LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "phương hướng phát triển và giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài của tổng công ty lắp máy việt nam": http://123doc.vn/document/1051282-phuong-huong-phat-trien-va-giai-phap-tang-cuong-thu-hut-von-dau-tu-nuoc-ngoai-cua-tong-cong-ty-lap-may-viet-nam.htm
A.Samuelson ví hoạt động sản xuất và đầu tư của những nước này như là một vòng
đói nghèo luẩn quẩn
Đồ thị 1.1 Vòng luẩn quẩn
Nguồn: Paul A. Samuelson, Economics, McGraw-Hill
Đồ thị 1.1 cho thấy thu nhập dẫn đến tiết kiệm và đầu tư thấp, tiết kiệm và
đầu tư thấp sẽ cản trở đến quá trình phát triển của vốn và làm cho tích tụ vốn thấp,
không có đủ vốn cho đầu tư, không có đủ vốn cho đầu tư sẽ làm cho năng lực sản
xuất của quốc gia đó giảm, năng lực sản xuất giảm đẫn đến thu nhập và lại quay trở
lại chu kỳ ban đầu. Vòng luẩn quẩn đói nghèo cứ lặp đi lặp lại theo chu kỳ như trên.
Do vậy, để phá vỡ vòng luẩn quẩn, các nước nghèo và đang phát triển phải tạo ra
“một cú huých lớn” để phá vỡ vòng luẩn quẩn này. Một trong những khâu của vòng
luẩn quẩn đó là vốn dành cho đầu tư phát triển. Biện pháp hữu hiệu nhất có thể coi
là bước đột phá để phá vỡ vòng luẩn quẩn đó là tăng vốn cho đầu tư, huy động các
nguồn lực để phát triển nền kinh tế để tạo ra tăng trưởng kinh tế dẫn đến thu nhập
tăng. Vốn đầu tư được huy động chủ yếu từ nguồn vốn trong nước và vốn nước
ngoài. Vốn trong nước được hình thành thông qua tiết kiệm và đầu tư. Vốn nước
ngoài được hình thành thông qua vay thương mại, đầu tư gián tiếp và đầu tư trực
tiếp. Như vậy, thu hút đầu tư nước ngoài là một biện pháp để tăng trưởng nguồn
vốn tạo một cú huých lớn để phá vỡ vòng luẩn quẩn. Đối với nền kinh tế Việt Nam,
thời kỳ 1991-1995 vốn đầu tư nước ngoài chiếm trên 25% tổng vốn đầu tư xã hội,
Trương Thị Hà Phương Lớp: Kinh tế quốc tế K46
Tiết kiệm và
đầu tư thấp
Thu nhập
bình quân
thấp
Tốc độ tích
luỹ vốn thấp
Năng suất
thấp
5
Khoá luận tốt nghiệp
thời kỳ 1996-2000 số vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,8 lần so với giai đoạn trước đó,
chiếm 24% tổng vốn đầu tư xã hội. Giai đoạn 2000-2005 đầu tư nước ngoài có sự
gia tăng mạnh mẽ, sang năm 2006 số vốn đầu tư nước ngoài tăng vượt bậc với tổng
số vốn 10,2 tỷ USD.
Hoạt động đầu tư trực tiếp còn có vai trò đặc biệt quan trọng đối với quá
trình phát triển khoa học- công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất và năng suất lao
động cho các doanh nghiệp tiếp nhận vốn đầu tư.
Các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp trong nền kinh tế có trình độ
công nghiệp kém như nước ta để có công nghệ mới và tiên tiến phục vụ cho hoạt
động sản xuất thì cần phải có quá trình chuyển giao công nghệ từ các nước phát
triển. Tuy vậy, việc chuyển giao công nghệ công nghệ trong thời đại hiện nay khác
nhiều so với ba bốn thập kỷ trước. Nhận thức về chuyển giao công nghệ cũng đã
thay đổi, việc chuyển giao không chỉ đơn thuần là chuyển giao các máy móc, thiết
bị mà chuyển giao liên quan đến việc sử dụng dây chuyền công nghệ, kỹ năng sử
dụng công nghệ và phần mềm công nghệ. Hiện nay, việc chuyển giao công nghệ từ
nước có công nghệ phát triển sang các nước tiếp nhận công nghệ được tiến hành
theo hai phương thức đó là chuyển giao trực tiếp và chuyển giao gián tiếp. Chuyển
giao trực tiếp là hoạt động đặt mua công nghệ hoặc yêu cầu nước có công nghệ
chuyển giao. Chuyển giao gián tiếp chủ yếu được thực hiện thông qua hình thức đầu
tư trực tiếp nước ngoài hoặc thông qua các hình thức gián tiếp khác. Do hoạt động
chuyển giao công nghệ ngày càng trở nên phức tạp nên đầu tư trực tiếp nước ngoài
đã trở thành một kênh chuyển giao công nghệ có hiệu quả nhất, nhanh nhất và tiết
kiệm chi phí nhất. Bởi vì, công nghệ đã được các công ty đa quốc gia chuyển giao
trực tiếp phần cứng (máy móc, thiết bị) và phần mềm ( quy trình hoạt động của
công nghệ ) từ nước gốc đến nước tiếp nhận đầu tư. Sau khi chuyển giao, công nghệ
trực tiếp được được các chuyên gia kỹ thuật lành nghề của nước đi đầu tư đưa vào
hoạt động mà không gặp bất kỳ khó khăn nào. Chi phí mua và chuyển giao công
nghệ thấp hốn với hình thức mua công nghệ trực tiếp. Bời vì, công nghệ là một
trong những đối tượng được bảo hộ về quyền sỡ hữu trí tuệ nên việc sao chép công
nghệ hoặc một quy trình sản xuất nên việc sao chép công nghệ khó có thể thực hiện
được. Như vậy, một dây chuyền công nghệ hoặc một quy trình sản xuất nếu mua
Trương Thị Hà Phương Lớp: Kinh tế quốc tế K46
6
Khoá luận tốt nghiệp
trực tiếp sẽ đắt hơn rất nhiều khi nó được chuyển giao giữa công ty mẹ sang công ty
con. Đây chính là ưu điểm lớn nhất về chuyển giao công nghệ trong hoạt động FDI
so với các hình thức chuyển giao công nghệ khác. Chuyển giao công nghệ thông
qua hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài đã làm cho khoảng cách công nghệ giữa
các nước đi đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư bị thu hẹp.
Hình thức chuyển giao công nghệ thông qua FDI được thực hiện thông qua:
chuyển giao bên trong và chuyển giao bên ngoài. Chuyển giao bên trong là hình
thức được chuyển giao chủ yếu nhất và được thực hiện giữa công ty mẹ (ở nước đi
đầu tư) vào chi nhánh công ty con (nước tiếp nhận đầu tư). Chuyển giao bên ngoài
được thực hiện giữa các công ty khác nhau như liên doanh với doanh nghiệp trong
nước, hợp đồng li- xăng, hỗ trợ công nghệ…Việc chuyển giao công nghệ bên trong
và bên ngoài tại nước tiếp nhận đầu tư phụ thuộc vào một số nhân tố như bản chất
công nghê, chiến lược của người chuyển giao, khả năng của bên tiếp nhận và chính
sách của nước tiếp nhận đầu tư.
Khi chuyển giao công nghệ vào các nước tiếp nhận đầu tư, bên chuyển giao
còn thực hiện hoạt động phổ biến công nghệ. Hoạt động FDI đã tạo ra hiệu ứng tích
cực đối với các doanh nghiệp của nước tiếp nhận đầu tư thông qua:
- Cạnh tranh với các doanh nghiệp trong nước sẽ thúc đẩy việc cải thiện và
nâng cao công nghệ cả doanh nghiệp trong nước góp phần vào việc sản xuất
có hiệu quả.
- Nhà đầu tư nước ngoài hợp tác với các chi nhánh hoặc doanh nghiệp nước
tiếp nhận đầu tư để phổ biến công nghệ.
- Di chuyển lao động có trình độ chuyên môn cao từ chi nhánh công ty nước
đầu tư sang doanh nghiệp nước nhận đầu tư góp phần chuyển giao công
nghệ.
- Tạo điều kiện tiếp xúc giữa các doanh nghiệp nước nhận đầu tư với các công
ty đã quốc gia có trình độ công nghệ trong quá trình phổ biến và chuyển giao
công nghệ.
Đầu tư trực tiếp có nghĩa là các nhà đầu tư nước ngoài cũng trực tiếp tham gia
điều hành sản xuất. Qua đó, các doanh nghiệp Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm
quản lý tiên tiến của các chuyên gia nước ngoài. Đồng thời dưới sức ép tuyển lao
Trương Thị Hà Phương Lớp: Kinh tế quốc tế K46
7
Khoá luận tốt nghiệp
động địa phương và chi phí thuê lao động nước ngoài cao hơn so với lao động địa
phương, các chi nhánh công ty nước ngoài hoặc doanh nghiệp có vốn FDI phải
tuyển dụng lao động địa phương. Để lao động địa phương có thể sử dụng thành thạo
những công nghệ tiên tiến đã được chuyển giao thì doanh nghiệp FDI phải có kế
hoạch đào tạo nguồn nhân lực này để đáp ứng nhu cầu của công ty.
Ngoài ra, trong các chiến lược phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của
mình, các tập đoàn lớn hay các công ty đã quốc gia luôn có chiến lược đào tạo lao
động tại chỗ để thay thế cho lao động nước ngoài. Đào tạo lao động của doanh
nghiệp FDI không chỉ dừng lại đối với những người trực tiếp sản xuất mà còn đào
tạo cả kỹ năng, trình độ cho các đối tượng làm công tác quản lý hay quản trị doanh
nghiệp. Phương thức đào tạo của các doanh nghiệp FDI rất đa dạng, có thể tiến
hành đào tạo trực tiếp người lao động thông qua các khoá học do các chuyên gia
của các công ty tiến hành hoặc kết hợp với các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước để
tiến hành đào tạo.
Các dự án đầu tư trực tiếp góp phần tạo môi trường cạnh tranh là động lực
kích thích nền kinh tế tăng trưởng về lượng cũng như về chất. Các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài với lợi thế về khoa học công nghệ hiện đại, quy mô vốn lớn
khi xâm nhập vào thị trường sẽ là một thách thức lớn đối với các doanh nghiệp Việt
Nam. Do đó, để có thể đứng vững các doanh nghiệp Việt Nam phải không ngừng
đổi mới trình độ khoa học công nghệ để có thể đứng vững trong môi trường cạnh
tranh gay gắt.
Dòng vốn đầu tư gián tiếp khi đổ vào Việt Nam sẽ trực tiếp làm tăng lượng
vốn trên thị trường vốn trong nước. Hơn nữa, khi vốn đầu tư gián tiếp gia tăng sẽ
làm phát sinh hệ quả tích cực gia tăng dây chuyền đến dòng vốn đầu tư gián tiếp
trong nước. Nói cách khác, các nhà đầu tư trong nước sẽ “nhìn gương” các nhà đầu
tư gián tiếp nước ngoài và tăng động lực bỏ vốn đầu tư gián tiếp của mình, kết quả
tổng đầu tư gián tiếp xã hội sẽ tăng lên.
Sự gia tăng dòng vốn đầu tư gián tiếp và phát triển thị trường tài chính sẽ đặt
ra những yêu cầu mới và cũng tạo các công cụ, khả năng mới cho quản lý nhà nước
nói chung và quản lý, quản trị doanh nghiệp nói riêng.
Trương Thị Hà Phương Lớp: Kinh tế quốc tế K46
8
Khoá luận tốt nghiệp
Việc quản lý và quản trị doanh nghiệp phát hành chứng khoán sẽ được thực
hiện nghiêm túc, hiệu quả hơn do yêu cầu về báo cáo tài chính doanh nghiệp và
minh bạch hóa, cập nhật hóa thông tin liên quan đến các chứng khoán mà doanh
nghiệp đã và sẽ phát hành. Hơn nữa, về nguyên tắc, các nhà đầu tư chỉ lựa chọn đầu
tư vào chứng khoán của các doanh nghiệp đáng tin cậy, đang và sẽ có triển vọng,
phát triển tốt trong tương lai. Chính điều này sẽ cho phép quá trình “chọn lọc nhân
tạo”, “bỏ phiếu” cho sự hỗ trợ và phát triển các doanh nghiệp này trở nên khách
quan và phù hợp với cơ chế thị trường hơn còn những doanh nghiệp khác mà chứng
khoán của họ không hấp dẫn sẽ phải điều chỉnh lại định hướng và chất lượng quản
trị kinh doanh, sáp nhập hoặc giải thể. Hệ thống luật pháp, cũng như các cơ quan,
bộ phận và cá nhân trong hệ thống quản lý nhà nước liên quan đến thị trường tài
chính, nhất là đến đầu tư gián tiếp nước ngoài sẽ phải được hoàn thiện, kiện toàn và
nâng cao năng lực hoạt động hơn theo yêu cầu, đặc điểm của thị trường này, cũng
như các cam kết hội nhập quốc tế. Đồng thời, thông qua tác động vào thị trường tài
chính, Nhà nước sẽ đa dạng hóa các công cụ và thực hiện hiệu quả việc quản lý của
mình theo các mục tiêu lựa chọn thích hợp. Trên cơ sở đó, năng lực và hiệu quả
quản lý nhà nước đối với nền kinh tế nói chung, thị trường tài chính nói riêng sẽ
được cải thiện hơn.
1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động thu hút đầu tư nước ngoài
1.1.2.1 Các yếu tố bên trong
Hệ thống chính trị của nước tiếp nhận đầu tư. Đây là yếu tố quan tâm hàng
đầu của các nhà đầu tư nước ngoài khi quyết định đầu tư. Khi triển khai chiến lược
đầu tư tại một quốc gia nào đó, các nhà đầu tư nước ngoài mong muốn tại quốc gia
tiếp nhận đó có một hệ thống chính trị ổn định để đảm bảo an toàn trong quá trình
đầu tư đồng thời để thực hiện được mục đích đầu tư.
Đối với quốc gia nhận đầu tư cũng mong muốn xây dựng mối quan hệ bền
vững với các quốc gia khác trên cơ sở một hệ thống chính trị ổn định, giữ vững độc
lập dân tộc trong quá trình thu hút đầu tư nước ngoài.
Một yếu tố cũng có tác động quan trọng đối với việc thu hút đầu tư nước
ngoài đó là Chính sách vĩ mô trong việc tiếp nhận đầu tư. Chính sách vĩ mô tác
động đến hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài được chia làm 2 nhóm :
Trương Thị Hà Phương Lớp: Kinh tế quốc tế K46
9
Khoá luận tốt nghiệp
- Những tác động tích cực hỗ trợ nhà đầu tư đó là : Sự thân thiện của chính
quyền địa phương thông qua các thủ tục hành chính. Hệ thống dịch vụ công minh
bạch, hiệu quả và công bằng qua việc cấp giấy phép, thủ tục hải quan, thu thuế… có
hiệu quả và không tham nhũng. Những chính sách này tạo điều kiện thuận lợi cho
quá trình triển khai dự án của các nhà đầu tư nước ngoài.
Sự ổn định, nhất quán, bình đẳng của các chính sách quản lý đối với các dự án đầu
tư và nhà đầu tư nước ngoài.
Kế hoạch, qui hoạch các vùng, các ngành nghề, lĩnh vực địa bàn … của bên
tiếp nhận đầu tư để hoạch định chương trình, kế hoạch cho công ty khi đầu tư.
- Những rào cản đối với hoạt động của nhà đầu tư như mức thuế suất, chính
sách đầu tư thiếu nhất quán, hệ thống dịch vụ công kém hiệu quả, thủ tục hành
chính rườm rà, phức tạp…
Và để thu hút được nguồn vốn đầu tư nước ngoài cần sự nỗ lực rất lớn của
nhà đầu tư. Sự nỗ lực của nhà đầu tư thể hiện qua việc xây dựng thương hiệu của
công ty, xây dựng thương hiệu để tạo lòng tin cho các nhà đầu tư nước ngoài. Sự nỗ
lực của các nhà đầu tư còn bao gồm sự nỗ lực của Nhà nước tiếp nhận đầu tư. Sự nỗ
lực của Nhà nước thể hiện ở việc xây dựng kế hoạch đầu tư, quy hoạch đầu tư cụ
thể rỏ ràng. Các hoạt động xúc tiến đầu tư của Nhà nước để thu hút các nhà đầu tư
nước ngoài.
1.1.2.2 Các nhân tố bên ngoài
Bao gồm những quy định quốc tế liên quan đến đầu tư nước ngoài. Nói cách
khác là những tác động bên ngoài đối với hoạt động của nhà đầu tư bao gồm:
- Môi trường thương mại- kinh tế quốc tế
Quan hệ giữa hai nước chủ nhà càng thân thiện, càng kích thích các nhà đầu
tư chuyển vốn đầu tư sang nhau và ngược lại. Ví dụ Hiệp định Thương mại Việt Mỹ
có hiệu lực từ năm 2001 không những làm tăng cơ hội tiếp cận thị trường Mỹ của
doanh nghiệp Việt Nam, mà còn là cơ hội để Việt Nam gia tăng thu hút nguồn vốn
FDI. Theo những báo cáo về tác động của Hiệp định Thương mại Việt Mỹ đối với
nền kinh tế Việt Nam của Bộ kế hoạch và đầu tư vào cuối tháng 5/2005:
Trương Thị Hà Phương Lớp: Kinh tế quốc tế K46
10
Khoá luận tốt nghiệp
Trước khi Hiệp định có hiệu lực, đầu tư của Mỹ vào Việt Nam chỉ tăng 3%/
năm nhưng sau khi HIệp định Thương mại có hiệu lực đầu tư của Mỹ vào Việt Nam
đã tăng 27%/năm.
Một tác động khác của Hiệp định Thương mại Việt Mỹ đối với môi trường
đầu tư ở Việt Nam là làm tăng tính minh bạch của pháp luật, mở cửa thị trường
hàng hoá và dịch vụ, giảm phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp trong nước và
nước ngoài, thông thoáng môi trường cấp phép đầu tư và thực thi sở hữu trí tuệ tốt
hơn…Mức độ hội nhập kinh tế thế giới và hội nhập khu vực của nước tiếp nhận đầu
tư càng sâu, rộng càng có tác dụng thu hút dòng chảy vốn đầu tư nước ngoài.
- Môi trường tài chính quốc tế
Hệ thống tiền tệ quốc tế : bao gồm các tổ chức tài chính quốc tế và các qui
định luật lệ đảm bảo cho sự hoạt động của các tổ chức này và ổn định tỉ giá hối đoái
trên thị trường ngoại hối quốc tế. Hệ thống tiền tệ quốc tế được hình thành trên cơ
sở thoả thuận trực tiếp giữa Ngân hàng trung ương các nước.
Hoạt động của Hệ thống tiền tệ quốc tế đặt dưới sự điều hành của Quỹ tiền tệ
quốc tế và Ngân hàng thế giới. Theo thoả thuận giữa các nước thành viên năm
1944, các nước cùng góp vốn để duy trì hoạt động của IMF và WB. Mỗi nước được
xác định mệnh giá cho đồng tiền quốc gia dựa theo chế độ bản vị vàng và USD,
IMF cho phép giá trị đồng tiền mỗi nước được phá giá trong phạm vi 1% trừ trường
hợp khẩn cấp đồng tiền mỗi nước có thể phá giá đến 10% nhưng có thời hạn và phải
được sự chấp thuận của IMF.
Tuy nhiên khi quy mô của IMF mở rộng với nhiều nước mới xin gia nhập,
IMF đưa ra yêu cầu : trong một thời gian nhất định, sau khi trở thành thành viên của
IMF, mỗi thành viên phải xác định tỷ giá tiền tệ của mình so với vàng hay một loại
ngoại tệ mạnh nào đó, nhưng chủ yếu là USD. Tỷ giá này có thể dao động ở mức
10% mà không cần có sự chấp thuận trước của IMF.
Hệ thống tỷ giá linh hoạt còn cho phép tỷ giá chịu tác động của nhiều nhân
tố khác trên thị trường như dòng chảy vốn đầu tư, chính sách vĩ mô của Nhà nước,
các thành viên trên thị trường ngoại hối
- Những quy định của WTO liên quan đến đầu tư nước ngoài
Các quy định của WTO về đầu tư nước ngoài gồm các nội dung sau :
Trương Thị Hà Phương Lớp: Kinh tế quốc tế K46
11
Khoá luận tốt nghiệp
Thứ nhất: Nguyên tắc không phân biệt đối xử : trong Quy chế tối huệ quốc có
ghi rõ về nguyên tắc không phân biệt đối xử, nguyên tắc này được hiểu theo hai cách:
+ Không phân biệt đối xử quốc gia qui định : hàng hoá, dịch vụ nhập khẩu từ
nước ngoài được đối xử không kém thuận lợi hơn so với hàng hoá, dịch vụ cùng
loại được sản xuất trong nước. Nguyên tắc này nhằm xoá bỏ sự phân biệt đối xử
giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước.
+ Không phân biệt đối xử quốc tế quy định: nước nhận đầu tư sẽ giành ưu
đãi cho nhà đầu tư của một nước khác không kém thuận lợi hơn những ưu đãi đã
giành cho các nhà đầu tư ở nước thứ ba khác khi họ đầu tư trên lãnh thổ của quốc
gia mình. Nguyên tắc này nhằm chống phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư hoạt động
trên cùng một lãnh thổ, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các nhà đầu tư.
Thứ hai: Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại
(TRIMs- Trade Related Investment Measures). TRIMs quy định các nước không
được sử dụng 5 loại biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại về đối xử quốc gia
và các quy định cấm sử dụng định lượng.
Trong thực tế, nhiều nước đang phát triển thường sử dụng những biện pháp
này để bảo hộ sản xuất trong nước. Chẳng hạn, các biện pháp hạn chế định lượng
như yêu cầu về hàm lượng nội địa, yêu cầu về cân đối thương mại, hạn chế nhập
khẩu, hạn chế khả năng tiếp cận ngoại hối, hạn chế nhập khẩu.
Tuân thủ TRIMs có nghĩa là các nước phải xoá bỏ những biện pháp hạn chế
định lượng trên đây, điều đó có thể đặt các doanh nghiệp trong nước đứng trước sự
cạnh tranh gay gắt, nhưng lại là một trong những giải pháp làm tăng tính hấp dẫn
của môi trường đầu tư, thu hút vốn đầu tư nước ngoài mạnh hơn.
Thứ ba: Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ
(TRIPs- Trade Related Intelectural Propety Right). TRIPs quy định các quyền được
hưởng quyền sở hữu trí tuệ, phạm vi duy trì và thực thi quyền sở hữu trí tuệ, khả
năng được bảo hộ và bình đẳng giữa người nước ngoài và công dân nước tiếp nhận
đối với quyền sở hữu trí tuệ.
Thông thường nhà đầu tư nước ngoài mang vốn và công nghệ vào nước sở
tại để tiến hành sản xuất- kinh doanh. Nếu quyền sỡ hữu trí tuệ của nhà đầu tư nước
Trương Thị Hà Phương Lớp: Kinh tế quốc tế K46
12
Khoá luận tốt nghiệp
ngoài không được đảm bảo họ lo ngại rằng đến một lúc nào đó sẽ bị đối tác địa
phương chiếm hữu quyền sở hữu trí tuệ.
Hơn nữa, nếu quyền sở hữu trí tuệ của nhà đầu tư không được đảm bảo còn
làm cho nạn hàng giả phát triển ảnh hưởng đến uy tín và hiệu quả kinh doanh của
nhà đầu tư.
Hiệp định TRIPs giảm độ rủi ro trong đầu tư nước ngoài và bảo đảm quyền
lợi cho các nhà đầu tư. Muốn tránh rủi ro trong đầu tư nước ngoài và tham gia vào
kinh doanh thương mại quốc tế, nhà đầu tư phải đăng ký bảo hộ các đối tượng sở
hữu công nghiệp và sở hữu trí tuệ nhằm tạo lập một cơ sở pháp lý bảo hộ cho sản
phẩm của mình.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra sâu rộng ở mọi nơi trên
thế giới, việc đăng ký bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp và sở hữu trí tuệ
càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Nhưng chỉ có 5% số doanh nghiệp Việt Nam
chú ý đến điều này dễ dàng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp khác sao chép hoặc
giành quyền sở hữu trí tuệ đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp.
Thứ tư: Tính minh bạch trong cơ chế thị trường. WTO quy định với các
Chính phủ, trong quá trình đàm phán để gia nhập WTO phải cam kết lộ trình và một
sô nội dung về cơ chế đầu tư và thương mại và thực hiện những cam kết ấy mà
không được thay đổi trong quá trình thực hiện.
WTO cũng quy định rằng Chính phủ các nước phải minh bạch hoá các chính
sách của mình bằng cách thông báo cho các bên liên quan biết những quy định hoặc
những thay đổi đối với chính sách thương mại và đầu tư.
Một nước khi tham gia WTO, phải tuân thủ các quy định của WTO về đầu
tư. Với các quy tắc này tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn hơn cho các nhà đầu tư
nước ngoài.
1.1.3 Các loại hình đầu tư quốc tế
1.1.3.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư nước
ngoài đóng góp một số vốn đủ lớn vào lĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ, cho phép họ
trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ tự bỏ vốn đầu tư.
- Đặc điểm của hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài :
Trương Thị Hà Phương Lớp: Kinh tế quốc tế K46
13
Khoá luận tốt nghiệp
+ Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một số vốn tối thiểu, tuỳ theo
quy định của Luật đầu tư từng nước. Theo quy đinh của Luật đầu tư Việt Nam “số
vốn đóng góp tối thiểu của phía nhà đầu tư nước ngoài phải bằng 30% vốn pháp
định của dự án”.
+ Quyền quản lý xí nghiệp phụ thuộc vào mức độ góp vốn, nếu đóng góp
100% vốn thì xí nghiệp hoàn toàn do chủ đầu tư nước ngoài điều hành.
+ Lợi nhuận của các chủ đầu tư nước ngoài thu được phụ thuộc vào kết quả
hoạt động kinh doanh của xí nghiệp. Lời và lỗ được chia theo tỷ lệ góp vốn trong
vốn pháp định sau khi đã nộp thuế và lợi tức cho nước chủ nhà.
- Các hình thức đầu tư trực tiếp tại Việt Nam
+ Hợp đồng hợp tác kinh doanh
Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết giữa hai bên hoặc nhiều bên
quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu
tư kinh doanh ở Việt Nam mà không hình thành pháp nhân.
Cơ sở pháp lý quan trọng của sự hợp tác trên cở sở hợp đồng là hợp đồng
hợp tác kinh doanh. Đây là văn bản được ký kết giữa bên nước sở tại và bên nước
ngoài để tiến hành đầu tư, trong đó quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh
doanh cho môi bên mà không thành lập pháp nhân mới.
Đặc điểm của hình thức đầu tư Hợp đồng hợp tác kinh doanh
- Các bên Việt Nam và nước ngoài hợp tác với nhau để tiến hành kinh doanh
sản xuất và dịch vụ tại Việt Nam trên cơ sở văn bản hợp đồng đã ký giữa hai hoặc
nhiều bên, trong Hợp đồng quy định rõ nghĩa vụ, quyền lợi và trách nhiệm của mỗi
bên tham gia.
- Các bên tiến hành hoạt động kinh doanh mà không cần lập ra một pháp
nhân mới, tức không cho ra đời công ty, xí nghiệp mới.Tuy không tổ chức dưới
dạng doanh nghiệp, nhưng hợp tác trên cơ sở hợp đồng đã hình thành nên một tổ
chức kinh doanh chung. Các bên hợp doanh cùng nhau thực hiện các công việc
chung hoặc có thể phân công nhau thực hiện từng phân công việc với tư cách của
những đơn vị độc lập.
+ Doanh nghiệp liên doanh
Trương Thị Hà Phương Lớp: Kinh tế quốc tế K46
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét