- Trình Chính phủ các dự án Luật, Pháp lệnh, các văn bản pháp quy có
liên quan đến cơ chế chính sách về quản lý kinh tế, khuyến khích đầu tư trong
và ngoài nước nhằm thực hiện cơ cấu kinh tế phù hợp với chiến lược, quy
hoạch, kế hoạch để ổn định và phát triển kinh tế - xã hội.
- Tổng hợp các nguồn lực của cả nước kể các nguồn từ nước ngoài để
xây dựng trình Chính phủ các kế hoạch dài hạn, trung hạn, ngắn hạn về phát
triển kinh tế - xã hội của cả nước và các cân đói chủ yếu của nền kinh tế quốc
dân.
- Hướng dẫn các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, ủy ban
nhân dân các Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng và cân đối tổng
hợp kế hoạch.
- Hướng dẫn, kiểm tra các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính
phủ, ủy ban nhân dân Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương trong việc thực
hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
- Làm Chủ tịch các Hội đồng cấp Nhà nước: Xét duyệt định mức kinh tế
- kỹ thuật, xét thầu quốc gia, thẩm định thành lập doanh nghiệp nhà nước; điều
phối quản lý và sử dụng nguồn ODA; cấp giấy phép đầu tư cho các dự án hợp
tác, liên doanh.
- Trình Thủ tướng Chính phủ quyết định việc sử dụng quỹ dự trữ Nhà
nước.
- Tổ chức nghiên cứu dự báo, thu thập xử lý các thông tin về phát triển
kinh tế - xã hội.
- Tổ chức đào tạo lại và bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ
công chức, viên chức trực thuộc Bộ quản lý.
- Thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực chiến lược phát triển, chính
sách kinh tế, quy hoạch và kế hoạch hóa phát triển.
5
3. Cơ cấu tổ chức của Bộ Kế Hoạch & Đầu Tư
Bộ máy tổ chức của Bộ Kế hoạch và Đầu tư theo Nghị định 75/CP gồm
21 đơn vị giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước và 8 tổ chức
sự nghiệp trực thuộc.
Khối các cơ quan giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước
bao gồm: Văn phòng Bộ, Vụ Tổ chức – Cán bộ, Vụ tổng hợp kinh tế quốc dân,
Vụ kinh tế địa phương và lãnh thổ, Vụ tài chính - tiền tệ, Cục phát triển doanh
nghiệp vừa và nhỏ, Vụ kinh tế đối ngoại, Vụ thương mại và dịch vụ, Cục đầu
tư nước ngoài, Vụ quản lý khu công nghiệp và khu chế xuất, Vụ thẩm định và
giám sát đầu tư, Vụ quản lý đấu thầu, Vụ kinh tế công nghiệp, Vụ kinh tế nông
nghiệp, Vụ kết cấu hạ tầng và đô thị, Vụ lao động – Văn hoá – Xã hội, Vụ khoa
học – giáo dục - tài nguyên và môi trường, Vụ quốc phòng - an ninh, Vụ pháp
chế, Vụ hợp tác xã, Ban thanh tra.
Khối tổ chức hành chính sự nghiệp bao gồm: Viện chiến lược phát triển,
Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TƯ, Trung tâm thông tin và dự báo kinh tế -
xã hội quốc gia, Tạp chí kinh tế và dự báo, Báo đầu tư, Trung tâm bồi dưỡng
cán bộ kinh tế - kế hoạch, Trung tâm tin học, Tạp chí khu công nghiệpViệt
Nam.
Khi mới thành lập năm 1955 Bộ chỉ có 55 người, năm 1988 biên chế của
Bộ đạt số lượng cao nhất 930 người; đến cuối năm 2006 Bộ Kế hoạch và Đầu
tư có 822 cán bộ công nhân viên, trong đó lãnh đạo Bộ có 8 người, lãnh đạo
cấp vụ và tương đương có 155 người, cán bộ, công chức có 658 người. Về trình
độ, có 2 người có học hàm giáo sư, 6 người có học hàm phó giáo sư, 6 người có
trình độ tiến sĩ khoa học, 126 người có trình độ tiến sĩ, 91 người có trình độ
thạc sĩ, 550 người có trình độ đại học và cao đẳng, 153 cán bộ đảng viên có
trình độ lý luận chính trị cao cấp, 401 người có trình độ lý luận chính trị trung
cấp.
6
4. Quy trình xây dựng, tổng hợp và theo dõi thực hiện kế hoạch
trong Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
4.1. Nguyên tắc chung.
Quy trình được xây dựng trên cơ sở Nghị định số 61/CP ngày 6/6/2003
của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy Bộ Kế
hoạch và Đầu tư, các Quyết định của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư về
chức năng, nhiệm vụ của các cục, vụ, viện, bảo đảm phù hợp với những yêu
cầu đẩy mạnh phân cấp và tiếp tục đổi mới và hoàn thiện công tác kế hoạch
hoá trong thời gian tới.
Quy trình được xác định theo những nguyên tắc sau đây:
• Quy định rõ mỗi khâu công việc có một đơn vị chủ trì và xác định
trách nhiệm đơn vị chủ trì và đơn vị phối hợp trong từng khâu công
tác để nâng cao trách nhiệm và hiệu quả công tác của từng cục, vụ,
viện và từng cán bộ trong cơ quan nhằm nâng cao hơn chất lượng
xây dựng kế hoạch.
• Bảo đảm thông tin suốt giữa các đơn vị trong Bộ, tăng cường làm
việc tập thể, dân chủ giữa đơn vị chủ trì và đơn vị phối hợp để có sự
thống nhất cao trong Bộ.
• Bảo đảm giải quyết nhanh gọn, không sót việc, có hiệu qủa những
yêu cầu các Bộ, ngành và địa phương.
4.2. Đối với kế hoạch hàng năm.
Giai đoạn I: Chuẩn bị hướng dẫn xây dựng kế hoạch hàng năm.
• Chuẩn bị chỉ thị của Thủ tướng chính phủ về xây dựng kế hoạch năm.
• Xây dựng khung hướng dẫn xây dựng kế hoạch.
Các nội dung chủ yếu để xây dựng khung hướng dẫn xây dựng kế hoạch
- Đánh giá tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của
năm kế hoạch.
7
- Định hướng phát triển của các ngành, lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi
trường năm kế hoạch tiếp theo.
- Đề xuất các giải pháp, chính sách của năm kế hoạch.
Giai đoạn II: Tổng hợp kế hoạch năm
• Chuẩn bị tổng hợp kế hoạch(từ tháng 7 đến tháng 8)
• Tổng hợp và báo cáo kế hoạch (tháng 9 và tháng 10)
Giai đoạn III: Giao kế hoạch (tháng11)
Giai đoạn IV: Theo dõi quá trình giao và triển khai thực hiện kế hoạch.
4.3. Xây dựng và tổng hợp kế hoạch 5 năm
• Xây dựng đề cương chi tiết và dự báo khung kế hoạch 5 năm (khoảng
từ Quý 3 đến hết năm thứ 4 của kỳ kế hoạch 5 năm đang thực hiện)
• Tổng hợp kế hoạch 5 năm (năm thứ 5 của kỳ kế hoạch đang thực
hiện)
II.GIỚI THIỆU VỀ VỤ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP.
1. Lịch sử hình thành và phát triển của Vụ Kinh tế nông nghiệp
Quyết định số 1123/TTg ngày 07 tháng 11 năm 1956 của Thủ tướng
Chính phủ thành lập Vụ Nông nghiệp do đồng chí Ngô Tấn Nhơn ủy viên Uỷ
ban Kế hoạch Quốc gia phụ trách các phần Kế hoạch nông nghiệp, nuôi thuỷ
sản nước ngọt và trồng rừng. Vụ Công nghiệp phụ trách phần công nghiệp rừng
và công nghiệp khai thác hải sản.
Theo quyết định số 47/CP ngày 09-03-1964 của Hội đồng Chính phủ,
tách Vụ Công nghiệp thành 2 vụ:Vụ Kế hoạch Công nghiệp nặng và Vụ Kế
hoạch Công nghiệp nhẹ và công nghiệp địa phương. Phần công nghiệp rừng,
trồng rừng và công nghiệp khai thác hải sản thuộc Vụ Kế hoạch Công nghiệp
nhẹ.
8
Theo Nghị định số 49/CP ngày 25-03-1974 của Hội động Chính phủ
chính thức thành lập Vụ Kế hoạch Lâm nghiệp với nhiệm vụ lập kế hoạch
Trồng rừng, công nghiệp khai thác và chế biến sản phẩm rừng.
Theo quyết định số 15/CP ngày 26-01-1977 của Hội đồng Chính phủ
thành lập Vụ Kế hoạch Thuỷ sản với nhiệm vụ lập kế hoạch Nuôi trồng, đánh
bắt và chế biến thuỷ hải sản.
Theo quyết định số 69/HĐBT-QĐ, ngày 09-07-1983 của Hội Đồng Bộ
trưởng sát nhập Vụ Kế hoạch Lâm nghiệp vào Vụ Kế hoạch Nông nghiệp thành
Vụ Kế hoạch Nông – Lâm nghiệp.
Năm 1987 nhập Phòng Công nghiệp thực phẩm từ Vụ Kế hoạch Công
nghiệp nhẹ và công nghiệp địa phương vào Vụ Kế hoạch Nông- Lâm nghiệp.
Theo quyết định số 66/HĐBT-QĐ, ngày 18-04-1988 của Hội đồng Bộ
trưởng chính thức hoá lại bộ máy của Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, sắp xếp lại
còn 17 đầu mối. Trong quyết định trên còn có việc sát nhập hai Vụ Kế hoạch
Nông –Lâm nghiệp và Kế hoạch Thuỷ sản, thành lập Vụ Nông – Lâm – Ngư
nghiệp. Sau thời gian ngắn, điều bộ phận di dân, kinh tế mới của Vụ Kế hoạch
Lao động và Văn hoá xã hội, gồm ba đồng chí: Bùi Văn Ruyện, Vương Xuân
Chính và Dương Thị Hồng Tâm về Vụ Kế hoạch Nông – Lâm – Ngư nghiệp.
2. Chức năng và nhiệm vụ của Vụ Kinh tế nông nghiệp
Theo quyết định số 597/QĐ- BKH ngày 19-08-2003 của Bộ trưởng Bộ
Kế hoạch và Đầu tư về chức năng nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức bộ máy Vụ Kinh
tế Nông nghiệp.
2.1. Chức năng của Vụ Kinh tế nông nghiệp.
Vụ Kinh tế nông nghiệp thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, giúp Bộ trưởng
thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư trong
các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp, phòng chống lụt
bão và giảm nhẹ thiên tai, kinh tế nông thôn.
9
2.2. Vụ Kinh tế nông nghiệp có các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu, tổng hợp chiến lược, quy hoạch phát triển ngành nông
nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp, phòng chống lụt bão và
giảm nhẹ thiên tai, kinh tế nông thôn. Phối hợp với các đơn vị liên
quan trong Bộ tổng hợp, lập quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội
chung của cả nước, quy hoạch vung lãnh thổ.
- Chủ trì tổng hợp kế hoạch 5 năm, hàng năm về: phát triển ngành
nông, lâm, ngư, diêm nghiệp, kinh tế nông thôn, khai thác và chế biến
sản phẩm nông, lâm, ngư, diêm nghiệp(trừ chế biến sữa, dầu thực vật,
thuốc lá, chế biến bột và tinh bột); phòng chống lụt bão và giảm nhẹ
thiên tai; định canh, định cư, tái định cư, kinh tế mới (bao gồm cả
kinh tế quốc phòng) di dân tự do, trang trại, ngành nghề nông thôn,
chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn.
- Nghiên cứu, phân tích, lựa chọn các dự án đầu tư trong nước và ngoài
nước thuộc lĩnh vực Vụ phụ trách. Làm đầu mối quản lý các chương
trình, dự án được Bộ giao.
- Chủ trì nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển các ngành,
lĩnh vực do Vụ phụ trách; phối hợp với các đơn vị liên quan trong Bộ
nghiên cứu và đề xuất các cơ chế, chính sách phát triển kinh tế- xã hội
trong kế hoạch 5 năm, hằng năm.Trực tiếp soạn thảo các cơ chế,
chính sách và văn bản quy phạm pháp luật cụ thể khi được Bộ giao.
Làm đầu mối tham gia thẩm định các cơ chế, chính sách và các dự
thảo văn bản quy phạm pháp luật của ngành và lĩnh vực thuộc Vụ phụ
trách để các bộ, nghành trình Thủ tướng Chính phủ hoặc ban hành
theo thẩm quyền.
- Kiểm tra, theo dõi việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch, chương trình,
dư án (kể cả dự án ODA), báo cáo đánh giá việc thực hiện kế hoạch
10
hàng tháng, quý và hàng năm của các ngành và lĩnh vực thuộc Vụ phụ
trách. Đề xuất các giải pháp xử lý những vướng mắc trong quá trình
điều hành triển khai thực hiện kế hoạch.
- Tham gia với các đơn vị liên quan trong Bộ thẩm định dự án, thẩm
định kế hoạch đấu thầu, lựa chọn nhà thầu đối với các dự án, gói thầu
thuộc thẩm quyền quyết định của Thủ tướng Chính phủ để Bộ trình
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt hoặc cho phép đầu tư; làm đầu mối
tham gia thẩm định các dự án thuộc lĩnh vực vụ phụ trách để các bộ
ngành, địa phương quyết định theo thẩm quyền gồm: thẩm định thành
lập mới, sắp xếp, tổ chức lại doanh nghiệp nhà nước; thẩm định các
dự án đầu tư (cả vốn trong nước và vốn nước ngoài); thẩm định quy
hoạch phát triển các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp,
diêm nghiệp, phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai, kinh tế nông
thôn. Thực hiện việc giám sát đầu tư các dự án thuộc ngành, lĩnh vực
Vụ phụ trách.
- Nghiên cứu dự báo, thu thập và hệ thống hoá các thông tin về kinh tế
phục vụ cho việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh
vực Vụ phụ trách; phối hợp với các đơn vị liên quan trong Bộ xử lý
và cung cấp thông tin về các lĩnh vực Vụ được giao.
- Làm đầu mối tổng hợp kế hoạch 5 năm, hàng năm của: Bộ Nông
nghiệp và phát triển Nông thôn, Bộ Thuỷ sản, các Tổng Công ty
thuộc ngành, lĩnh vực Vụ phụ trách.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư
giao.
3. Cơ cấu tổ chức của Vụ kinh tế nông nghiệp
Vụ làm việc và hoạt động theo cơ chế thủ trưởng, vụ trưởng phụ trách
toàn bộ và chịu trách nhiệm về các quyết định của vụ.
11
Vụ có 26 biên chế nhà nước trong đó có một vụ trưởng, ba vụ phó và có
năm nhóm ngành lĩnh vực: thuỷ lợi, thuỷ sản, nông nghiệp, lâm nghiệp, nông
thôn.
12
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Vụ kinh tế nông nghiệp:
4. Quy trình xây dựng, tổng hợp và theo dõi thực hiện kế hoạch của
Vụ Kinh tế nông nghiệp.
4.1. Nguyên tắc quy định vụ Kinh tế nông nghiệp làm đầu mối tổng hợp
kế hoạch như sau:
Vụ Kinh tế nông nghiệp làm đầu mối tổng hợp kế hoạch của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Thuỷ sản, các Tổng công ty thuộc ngành
nông, lâm, ngư nghiệp, Hội Nông dân Việt Nam
4.2. Đối với kế hoạch hàng năm
Giai đoạn I: Giai đoạn chuẩn bị tài liệu hướng dẫn lập kế hoạch
Giai đoạn II: giai đoạn tổng hợp và giao kế hoạch(Tổng hợp nhu cầu vốn
đầu tư của các Bộ ngành phân bổ và tổng hợp vốn đầu tư ngân sách nhà
nướccho các bộ, ngành và địa phương)
Giai đoạn III: Theo dõi và đánh giá tinh hình thực hiện kế hoạch
13
Ngành lĩnh
vực thuỷ lợi
Ngành lĩnh
vực thuỷ sản
Ngành lĩnh
vực nông
nghiệp
Ngành
lĩnh vực
lâm
nghiệp
Ngành
lĩnh vực
nông thôn
Vụ trưởng
Đào Quang Thu
Vụ phó lâm nghiệp
Vụ phó thuỷ lợi
Vụ phó nông
nghiệp- thuỷ sản
CHƯƠNG II. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA VỤ TRONG CÁC NĂM
2005, 2006, 2007 VÀ KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG TRONG NĂM 2008.
I. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA VỤ TRONG CÁC NĂM 2005,
2006, 2007
1. Những kết quả đã đạt được.
1.1 Về thực hiên nhiệm vụ công tác chuyên môn
1.1.1 Trong năm 2005
Năm 2005 là năm cuối cùng thực hiện nghị định Đại hội Đảng lần thứ IX
về kế hoạch 5 năm 2001-2005 có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện các
mục tiêu đề ra. Bước vào thực hiện kế hoạch năm 2005, hạn hán diễn ra khá
gay gắt trên diện rộng, bão lụt xẩy ra liên tiếp gây khó khăn cho sản xuất nông
nghiệp đời sống nhân dân, nguy cơ cao về cháy rừng, dịch cúm gia cầm tái phát
sinh phạm vi lớn và diễn ra khá phức tạp. Giá xăng dầu, phân bón và một số
nguyên liệu quan trọng tăng đã có tác động xấu đến hiệu quả sản xuất kinh
doanh và khả năng cạnh tranh của một số sản phẩm nông sản. Thị trường tiêu
thụ trong và ngoài nước gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là thị trường xuất khẩu
thủy sản do rào cản kỹ thuật đã gây cản trở lớn đến việc xuất khẩu. Tuy nhiên
với sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ, sự nỗ lực phấn đấu của các cấp các ngành
và các địa phương, ngành nông nghiệp năm 2005 đã đạt được những kết quả
đáng khích lệ. Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp năm 2005 tăng 5.2 % (tăng
trưởng GDP ngành nông nghiệp đạt 4.1%) Hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu đều đạt
và vượt kế hoạch. Vụ Kinh tế Nông nghiệp có đóng góp một phần trong kết quả
chung. Dưới đây là các công tác chính đã thực hiện của vụ trong năm 2005:
- Về công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển ngành nông
nghiệp và nông thôn vụ đã tham gia tích cực cùng với Bộ nông nghiệp và
PTNT, Bộ thủy sản, các công ty có liên quan, các điạ phương thực hiện nghiên
cứu rà sóat, điều chỉnh các chiến lược, quy hoạch ngành, tham gia các đề án dự
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét