp
4. Đặc điểm của gan
• Thời kỳ sơ sinh: hiện tượng phá hủy TB gan do thiếu oxy à
Transaminase cao, nhất là trong những ngày đầu
• Các TB tạo máu bị phá huỷ, các TB chuyển hóa hình thành dần à chức
năng chuyển hóa của gan chưa hoàn chỉnh, các men chuyển hóa chưa đầy
đủ, nhất là ở trẻ sinh non
• Glycuronyl transferase (chuyển hóa bilirubin GT thành bilirubin TT &
giúp giải độc một số thuốc): rất ít, càng ít nếu trẻ bị thiếu oxy, hạ đường
huyết. Thiếu men à dễ bị vàng da & dễ bị ngộ độc thuốc
5. Đặc điểm về chuyển hóa các chất
• Glucid
à Hạ đường huyết rất hay xảy ra ở trẻ sinh non.
8
– Trẻ sinh non sử dụng glucose rất kém (60%), chủ yếu ở ngoài gan,
ngược lại tiêu thụ rất tốt galactose và fructose ngay trong gan à
khi điều trị vàng da do tăng bilirubin GT/sinh non, nên dùng
galactose (tổng hợp acid glycuronic)
– Sơ sinh dễ bị hạ đường huyết, bình thường lượng đường trong máu
trẻ đủ tháng 70 mg % và ở trẻ sinh non 50mg %.
– Đường huyết chỉ còn 20mg%: triệu chứng hạ đường huyết /lâm
sàng
6. Điều hòa thân nhiệt
Khi ra đời, trẻ rất dễ bị mất nhiệt, nhưng khả năng tạo nhiệt lại kémà dễ bị rối
loạn điều hoà thân nhiệt
7. Đặc điểm về miễn dịch
Khi trẻ vừa sinh ra, tuy hình hài đã có đủ các bộ phận nhưng chức năng của các
cơ quan trong cơ thể vẫn còn phải hoàn thiện dần. Hệ miễn dịch, hệ thống bảo
vệ của trẻ, cũng tuân theo quy luật này.
Hệ thống miễn dịch nằm rải rác trong người của bé, từ vùng hầu họng, xuống
tuyến ức, tới lách, đường ruột và hệ thống bạch huyết rộng khắp, đóng vai trò
như những “cổng thành” đêm ngày canh gác, ngăn chặn sự xâm nhập của các vi
sinh vật gây bệnh. Như đã nói, do còn non nớt và chưa được tiếp xúc với tác
nhân gây bệnh nhiều, nên hiệu quả của “hệ thống canh gác” này còn rất hạn chế.
Mặt khác, trong giai đoạn bào thai, hệ thống miễn dịch của bé phát triển mạnh
về hướng chống bị đào thải, hơn là chống nhiễm trùng, làm cho sự bảo vệ bé
trong những ngày tháng đầu đời càng thêm yếu ớt.
Trong bối cảnh phải tiếp xúc với một môi trường hoàn toàn lạ lẫm, nhiều tác
nhân gây bệnh “chực chờ” xâm nhập, với một hệ thống bảo vệ cơ thể chưa kịp
hoàn chỉnh để đối phó, trẻ nhỏ thực sự phải đối mặt với nguy cơ rất lớn về các
bệnh nhiễm trùng.
Trong hệ thống bảo vệ cơ thể bé, ruột là cơ quan chứa đến 70-80% tế bào miễn
dịch, biến nơi này trở thành “đại bản doanh” của mạng lưới bảo vệ cho trẻ. Hơn
nữa, trong những ngày tháng đầu đời, ống tiêu hóa là một trong các cơ quan
9
trong cơ thể trẻ phải tiếp xúc với rất nhiều tác nhân lạ cũng như vi sinh vật gây
bệnh, nên việc tăng cường miễn dịch cho bé thông qua đường tiêu hóa là
phương pháp hợp lý và hứa hẹn hiệu quả cao.
Đường ruột của trẻ không hoàn toàn vô trùng, mà ngược lại, có chứa đến hơn
400 loại vi khuẩn thường trú khác nhau. Các vi khuẩn này được chia làm 3
nhóm: nhóm có lợi, nhóm tiềm ẩn gây bệnh và nhóm trung gian, dựa trên tác
động của chúng lên cơ thể trẻ.
Sơ sinh có sức đề kháng kém
– Da mỏng, độ toan thấp, ít có tác dụng diệt khuẩn
– Niêm mạc dễ xây xát, dễ bị viêm loét.
– Miễn dịch tế bào: có từ trong bào thai, chỉ có tác dụng sau sinh, rất
kém nếu trẻ sinh thiếu tháng
Phản ứng tăng bạch cầu khi tiếp xúc với tác nhân gây bệnh
thực bào lại rất kém: sau 24 tháng mới hoàn chỉnh
– Miễn dịch huyết thanh: bào thai tạo được các IgG và IgM từ tháng
thứ 6 và IgA từ tháng thứ 8, không đáng kể. (sau 12 tháng: IgG #
60%, IgM # 80%, IgA # 20% so người lớn .
Không chỉ ở giai đoạn sơ sinh mà giai đoạn 1 năm đầu đời, trẻ nhỏ cũng rất dễ
bị mắc bệnh và gặp các vấn đề về sức khỏe. Theo nghiên cứu của tổ chức y tế,
những bệnh mà trẻ em dễ mắc phải là:
• Cảm lạnh: hiện có khoảng hơn 200 loại virus có thể gây ra cảm
lạnh thông thường. trong đó, virus Rhinovirus gây bệnh cảm cúm là phổ biến
nhất.
• Viêm dạ dày và viêm ruột siêu vi: bệnh này có thể xảy ra sau khi
con của bạn tiêu thụ thức ăn hoặc nguồn nước bị ô nhiễm hoặc khi tiếp xúc với
người bệnh.
• Nhiễm trùng tai: thường bắt đầu sau khi vì một lý do nào đó trẻ bị
nhiễm virus chẳng hạn như do ảnh hưởng sau khi bé bị cảm lạnh. Đối với trẻ thì
khả năng bị nhiễm trùng tai cao hơn rất nhiều so với người lớn.
10
• Đau mắt đỏ: bệnh này ở trẻ thường do virus A gây ra, bệnh sẽ khiên
mắt của trẻ biến thành màu hồng- màu đỏ. Đôi khi bệnh cũng do vi khuẩn hoặc
do dị ứng gây ra
• Viêm họng: theo các chuyên gia, virus gây ra đa số các bệnh viêm
họng và có thể kèm theo các dấu hiệu khác về đường hô hấp, để cả ho và sổ mũi
• Bệnh vàng da có thể gặp ở bất kỳ trẻ sơ sinh nào nếu không được
điều trị đúng mức trẻ sẽ bị nhiễm độc thần kinh, co giật, hôn mê rổi tử vong
• Viêm màng não: phụ thuộc vào loại vi khuẩn, viêm màng não có
thể gây tử vong cho 10-20% trường hợp mắc bệnh và có thể gây thương tổn vĩnh
viễn cho não như điếc hay rổi loạn thị giác…
• Chân tay miệng: bệnh do một nhóm virus thuộc nhóm Enterovirus
gây nên. Là một bệnh dễ lây lan nên thường gặp ở trẻ đa số những trẻ này chỉ
biểu hiện bệnh nhẹ nhàng nhưng một số có thể biểu hiện bệnh cực kỳ nghiêm
trọng đưa đến rối loạn chức năng đa cơ quan và tử vong. Nếu bệnh xuát hiện
trong 2 tuần đầu sau khi sinh thì nguy cơ xảy ra bệnh nặng cao hơn.
• Đặc biệt đứa trẻ sau sinh có thể gặp tai biến sản khoa như uốn ván
rốn
Qua phân tích trên chúng ta thấy rằng: phụ nữ trong thời gian mang thai
và trẻ em dưới 1 tuổi là 2 đối tượng có nguy cơ gặp phải các vấn đề về sức khỏe
rất lớn. Trong khi đó, mang thai, sinh con và chăm sóc con nhỏ là sự kiện quan
trọng không chỉ đối với bản thân người phụ nữ mà còn có ý nghĩa với gia đình,
dòng họ. Ai cũng mong muốn quá trình mang thai được “mạnh khỏe, an toàn”,
sinh ra đứa trẻ khỏe mạnh, được mẹ tròn con vuông. Đời sống người dân ngày
càng được nâng cao thì nhu cầu về chăm sức khỏe và các sản phẩm bảo hiểm
ngày càng lớn. Nhưng liệu các sản phẩm bảo hiểm hiện có trên thị trường đã đáp
ứng được nhu cầu và mong muốn đó chưa?
11
CHƯƠNG 2: Nghiên cứu thực tế các sản phẩm và loại hình bảo hiểm
hỗ trợ phụ nữ và trẻ em hiện có trên thị trường
1. Bảo hiểm xã hội và Bảo hiểm y tế
1.1. Cho người mẹ
*BHXH: Nếu người phụ nữ tham gia BHXH thì có thể được hưởng chế
độ thai sản, quy định cụ thể như sau:
 Đối tượng áp dụng chế độ thai sản:
Đối tượng áp dụng chế độ thai sản là người lao động quy định tại các
điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 2 của Luật BHXH. cụ thể các điểm như sau:
a) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp
đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên;
b) Cán bộ, công chức, viên chức;
c) Công nhân quốc phòng, công nhân công an;
d) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ
quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân;
người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân đội nhân dân, công an
nhân dân.
 Điều kiện hưởng chế độ thai sản:
1. Người lao động được hưởng chế độ thai sản khi thuộc một trong các
trường hợp sau đây:
a) Lao động nữ mang thai;
b) Lao động nữ sinh con;
c) Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới bốn tháng tuổi;
d) Người lao động đặt vòng tránh thai, thực hiện các biện pháp triệt sản.
2. Người lao động quy định tại điểm b và điểm c ở trên phải đóng bảo
hiểm xã hội từ đủ sáu tháng trở lên trong thời gian mười hai tháng trước khi sinh
con hoặc nhận nuôi con nuôi.
 Thời gian hưởng chế độ khi khám thai:
Trong thời gian mang thai, lao động nữ được nghỉ việc để đi khám thai
năm lần, mỗi lần một ngày; trường hợp ở xa cơ sở y tế hoặc người mang thai có
12
bệnh lý hoặc thai không bình thường thì được nghỉ hai ngày cho mỗi lần khám
thai.
Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản tính theo ngày làm việc không
kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.
 Thời gian hưởng chế độ khi sẩy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết
lưu:
Khi sẩy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu thì lao động nữ được nghỉ
việc hưởng chế độ thai sản mười ngày nếu thai dưới một tháng; hai mươi ngày
nếu thai từ một tháng đến dưới ba tháng; bốn mươi ngày nếu thai từ ba tháng
đến dưới sáu tháng; năm mươi ngày nếu thai từ sáu tháng trở lên. Thời gian nghỉ
việc hưởng chế độ thai sản tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.
 Thời gian hưởng chế độ khi sinh con:
1. Lao động nữ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy
định sau đây:
a) Bốn tháng, nếu làm nghề hoặc công việc trong điều kiện lao động bình
thường;
b) Năm tháng, nếu làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy
hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban
hành; làm việc theo chế độ ba ca; làm việc thường xuyên ở nơi có phụ cấp khu
vực hệ số từ 0,7 trở lên hoặc là nữ quân nhân, nữ công an nhân dân;
c) Sáu tháng đối với lao động nữ là người tàn tật theo quy định của pháp
luật về người tàn tật;
d) Trường hợp sinh đôi trở lên, ngoài thời gian nghỉ việc quy định tại các
điểm a, b và c ở trên thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con được nghỉ thêm ba
mươi ngày.
2. Trường hợp sau khi sinh con, nếu con dưới sáu mươi ngày tuổi bị chết
BHXH thì mẹ được nghỉ việc chín mươi ngày tính từ ngày sinh con; nếu con từ
sáu mươi ngày tuổi trở lên bị chết thì mẹ được nghỉ việc ba mươi ngày tính từ
ngày con chết, nhưng thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản không vượt quá
13
thời gian quy định tại khoản 1 Điều ; thời gian này không tính vào thời gian nghỉ
việc riêng theo quy định của pháp luật về lao động.
3. Trường hợp chỉ có cha hoặc mẹ tham gia bảo hiểm xã hội hoặc cả cha
và mẹ đều tham gia bảo hiểm xã hội mà mẹ chết sau khi sinh con thì cha hoặc
người trực tiếp nuôi dưỡng được hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ bốn
tháng tuổi.
4. Thời gian hưởng chế độ thai sản quy định tại các điểm 1, 2 và 3 ở trên
tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.
 Thời gian hưởng chế độ khi nhận nuôi con nuôi:
Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới bốn tháng tuổi thì được nghỉ
việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ bốn tháng tuổi.
 Thời gian hưởng chế độ khi thực hiện các biện pháp tránh thai:
1. Khi đặt vòng tránh thai người lao động được nghỉ việc bảy ngày.
2. Khi thực hiện biện pháp triệt sản người lao động được nghỉ việc mười
lăm ngày.
3. Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản quy định tại điểm 1 và 2 ở
trên tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.
 Trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi:
Lao động nữ sinh con hoặc người lao động nhận nuôi con nuôi dưới bốn
tháng tuổi thì được trợ cấp một lần bằng hai tháng lương tối thiểu chung cho mỗi
con.
Trường hợp chỉ có cha tham gia bảo hiểm xã hội mà mẹ chết khi sinh con
thì cha được trợ cấp một lần bằng hai tháng lương tối thiểu chung cho mỗi con.
 Mức hưởng chế độ thai sản:
1. Người lao động hưởng chế độ thai sản theo quy định, mức hưởng bằng
100% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội của sáu
tháng liền kề trước khi nghỉ việc.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét