LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "học thuyết hình thái kinh tế - xã hội với vấn đề định hướng xã hội chủ nghĩa ở việt nam": http://123doc.vn/document/1055303-hoc-thuyet-hinh-thai-kinh-te-xa-hoi-voi-van-de-dinh-huong-xa-hoi-chu-nghia-o-viet-nam.htm
ta hiện nay và quan niệm của Mác về con đờng đi lên CNXH".
- Tiến sĩ Nguyễn Thế Nghĩa: "Học thuyết Mác về hình thái kinh tế - xã
hội - cơ sở lý luận của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa".
v.v
Ngoài các sách và bài viết, trong thời gian gần đây cũng có một số luận
án tiến sĩ tập trung nghiên cứu các đề tài gần gũi với vấn đề nh:
- Nguyễn Văn Oánh: "Định hớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam: nội dung
cơ bản và những điều kiện chủ yếu để thực hiện" (Luận án Phó tiến sĩ Triết học,
chuyên ngành CNCSKH, mã số 5.01.03, Hà Nội 1994). Tác giả đã phân tích nội
dung và các điều kiện chủ yếu để thực hiện ĐHXHCN ở nớc ta.
- Trơng Hữu Hoàn: "Quy luật phù hợp của quan hệ sản xuất với lực l-
ợng sản xuất và vấn đề nhận thức, vận dụng quy luật này ở một số nớc xã hội
chủ nghĩa" (Luận án Phó tiến sĩ Triết học, chuyên ngành CNDVBC và
CNDVLS, mã số 5.01.02, Hà Nội 1995). Tác giả đã có khía cạnh đề cập đến sự
vận dụng quy luật nói trên trong thời kỳ quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ
TBCN ở Việt Nam.
- Đoàn Quang Thọ: "Lý luận hình thái kinh tế - xã hội với công cuộc đổi
mới kinh tế - xã hội ở Việt Nam" (Luận án Phó tiến sĩ Triết học, chuyên ngành
CNDVBC và CNDVLS, mã số 5.01.02, Hà Nội 1995). Tác giả đã trên cơ sở
khẳng định giá trị của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội để luận giải tính tất
yếu và một số nội dung công cuộc đổi mới ở Việt Nam.
Nhìn chung các công trình trên, đặc biệt là các công trình trong nớc đều
tập trung vào việc bảo vệ lý luận HTKT-XH và vận dụng nó vào việc xác định
mục tiêu, thực hiện mục tiêu XHCN ở Việt Nam trong điều kiện mới. Tuy nhiên
thực tiễn luôn vận động, ĐHXHCN ở nớc ta đang đặt ra những vấn đề mới cần đ-
ợc tiếp tục lý giải và khẳng định.
9
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
3.1 Mục đích: Dới góc độ lý luận HTKT-XH, luận án góp phần làm sáng
tỏ thực chất vấn đề ĐHXHCN và việc giữ vững định hớng đó trong điều kiện
phát triển kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ:
1) Trên cơ sở khẳng định giá trị bền vững của lý luận HTKT-XH để luận
giải tính đúng đắn của sự lựa chọn mục tiêu tiến lên CNXH của Việt Nam.
2) Xem xét làm sáng tỏ thuật ngữ "định hớng xã hội chủ nghĩa" và chỉ ra
một số vấn đề từ thực tiễn vận dụng học thuyết HTKT-XH đặt ra đối với quá
trình thực hiện ĐHXHCN ở Việt Nam.
3) Nêu lên những nguyên tắc và giải pháp cơ bản quán triệt học thuyết
HTKT-XH để thực hiện ĐHXHCN trong điều kiện kinh tế nhiều thành phần,
hoạt động theo cơ chế thị trờng ở Việt Nam.
4. Phạm vi nghiên cứu của luận án
Luận án không đi vào xem xét một cách toàn diện các vấn đề của học
thuyết HTKT-XH, cũng không xem xét toàn diện các mặt của công cuộc xây
dựng CNXH ở nớc ta. Luận án trên hớng tiếp cận của học thuyết HTKT-XH để
đi vào luận giải một số khía cạnh của vấn đề ĐHXHCN và giữ vững ĐHXHCN
hiện nay ở Việt Nam.
- Cơ sở lý luận: Luận án dựa trên những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa
Mác - Lênin về HTKT-XH, t tởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam
về xây dựng CNXH để giải quyết những vấn đề trong đề tài.
- Cơ sở thực tiễn: Dựa vào thực tiễn xây dựng CNXH đã và đang diễn ra
ở Việt Nam, tham khảo bài học kinh nghiệm về đảm bảo mục tiêu CNXH ở một
số nớc khác trớc đây và hiện nay để luận chứng những vấn đề trong đề tài. Đồng
thời đó cũng là những cơ sở thực tiễn quan trọng để luận án đa ra những giải
pháp nhằm giữ vững ĐHXHCN trong điều kiện mới hiện nay.
10
5. Phơng pháp nghiên cứu của luận án
Luận án vận dụng tổng hợp các nguyên tắc phơng pháp luận duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử để luận giải các nội dung đặt ra, trong đó chú trọng sử
dụng các phơng pháp lôgíc - lịch sử, phân tích - tổng hợp, phơng pháp khảo sát
thực tế v.v
6. Đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
- Luận án góp phần làm rõ hơn vấn đề ĐHXHCN và tính đúng đắn của
sự lựa chọn ĐHXHCN ở nớc ta hiện nay.
- Luận án góp phần vào việc tìm ra các nguyên tắc và giải pháp lớn nhằm
giữ vững mục tiêu XHCN trong điều kiện mới của Việt Nam.
7. ý nghĩa thực tiễn của luận án
Với những đóng góp trên, luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo
trong việc giảng dạy, nghiên cứu về học thuyết HTKT-XH và sự vận dụng học
thuyết đó trong xây dựng CNXH ở các trờng Đại học, trờng Chính trị và những
ngời quan tâm.
8. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án bao gồm 3 chơng 6 tiết và phần
danh mục tài liệu tham khảo.
11
Chơng 1 : Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội - cơ sở
khoa học của sự lựa chọn con đờng đi lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam
1.1. Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội trong nhận thức xã hội và xu thế
chủ nghĩa xã hội của thời đại
1.1.1. Giá trị và ý nghĩa thời đại của học thuyết HTKT-XH
Trong hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, học thuyết HTKT-XH
giữ một vị trí đặc biệt quan trọng. Học thuyết không những là cốt lõi, nền tảng
cho một thế giới quan mới - chủ nghĩa duy vật lịch sử, mà còn là cơ sở khoa học
vững chắc cho toàn bộ các khoa học về xã hội nói chung.
Học thuyết HTKT-XH là một hệ thống các quan điểm lý luận có liên hệ
chặt chẽ hữu cơ với nhau của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhằm vạch ra cơ cấu và các
quy luật phát triển cơ bản và phổ biến của xã hội loài ngời. Sự xuất hiện của học
thuyết không phải là ngẫu nhiên hay là sản phẩm thuần túy chủ quan của C.Mác,
nh một số ngời nào đó nhận định, mà là kết quả hợp quy luật của một quá trình
nhận thức dựa trên sự khái quát thực tiễn hoạt động cách mạng, sự kế thừa mang
tính phê phán các nguồn tri thức nhân loại và một khả năng t duy thiên tài của
C.Mác và Ph.Ăngghen.
Xuất phát từ quan điểm có ý nghĩa phơng pháp luận cho rằng xã hội
không phải là tổ hợp ngẫu nhiên của các mặt, các yếu tố riêng biệt, không phải là
tổng số máy móc của các nhân riêng rẽ mà là một chỉnh thể của các quan hệ xã
hội, C.Mác và Ph.Ăngghen đã khám phá ra các quy luật của sự phát triển xã hội.
Tuy nhiên, từ quan điểm xuất phát đến chỗ vạch ra đợc các quy luật phát triển xã
hội là không đơn giản. Nói một cách khác là để làm đợc điều đó phải chọn lựa đ-
ợc con đờng nghiên cứu đúng đắn, khác về chất với tất cả các quan điểm trớc đó.
Trớc C.Mác và Ph.Ăngghen, Hêghen cũng có quan điểm xuất phát tơng tự nhng
ông lại luận giải sự thống nhất, tính chỉnh thể của xã hội dựa trên một bản
12
nguyên tinh thần. Do vậy, tuy có những đóng góp vào việc mở ra con đờng
nghiên cứu lịch sử nhng Hêghen không thể đi đến những quy luật lịch sử đích
thực. C.Mác và Ph.Ăngghen đã đi theo con đờng khác hẳn, đó là con đờng dựa
trên một nền tảng thế giới quan và phơng pháp luận duy vật biện chứng trong
nghiên cứu xã hội.
Xuất phát từ tiền đề đầu tiên của lịch sử là những con ngời cụ thể, "đó là
những cá nhân hiện thực, là hoạt động của họ, và những điều kiện sinh hoạt vật
chất của họ, những điều kiện mà họ thấy có sẵn cũng nh những điều kiện do hoạt
động của chính họ tạo ra" [39, tr. 28-29], C.Mác đã khám phá ra một chân lý
hiển nhiên là con ngời có nhiều hoạt động nhng hoạt động đầu tiên phải là hoạt
động để duy trì sự sống của con ngời. Nghĩa là con ngời trớc hết phải lao động
sản xuất để tạo ra thức ăn, nhà ở, nớc uống, quần áo v.v trớc khi có những hoạt
động khác. Do đó có thể khẳng định: hành động lịch sử đầu tiên của con ngời là
hành động sản xuất ra của cải vật chất. Chính trong quá trình sản xuất vật chất đã
buộc những con ngời, dù có nguyện vọng khác nhau, phải tham gia vào các mối
quan hệ với nhau mà trớc hết là quan hệ với nhau trong sản xuất vật chất. Và đến
lợt nó, sự vận động của nền sản xuất vật chất lại quy định diện mạo và sự vận
động của các quan hệ xã hội. Với quan điểm đó, học thuyết HTKT-XH đã đi đến
kết luận sản xuất vật chất là nền tảng của đời sống xã hội, là cơ sở của tính thống
nhất, tính chỉnh thể của xã hội. Nghiên cứu lịch sử trớc hết phải xuất phát từ cơ
sở thực tại đó.
Cơ sở thực tại đó là do con ngời tham gia vào và tạo ra. Tuy nhiên, con
ngời tham gia vào quá trình sản xuất vật chất và đồng thời là vào các quan hệ xã
hội, không phải với t cách là những cá nhân trừu tợng mà với t cách là những cá
nhân hiện thực đã đạt đến một trình độ nhất định của LLSX. Các mối quan hệ xã
hội, trớc hết là QHSX, cũng do con ngời tạo ra, nhng không phải tạo ra một cách
tùy tiện mà là trên một trình độ nhất định của LLSX. Đến lợt mình, các quan hệ
xã hội lại quy định nhu cầu của con ngời và sự vận động của nền sản xuất. Với
13
lập luận đó, lý luận HTKT-XH đã chỉ rõ nhân tố cốt lõi, quyết định trong nền sản
xuất vật chất của xã hội là PTSX với hai mặt gắn bó hữu cơ là LLSX và QHSX.
C.Mác nghiên cứu sâu sắc hơn các mặt của PTSX và đã chỉ rõ giữa LLSX và
QHSX luôn luôn tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với nhau. Trong đó LLSX
bao giờ cũng giữ vai trò quyết định sự hình thành, phát triển của QHSX và
QHSX có sự tác động trở lại LLSX. Do sự vận động của LLSX, một khi đạt đến
trình độ mới, nó sẽ mâu thuẫn với những QHSX hiện đang tồn tại và, dù sớm hay
muộn, mâu thuẫn đó sẽ đợc giải quyết bằng cách thay thế QHSX cũ bằng một
QHSX mới cao hơn phù hợp với trình độ đã phát triển của LLSX. Khi đó cũng có
nghĩa là PTSX cũ đã bị thay thế bởi một PTSX mới cao hơn. Cứ nh vậy, PTSX
mới tới một chừng mực nào đó, lại bị thay thế bởi một PTSX cao hơn nữa Đó
chính là quy luật phát triển phổ biến của lịch sử xã hội. C.Mác khẳng định:
Những quan hệ xã hội đều gắn liền mật thiết với những lực l-
ợng sản xuất. Do có đợc những lực lợng sản xuất mới, loài ngời thay
đổi phơng thức sản xuất của mình và do thay đổi phơng thức sản xuất
của mình, cách kiếm sống của mình, loài ngời thay đổi tất cả những
quan hệ xã hội của mình [40, tr. 187].
Không dừng lại ở đó, C.Mác và Ph.Ăngghen đã làm sâu sắc hơn về quy
luật bằng các tiếp tục xem xét sự tác động của nó trong các xã hội có giai cấp đối
kháng. Các ông đã chỉ rõ rằng trong các xã hội có đối kháng giai cấp thì việc giải
quyết mâu thuẫn giữa LLSX với QHSX vẫn là nguyên nhân sâu xa quyết định sự
thay thế PTSX và sự phát triển xã hội. Tuy nhiên, trong các xã hội đó, việc giải
quyết mâu thuẫn giữa LLSX và QHSX bao giờ cũng đợc giải quyết thông qua
mâu thuẫn giai cấp, qua đấu tranh giai cấp mà đỉnh cao là các cuộc cách mạng xã
hội. Các ông viết:
Nh chúng ta đã thấy, mâu thuẫn ấy giữa lực lợng sản xuất và
hình thức giao tiếp đã xảy ra nhiều lần trong lịch sử từ trớc đến nay,
song vẫn không làm biến đổi cơ sở cơ bản của nó, thì lần nào cũng đều
phải nổ ra thành một cuộc cách mạng, đồng thời lại mang những hình
14
thức phụ khác nh: sự tổng hợp của những xung đột, những sự va chạm
giữa các giai cấp khác nhau, sự mâu thuẫn về ý thức, đấu tranh t tởng,
đấu tranh chính trị v.v [39, tr. 107].
Từ nghiên cứu về PTSX, C.Mác và Ph.Ăngghen tiếp tục xem xét tới các
mặt khác của xã hội. Các ông chỉ rõ bất kỳ xã hội cụ thể nào cũng có những QHSX
hợp thành cơ sở kinh tế của xã hội đó và tơng ứng với nó là một KTTT xã hội
phù hợp. KTTT là một khái niệm có nội dung rộng lớn bao quát các t tởng xã
hội, các thể chế xã hội và mối quan hệ qua lại giữa chúng. KTTT bao giờ cũng đợc
hình thành trên một cơ sở hiện thực, đó là CSHT của xã hội. Xem xét quan hệ
giữa CSHT và KTTT, học thuyết HTKT-XH đã chỉ ra rằng: "Toàn bộ những quan hệ
sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực, trên
đó xây dựng nên một kiến trúc thợng tầng pháp lý và chính trị, và tơng ứng với
cơ sở thực tại đó thì có những hình thái ý thức xã hội nhất định" [42, tr. 15].
Nh vậy theo quan niệm HTKT-XH thì giữa CSHT và KTTT có mối quan
hệ biện chứng với nhau, trong đó CSHT bao giờ cũng giữ vai trò quyết định. Tuy
nhiên cần phải nói thêm rằng luận điểm về vai trò quyết định của cơ sở kinh tế,
mà sau này C.Mác và Ph.Ăngghen đã lu ý, phải đợc hiểu là "xét cho đến cùng"
chứ không phải là tuyệt đối hóa vai trò của kinh tế mà không thấy vai trò to lớn
của các nhân tố trong KTTT. Các nhân tố trong KTTT có tính độc lập tơng đối và
luôn luôn có sự tác động trở lại tới sự vận động của cơ sở kinh tế.
Việc xem xét xã hội nh một chỉnh thể đã cho phép C.Mác và Ph.Ăngghen
xây dựng nên một học thuyết HTKT-XH hoàn chỉnh. Vấn đề HTKT-XH lần đầu
tiên đợc các ông đặt ra và xem xét trong "Hệ t tởng Đức". Các ông quan niệm
HTKT-XH là xã hội "ở vào một giai đoạn phát triển lịch sử nhất định, một xã hội
có tính độc đáo riêng biệt" [41, tr. 553]. Và ở trong "Tuyên ngôn của Đảng cộng
sản" C.Mác và Ph.Ăngghen đã phát triển rõ hơn t tởng đó. Trong lời tựa viết cho
bản tiếng Đức xuất bản năm 1883, Ph.Ăngghen chỉ rõ: "T tởng cơ bản và chủ
đạo của "Tuyên ngôn" là: Trong mọi thời đại lịch sử, sản xuất kinh tế và cơ cấu
15
xã hội - cơ cấu này tất yếu phải do sản xuất kinh tế mà ra - cả hai cái đó cấu
thành cơ sở của lịch sử chính trị và lịch sử t tởng của thời đại ấy" [46, tr. 11].
Chúng ta có thể diễn đạt quan điểm trên:
Hình thái kinh tế - xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy
vật lịch sử, dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một
kiểu quan hệ sản xuất đặc trng cho xã hội đó phù hợp với một trình độ
nhất định của lực lợng sản xuất và với một kiến trúc thợng tầng tơng
ứng đợc xây dựng trên những quan hệ sản xuất ấy [27, tr. 59].
HTKT-XH là khái niệm bao quát các xã hội cụ thể ở những mặt cơ bản
nhất là LLSX, QHSX và KTTT, ở những quy luật cơ bản nhất là quy luật về sự
phù hợp của QHSX với trình độ LLSX và quy luật về mối quan hệ biện chứng
giữa CSHT với KTTT.
Việc phát hiện các quy luật chi phối sự vận động của HTKT-XH đã bao
hàm quan điểm về "quá trình vận động lịch sử - tự nhiên" của nó. Mỗi một
HTKT-XH đều là một chỉnh thể toàn vẹn luôn luôn vận động và phát triển. Sự
vận động phát triển của các HTKT-XH, xét đến cùng là do sự phát triển LLSX
quy định và luôn luôn tuân theo những quy luật khách quan. Do sự tác động của
các quy luật khách quan, trong đó quyết định nhất là quy luật về sự phù hợp của
QHSX với tính chất và trình độ của LLSX, mà các HTKT-XH vận động nh một
quá trình lịch sử tự nhiên. Tức là xuất phát từ sự vận động của LLSX, khi đạt tới
một trình độ mới, sẽ làm thay thế QHSX hiện tồn đã trở thành lạc hậu bằng một
QHSX mới cao hơn và khi có QHSX mới, nó sẽ tác động làm cho KTTT xã hội
mới ra đời phù hợp. Khi đó cũng có nghĩa một HTKT-XH cao hơn đã bắt đầu
xuất hiện. Con đờng phát triển đó vừa là kết quả của hoạt động con ngời, vừa
tuân theo những quy luật khách quan. Chính con đờng phát triển lịch sử - tự
nhiên của HTKT-XH đã tạo ra xu thế phát triển liên tục của xã hội từ hình thái
thấp lên hình thái cao hơn theo cả hai khuynh hớng, trình tự hoặc rút ngắn, tùy
từng điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia.
16
Nh vậy có thể thấy học thuyết HTKT-XH là một học thuyết hoàn chỉnh,
đa lại một cách tiếp cận về xã hội hoàn toàn mới. Sự ra đời của học thuyết đã đa
lại một thế giới quan và phơng pháp luận mới, mang bản chất khoa học và cách
mạng trong nhận thức và cải tạo xã hội.
Với nội dung nh vậy, học thuyết "hình thái" có một giá trị khoa học và
cách mạng sâu sắc. Giá trị khoa học và cách mạng của học thuyết gắn liền với
nhau, không thể tách bạch. Trong tính khoa học đã bao hàm tính cách mạng và
ngợc lại. Giá trị khoa học và cách mạng của học thuyết bao hàm nhiều vấn đề,
song có thể nhận thức giá trị của nó ở những điểm chính.
Một là: Học thuyết đã đa lại một cách tiếp cận khoa học và cách mạng
trong nhận thức về xã hội.
Trớc khi học thuyết HTKT-XH xuất hiện, tất cả các quan điểm giải thích
về lịch sử đều lúng túng trớc tính phức tạp của đời sống xã hội và vì vậy đã đi vào
cắt nghĩa lịch sử hoặc từ những nguyên nhân tinh thần ý thức, hoặc từ một vài
yếu tố riêng lẻ nào đó. Do đó tất cả các quan điểm nghiên cứu về xã hội trớc đó,
hoặc rơi vào lập trờng duy tâm chủ nghĩa, hoặc rơi vào quan điểm duy vật siêu
hình, trong đó lập trờng duy tâm chủ nghĩa thống trị. Với sự xuất hiện của học
thuyết "hình thái", lần đầu tiên đã đa lại một cách giải thích lịch sử duy vật khoa
học, đã đẩy chủ nghĩa duy tâm ra khỏi "cái hầm trú ẩn" cuối cùng của nó, đã
đem lại một cuộc cách mạng trong nhận thức về lĩnh vực xã hội. Học thuyết đã
đa ra một cách nhìn khoa học về nguyên nhân, động lực của sự phát triển lịch sử,
về sự phân loại các chế độ xã hội và sự phân kỳ lịch sử nói chung.
Phơng pháp duy vật khoa học của học thuyết đợc biểu hiện ngay ở việc
xác định căn cứ xuất phát đầu tiên để nghiên cứu lịch sử. Nếu nh các quan điểm
trớc đó xuất phát từ những tiền đề tinh thần, từ những cá nhân trừu tợng phi hiện
thực thì C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định t tởng về xã hội của mình dựa trên
một tiền đề vững chắc: "Nó xuất phát từ những tiền đề hiện thực và không phút
17
nào xa rời những tiền đề ấy" [39, tr. 38]. Đó là con ngời hiện thực, đang sống,
đang hoạt động trong thực tiễn.
Xuất phát từ tiền đề hiện thực đó, C.Mác và Ph.Ăngghen đã xem xét vai
trò của nền sản xuất xã hội, chỉ ra cơ cấu cơ bản và phổ biến của nó, chỉ ra những
quan hệ tất yếu, những quy luật chi phối sự vận động của nó. ở đây các ông đã
rút ra những kết luận khoa học về vai trò của các yếu tố LLSX và QHSX, về quy
luật QHSX phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX.
Từ quan niệm về vai trò nền tảng của nền sản xuất vật chất, C.Mác và Ph.
Ăngghen tiếp tục xem xét quan hệ của nó tới các mặt khác của xã hội, chỉ ra vai
trò của các nhân tố trong KTTT xã hội và quan hệ biện chứng giữa các nhân tố
đó với cơ sở kinh tế.
Nh vậy, nhất quán với cách tiếp cận duy vật biện chứng C.Mác và Ph.
Ăngghen đã phát hiện ra những mặt cơ bản của HTKT-XH và các quy luật cơ
bản chi phối sự vận động phát triển của nó. Những phát hiện đó cho phép C.Mác
và Ph.Ăngghen đã xây dựng nên một hệ thống quan điểm hoàn chỉnh, phản ánh
quan hệ nội tại giữa LLSX, QHSX và đời sống chính trị, t tởng, từ đó chỉ ra kết
cấu và các quy luật chung của sự vận động xã hội [74]. Hệ thống quan điểm
hoàn chỉnh đó đã đem lại một quan niệm mới trong nghiên cứu xã hội. Quan
điểm đó xem xét xã hội nh một chỉnh thể, một hệ thống toàn vẹn của các lĩnh
vực và các quan hệ xã hội. Trong các lĩnh vực và các quan hệ xã hội đó thì lĩnh
vực kinh tế và các quan hệ vật chất bao giờ cũng giữ vai trò quyết định các lĩnh
vực và các quan hệ xã hội khác. Trong lĩnh vực kinh tế và các quan hệ vật chất
của xã hội thì LLSX và QHSX là những nhân tố cốt lõi tạo thành nền tảng của xã
hội. V.I.Lênin đã cho rằng bằng cách "đem quy những quan hệ xã hội vào những
quan hệ sản xuất, và đem quy những quan hệ sản xuất vào trình độ của những lực
lợng sản xuất" [33, tr. 163], C.Mác đã tạo ra một cơ sở khoa học vững chắc trong
nghiên cứu về xã hội. Cách nhìn mới đó đòi hỏi xem xét xã hội phải đánh giá
đúng vị trí, vai trò của các nhân tố hợp thành nó nhng lại không đợc tuyệt đối hóa
18
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét