LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu TIỂU LUẬN: Mở rộng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Sở giao dịch ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam pdf": http://123doc.vn/document/1049036-tai-lieu-tieu-luan-mo-rong-tin-dung-doi-voi-doanh-nghiep-vua-va-nho-tai-so-giao-dich-ngan-hang-ngoai-thuong-viet-nam-pdf.htm
khiến cho người lao động phải đi vay nhằm giải quyết khó khăn cuộc sống hoặc đảm
bảo sản xuất.
Đặc điểm của tín dụng nặng lãi là lãi suất rất cao, 40- 50%, thậm chí là 100% hay
200% và mục đích vay thường để tiêu dùng và giải quyết khó khăn cuộc sống hơn là
để phục vụ sản xuất kinh doanh. Vì lãi suất quá cao nên chi phí trả lãi lớn hơn cả khả
năng sinh lời của nhà sản xuất. Do vậy, các nhà sản xuất kinh doanh nếu vay mượn
không thể nào có lợi nhuận để tái sản xuất. Nhưng đối với người tiêu dùng, họ vẫn
phải chấp nhận vay vì không còn sự lựa chọn nào khác. Chính vì thế, cho vay nặng lãi
thường kìm hãm sản xuất, khiến cho sản xuất không thể nào phát triển được, làm bần
cùng hoá và phân hoá giai cấp thúc đẩy sự ra đời phương thức sản xuất mới.
Tuy cho vay nặng lãi là quan hệ tín dụng bất công, làm phát sinh nhiều tiêu cực
nhưng ở một số nơi, nó vẫn tồn tại đến ngày nay. Nguyên nhân tồn tại của nó xuất phát
từ sự chậm phát triển của các hình thức tín dụng khác.Ở những quốc gia mà hệ thống
tài chính càng phát triển thì các hình thức tín dụng khác như: Tín dụng thương mại, tín
dụng ngân hàng… phát triển hơn và đẩy lùi tín dụng nặng lãi.
Trong nền kinh tế thị trường, quan hệ sản xuất và trao đổi hàng hoá đặc biệt phát
triển, từ đó thúc đẩy quan hệ tín dụng phát triển theo. Điều này được biểu hiện ở chỗ là
nhiều tổ chức tín dụng ra đời và phát triển mạnh và các doanh nghiệp muốn sử dụng
vốn tín dụng nhiều hơn bên cạnh nguồn vốn chủ sở hữu nhằm mở rộng và phát triển
sản xuất. Các chủ thể tham gia trong quan hệ tín dụng ngày càng phong phú và đa
dạng, kể cả quan hệ gián tiếp thông qua các định chế tài chính trung gian.
Theo Lụât các tổ chức tín dụng của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
“ hoạt động tín dụng bao gồm cho vay, cho thuê tài chính, chiết khấu, bảo lãnh và một
số hoạt động khác do Ngân hàng Nhà nước qui định”.
* Tín dụng ngân hàng: là “ tín dụng bằng tiền do ngân hàng, các tổ chức tín
dụng đứng ra làm trung gian, cầu nối giữa người có vốn cho vay và người cần có vốn
để sử dụng. Xét trên quan hệ giữa người cho vay và ngân hàng thì ngân hàng là người
vay nợ, còn trên quan hệ giữa người vay vốn với ngân hàng thì ngân hàng là chủ nợ”.
Quan hệ tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng phát triển cao của nền kinh tế tiền
tệ. Nó nảy sinh do yêu cầu khách quan của sự phát triển cao của sản xuất, lưu thông
hàng hoá, dịch vụ trong cơ chế thị trường. Nó ra đời nhằm giải quyết quan hệ cung
cầu, điều hoà quan hệ cung cầu trong nền kinh tế.
* Đặc trưng:
Tín dụng ngân hàng là một loại tín dụng. Do đó, nó vừa mang những đặc trưng
của tín dụng nói chung, lại vừa mang những đặc điểm riêng của mình.
- Đặc trưng chung:
+ Nhượng quyền sử dụng vốn, chứ không nhượng quyền sở hữu
+ Có thời hạn quy định
+ Phải trả lãi theo lãi suất trên số tiền vay và thời gian cho vay
- Đặc điểm riêng của tín dụng ngân hàng:
+ Đây là tín dụng bằng tiền
+ Ngân hàng, tổ chức tín dụng là trung gian tài chính
+ Ngân hàng vừa là người vay nợ, vừa là người chủ nợ
Tuy nhiên, ở đề tài này, tín dụng ngân hàng được xem xét trên giác độ: Ngân
hàng là người chủ nợ.
1.1.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng:
Ngân hàng thương mại (NHTM) là người trung gian chuyển vốn từ nơi thừa sang
nơi thiếu bằng nghiệp vụ tín dụng nhằm khắc phục tình trạng thừa thiếu vốn, phát huy
hiệu quả sử dụng vốn. Việc luân chuyển vốn xuất phát từ lợi ích của cả hai bên.
* Những nguồn vốn nhàn rỗi được huy động từ các tổ chức kinh tế ( TCKT), cá
nhân hình thành nguồn vốn lớn của các tổ chức tín dụng, rồi cung ứng tín dụng đối với
các đối tượng khách hàng có nhu cầu về vốn: Chính Phủ, doanh nghiệp, cá nhân….
* Đáp ứng các nhu cầu vốn của các doanh nghiệp:
Các doanh nghiệp luôn luôn cần bổ sung nguồn vốn để đầu tư đổi mới: đổi mới
công nghệ, mở rộng qui mô sản xuất kinh doanh, khai thác năng lực doanh nghiệp,
nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra các sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu tiêu dùng
ngày càng cao của nhân dân. Đây là nhu cầu thường xuyên và rất lớn.
* Nhu cầu vốn của dân cư:
Nhu cầu vốn của dân cư gồm : Nhu cầu vốn cho sản xuât và nhu cầu tiêu dùng
trong đời sống. Vì vậy, nảy sinh ra 2 loại tín dụng: Tín dụng cho sản xuất kinh doanh
và tín dụng tiêu dùng. Nhu cầu vốn ngày càng lớn do sự khuyến khích phát triển kinh
tế cá thể, kinh tế hộ gia đình trong nền kinh tế nhiều thành phần và do nhu cầu tiêu
dùng trong đời sống ngày càng đa dạng và phong phú vì thu nhập của họ ngày càng
cao.
* Nhu cầu của Nhà nước:
Từ trước tới nay, hầu hết các Nhà nước luôn ở tình trạng thiếu tiền để chi tiêu cho
việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình.
Một trong những cách để bù đắp bội chi Ngân sách, Nhà nước có thể vay từ ngân
hàng và các tổ chức tín dụng khác trong nền kinh tế.
* Thúc đẩy thị trường tài chính phát triển:
Các tổ chức, cá nhân có vốn tạm thời chưa sử dụng tới, có thể chuyển nhượng cho
các tổ chức, cá nhân khác thông qua 2 có đường:
- Phân phối trực tiếp từ người cho vay sang người vay, không qua trung gian.
- Phân phối gián tiếp: Phân phối qua các định chế tài chính: ngân hàng, quỹ tín
dụng nhân dân…
Cách phân phối này có thể giảm tối đa rủi ro có thể xảy ra, tạo thu nhập đối với
người cho vay vì: Các định chế tài chính là những người chuyên nghiệp hoạt động
trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ.
* Đây là hoạt động mang lại thu nhập đáng kể cho ngân hàng:
Tín dụng là hoạt động quan trọng, chiếm tỷ trọng cao trong tổng tài sản, tạo ra
khoản thu nhập từ lãi lớn và đây cũng là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro cho ngân hàng.
1.1.3. Quy trình cấp tín dụng trong các ngân hàng thương mại:
1.1.3.1. Tiếp nhận hồ sơ tín dụng từ khách hàng:
Các TCKT, cá nhân muốn vay vốn tại các NHTM phải đáp ứng được các yêu cầu
đảm bảo an toàn tín dụng. TCKT, cá nhân phải xuất trình hồ sơ vay vốn hợp lệ theo
qui định của ngân hàng.
1.1.3.2. Phân tích tín dụng trước khi cấp tín dụng:
Đây là bước quan trọng, quyết định chất lượng của khoản tín dụng được cấp. Nội
dung chủ yếu là thu thập và xử lý các thông tin liên quan tới khách hàng, bao gồm:
Năng lực sử dụng vốn vay và uy tín, khả năng tạo ra lợi nhuận và nguồn ngân quỹ,
quyền sở hữu các tài sản và các điều kiện kinh tế khác có liên quan tới người cay.
Thu thập và xử lý các thông tin:
Để có được thông tin về khách hàng, cán bộ tín dụngcó thể phỏng vấn trực tiếp,
mua bán và tìm kiếm các thông tin thông qua các trung gian như: qua các cơ quan
quản lý, bạn hàng, chủ nợ của người vay, các trung tâm thông tin và tư vấn…
Tìm hiểu về khách hàng trong một thời gian ngắn là không hề đơn giản. Một trong
các cách để có được thông tin về người vay là thông qua báo cáo tài chính của họ. Các
báo cáo này cho biết số liệu trong nhiều năm. Do đó, nó sẽ giúp ngân hàng có những
cơ sở dự đoán tình hình của khách hàng trong tương lai gần.
Nội dung phân tích:
- Đánh giá tài sản của khách hàng: Đây được coi là các tài sản đảm bảo cho các
khoản vay khi khách hàng mất khả năng sinh lời.
- Ngân quỹ, chứng từ có giá, hàng tồn kho: Ngân hàng có thể dựa vào các tài sản
này để đánh giá tính thanh khoản của chúng, và cũng là một trong các yếu tố ảnh
hưởng tới quyết định cho vay đối với khách hàng.
- Tài sản cố định: gồm: nhà cửa, trang thiết bị… là đối tượng tài trợ trung và dài
hạn.
- Đánh giá các khoản nợ: Ngân hàng xem xét các khoản nợ đến hạn trong năm và
các khoản phải trả trong các năm sau. Thông thường, các khoản vay ngắn hạn dùng tài
trợ cho tài sản lưu động, còn các khoản nợ trung và dài hạn để mua sắm các tài sản cố
định. Nếu khoản cho vay của ngân hàng phải trả trong năm thì các khoản nợ đến hạn
và ngân quỹ trong năm của ngân hàng là 2 yếu tố chính tạo nên quyết định của ngân
hàng.
Phân tích luồng tiền:
Nếu lợi nhuận là chỉ tiêu quan trọng phản ánh khả năng sinh lời thì chênh lệch
dòng tiền vào và ra lại là chỉ tiêu quan trọng đối với việc dự đoán các vấn đề tín dụng
trong tương lai. Tuy nhiên, nhiều khảon mục liên quan tới dòng tiền không được chỉ
dẫn đầy đủ trong bảng cân đối tài sản của công ty như: phần lớn luồng tiền sau 12
tháng đều không được ghi vào bảng cân đối … Bạn hàng là nguồn tiền quan trọng để
trả nợ song bảng cân đối đề cập rất ít.
Sử dụng các tỷ lệ:
Để quá trình phân tích tín dụng được thực hiện với thời gian ngắn và phần nào
được tiêu chuẩn hoá, các ngân hàng đều cố gắng xây dựng các tỷ lệ phản ánh năng lực
tài chính của người vay có liên quan tới khả năng trả nợ.
- Nhóm tỷ lệ thanh khoản: Đo khả năng của người vay trong việc đáp ứng trách
nhiệm tài chính ngắn hạn.
Khả năng thanh toán
hiện hành
=
Tài sản lưu động
Nợ ngắn hạn
Trong đó: Tài sản lưu động gồm tiền, các chứng khoán ngắn hạn dễ chuyển
nhượng.
Khả năng thanh toán
nhanh
=
Tài sản lưu động - Dự trữ
Nợ ngắn hạn
Nếu cho vay trong thời gian ngắn 2 – 3 tháng thì ngân hàng quan tâm nhiều tới khả
năng thanh toán nhanh, còn vay từ 9-12 tháng, ngân hàng lại chú ý tới khả năng thanh
toán hiện hành.
- Nhóm tỷ lệ sinh lời: Đo khả năng tạo lợi nhuận của người vay.
Tỷ lệ thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở hữu:
ROE
=
Thu nhập sau thuế
Vốn chủ sở hữu
Doanh lợi tài sản:
ROA
=
Thu nhập sau thuế
Tài sản
- Nhóm tỷ lệ rủi ro: Rủi ro rất đa dạng, có thể tiếp cận rủi ro của người vay như
sau:
+ Sản xuất: Doanh nghiệp có bao nhiêu nguồn cung cấp nguyên vật liệu? Chi phí?
Lao động? Vốn? Tính phụ thuộc vào các doanh nghiệp khác như thế nào? Rủi ro trong
việc sử dụng trang thiết bị là gì?
+ Nhân sự: yếu tố làm tăng năng suất lao động? Khuyến khích người lao động?
Rủi ro của đình công?
+ Tài chính: Sự chịu đựng của doanh nghiệp đối với lãi suất? Có bao nhiêu cách
huy động tiền ? Việc đa dạng các nguồn thu?
+ Tiếp thị: Các nhân tố tác động tới bán hàng? Cầu co dãn đối với giá? Thu nhập
co dãn? Bao nhiêu sản phẩm thay thế? Nhập khẩu? Chiến lược cạnh tranh?
+ Chính sách của Chính phủ: Bảo vệ nhập khẩu? Trợ cấp xuất khẩu? Hợp đồng
với Nhà nước? Giấy phép đối với sản phẩm mới?
- Nhóm tỷ lệ đo khả năng tài trợ bằng vốn chủ sở hữu: Cho thấy sức mạnh tài
chính của người vay. Vì thông thường, Doanh nghiệp dùng vốn chủ sở hữu để tài trợ
một phần cho tài sản lưu động và tài sản cố định.
Tỷ lệ tài trợ bằng vốn chủ sở hữu = Vốn chủ sở hữu / Tổng tài sản
Các điều kiện kinh tế khác: Khủng hoảng kinh tế, thiên tai lũ lụt…. cũng sẽ ảnh
hưởng tới khả năng trả nợ của khách hàng.
1.1.3.3. Xây dựng và kí kết hợp đồng tín dụng:
Sau khi thẩm định, ngân hàng thấy phương án sản xuất kinh doanh khả thi cũng
như tình hình tài chính và các điều kiện khác doanh nghiệp đều đáp ứng được thì ngân
hàng sẽ quyết định cấp tín dụng cho doanh nghiệp, biểu hiện bằng việc kí kết một hợp
đồng tín dụng.
Hợp đồng tín dụng là văn bản viết ghi lại thoả thuận giữa khách hàng và ngân
hàngvới nội dung chủ yếu : ngân hàng cam kết cấp cho khách hàng một khoản tín
dụng trong một khoảng thời gian và lãi suất nhất định. Hợp đồng bao gồm một số điều
kiện về lãi suất, phí, hạn mức tín dụng, thời gian và tài sản đảm bảo cũng như các
quyền sở hữư, định giá… đối với các tài sản này……
1.1.3.4. Giải ngân và kiểm soát trong khi cấp tín dụng:
Sau khi hợp đồng tín dụng được kí kết, ngân hàng có trách nhiệm cấp tiền cho
khách hàng như thoả thuận. Kèm theo việc cấp tín dụng, ngân hàng kiểm soát khách
hàng: Sử dụng tiền vay có đúng mục đích và đúng tiến độ không?, quá trình kinh
doanh có những bất lợi hay có dấu hiệu lừa đảo nào? …Quá trình này cho phép ngân
hàng có thông tin thêm về khách hàng. Nếu những thông tin phản ánh chiều hướng tốt,
cho thấy chất lượng tín dụng đang được đảm bảo. Ngược lại, khi khoản tín dụng bị đe
doạ, ngân hàng sẽ có biện pháp xử lý kịp thời : thu hồi nợ trước hạn, ngừng giải ngân
nếu bên vay vi phạm hợp đồng.
1.1.3.5. Thu nợ và đưa ra các phán quyết mới:
Quan hệ tín dụng kết thúc khi ngân hàng thu hồi hết gốc và lãi. Các khoản tín
dụng đảm bảo hoàn trả đầy đủ và đúng hạn. Một số trường hợp, các khoản tín dụng
không hoàn trả hay không hoàn trả đúng hạn cho thấy khách hàng đang gặp vấn đề.
Ngân hàng tìm hiểu, xem xét để kịp đưa ra các quyết định liên quan tới an toàn tín
dụng.
1.1.4. Phân loại các loại hình tín dụng:
1.1.4.1. Phân loại theo thời gian:
Cách phân loại này có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì: Thời gian liên
quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lợi của tín dụng cũng như khả năng hoàn trả
của khách hàng:
Bao gồm: Tín dụng ngắn hạn: Từ 12 tháng trở xuống
Tín dụng trung hạn: Trên 1 năm đến 5 năm
Tín dụng dài hạn : Trên 5 năm
Tài sản lưu động thường có vòng quay trên một vòng trong một năm. Do đó, ngân
hàng sẽ cấp tín dụng ngắn hạn.
Tài sản cố định : phương tiện vận tải, nhà xưởng, công trình xây dựng… có giá trị
lớn và thời gian sử dụng lâu nên được tài trợ bằng tín dụng trung và dài hạn.
1.1.4.2. Phân theo hình thức: Gồm: Chiết khấu, cho vay, bảo lãnh và cho thuê.
- Chiết khấu thương phiếu: là việc ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàng tương
ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi thu nhập của ngân hàng để sở hữu một thương
phiếu chưa đến hạn.( hay một giấy nợ)
Đây là hình thức trao đổi trái quyền. Tuy nhiên, đối với ngân hàng, việc bỏ ra một
khoản tiền hiện tại để thu về một khoản lớn hơn trong tương lai với lãi suất xác định
trước được coi như hoạt động tín dụng.
- Cho vay : là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng
phải hoàn trả cả gốc và lãi trong một thời gian xác định.
- Bảo lãnh: là việc ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính hộ khách
hàng của mình. Mặc dù không phải xuất tiền ra, song ngân hàng đã cho khách hàng sử
dụng uy tín của mình để thu lợi.
- Cho thuê: là việc ngân hàng bỏ tiền ra mua tài sản để cho khách hàng thuê theo
những thoả thuận nhất định. Sau một thời gian, khách hàng hoàn trả gốc và lãi cho
ngân hàng.
1.1.4.3. Phân loại theo tài sản đảm bảo:
Tài sản đảm bảo (TSĐB) các khoản tín dụng cho phép ngân hàng có được nguồn
thu nợ thứ hai bằng cách bán tài sản đó khi nguồn thu nợ thứ nhất từ quá trình sản
xuất kinh doanh không có hoặc không đủ.
- Tín dụng có đảm bảo: Bằng uy tín của khách hàng, bằng cầm cố, bằng thế
chấp…
- Tín dụng không cần tài sản đảm bảo: Thường áp dụng đối với các khách hàng
làm ăn thường xuyên có lãi, tình hình tài chính vững mạnh, ít nợ nần…; các khoản cho
vay theo Chỉ thị của Chính phủ không cần tài sản đảm bảo….
1.1.4.4. Phân loại tín dụng theo rủi ro:
- Tín dụng lành mạnh: Các khoản tín dụng có khả năng thu hồi cao
- Tín dụng có vấn đề: Các khoản tín dụng có dấu hiệu không lành mạnh: Kách
hàng gặp thiên tai, tiêu thu hàng chậm, trì hoãn nộp báo cáo tài chính…
- Nợ quá hạn có khả năng thu hồi: là các khoản nợ đã quá hạn với thời gian ngắn
và khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, TSĐB có giá trị lớn…
- Nợ quá hạn khó đòi: Nợ quá hạn quá lâu, khả năng trả nợ rất kém, tài sản thế
chấp nhỏ, khách hàng chây ì…
Cách phân loại này giúp ngân hàng đánh giá lại tính an toàn của các khoản tín
dụng, trích lập dự phòng tổn thất kịp thời.
1.1.4.5. Phân loại khác:
Theo ngành kinh tế: Tín dụng công nghiệp, tín dụng nông nghiệp…
Theo mục đích: Tín dụng sản xuất, tín dụng tiêu dùng…
1.2.Doanh nhiệp vừa và nhỏ:
1.2.1.Khái niệm:
Cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa chung về doanh nghiệp vừa và nhỏ (
DNVVN). Tiêu chí để xác định DNVVN cũng rất đa dạng và phong phú: Tổng vốn
đầu tư được huy động vào sản xuất kinh doanh, giá trị tài sản cố định, số lượng lao
động được sử dụng thường xuyên, lợi nhuận, vốn bình quân cho một lao động
Trước năm 1998, ở Việt Nam có nhiều quan điểm về DNVVN như: Số lao động
dưới 500 người, giá trị tài sản cố định dưới 10 tỷ đồng, số dư vốn lưu động dưới 8 tỷ
đồng và doanh thu hàng tháng dưới 20 tỷ đồng.
Cũng có quan điểm phân lạo DNVVN theo lĩnh vực: Trong lĩnh vực sản xuất ,
những doanh nghiệp có số vốn dưới 1 tỷ đồng và số lao động dưới 100 người là các
doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp có vốn từ 1 đến 10 tỷ đồng và số lao động từ 100 đến
500 người là doanh nghiệp vừa. Trong thương mại và dịch vụ, doanh nghiệp có số vốn
dưới 500 triệu đồng và dưới 50 lao động là những doanh nghiệp nhỏ và những doanh
nghiệp có từ 500 triệu đến 5 tỷ đồng và từ 50 tới 250 lao động là các doanh nghiệp
vừa.
Hiện tại, khái niệm DNVVN được xác định dưa trên 2 tiêu chí:
- Tổng vốn đầu tư:
- Số lao động sử dụng: Đây là tiêu chí không dễ dàng chịu ảnh hưởng của những
khác biệt giữa các quốc gia về mức thu nhập cũng như những thay đổi trong giá trị
đồng tiền nội địa hiện hành qua các thời kì khác nhau.
Theo Nghị định 90/2001/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNVVN, “DNVVN là
doanh nghiệp có số vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng và lao động dưới 300 người”.
Nghị định trên áp dụng đối với các DNVVN bao gồm:
- Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp
- Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước
- Hợp tác xã thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã
- Các hộ kinh doanh cá thể đăng kí theo Nghị định số 02/2000/NĐ-CP của Chính
phủ về đăng ký kinh doanh
1.2.2. Đặc điểm của DNVVN:
Đặc điểm của DNVVN xuất phát trước hết từ chính quy mô của nó. Cũng như các
DNVVN trên thế giới, với quy mô nhỏ, DNVVN Việt Nam cũng có những đặc điểm
tương tự như ở các quốc gia khác nhưng cũng có những đặc trưng riêng.
Đây là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ cả về vốn lẫn lao động. Đặc điểm
này làm cho DNVVN gặp nhiều khó khăn trong hoạt động của mình.
Khả năng quản lý còn hạn chế:
Hầu hết các chủ doanh nghiệp vừa là người quản lý vừa là người trực tiếp tham giá
vào quá trình sản xuất nên mức độ chuyên môn trong quản lý không cao. Đôi khi, việc
tách bạch giữa các bộ phận không rõ ràng. Đa số chủ doanh nghiệp không được đào
tạo qua khoá quản lý chính quy, thậm chí chưa qua một khoá đào tạo nào.
Trình độ tay nghề của người lao động thấp:
Do hạn chế về nguồn tài chính, chế độ chính sách tiền lương và tiền thương không cao,
đặc biệt là do tính không ổn định của các DNVVN, nhiều doanh nghiệp manh mún,
hoạt động phân tán, thường sản xuất theo thời vụ nên không thu hút người lao động có
kỹ năng và tay nghề.
Công nghệ lạc hậu:
Đây là đặc trưng điển hình ở các DNVVN, làm cho năng suất lao động thấp,
chất lượng sản phẩm cũng như giá thành sản phẩm cao, hạn chế cạnh tranh trong và
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét