PHẦN I : TỔNG QUAN VỀ XÍ NGHIỆP MAY 2 – TỔNG CÔNG TY
CỔ PHẦN DỆT MAY NAM ĐỊNH.
1. Giới thiệu về Tổng công ty cổ phần dệt may Nam Định.
Tên tiếng Việt : Tổng công ty cổ phần dệt may Nam Định.
Tên giao dịch Quốc Tế : NAMDINH TEXTILE GARMENT JOINT
STOCK CORPORATION.
Địa chỉ trụ sở chính : 43 Tô Hiệu – TP.Nam Định – Tỉnh Nam Định.
Điện thoại : 0350 849586 – 0350 849749.
Fax : 0350 849750.
Email : Vinatexnamdinh@hn.vnn.vn.
Website : www.vinatexnamdinh.com.vn.
Tài khoản ngân hàng : Ngân hàng công thương tỉnh Nam Định
Số tài khoản :102010000363239
Hình thức pháp lý hiện nay : Cổ phần Nhà Nước
Vốn điều lệ: 136.000.000.000 đồng ( 136 tỷ đồng chẵn ) được chia
thành 13.600.000 cổ phần có mệnh giá 10.000 đồng/ 01 cổ phiếu.
2. Giới thiệu về xí nghiệp may 2 – Tổng công ty cổ phần dệt may Nam
Định.
Tên công ty : Xí nghiệp may 2 – Tổng công ty cổ phần dệt may Nam
Định.
Tên giao dịch : GARMENT FACTORY NO .2 – NAMDINH TEXTILE
COMPANY JOIN STOCK COPORATION.
Tên giao dịch viết tắt : NATEXCO2.
5
Giám đốc : Ông Lê Văn Bình.
Địa chỉ : Số 91 Nguyễn Văn Trỗi – TP.Nam Định.
Loại hình : Công ty cổ phần.
Vốn điều lệ ( năm 2008 ) : 2.400.000.000 đồng ( 2.400 triệu đồng )
Nhiệm vụ của doanh nghiệp : Sản xuất gia công doanh nghiệp .
Ngày truyền thống : 25/03.hàng may mặc xuất khẩu.
Phân phối kết quả lao động : Theo hình thức khoán sản phẩm. thực hiện
tốt các mục tiêu kinh tế, xã hội, tạo việc làm và thu nhập cho người lao
động, thực hiện tốt nghĩa vụ với Nhà Nước và không ngừng phát triển xí
nghiệp may 2 nói riêng và Tổng công ty cổ phần dệt may Nam Định nói
chung.
3.Quá trình hình thành và phát triển Tổng Công ty cổ phần dệt may
Nam Định qua các thời kỳ.
Tổng công ty cổ phần dệt may Nam Định tiền thân là xưởng sợi Nam
Định do một người Pháp thành lập từ năm 1889 được xây dựng và phát triển
mở rộng thành: nhà máy sợi Nam Định – Nhà máy Liên họp dệt Nam Định –
Công ty dệt Nam Định – Công ty TNNHH một thành viên dệt Nam Định và
nay là Tổng công ty cổ phần dệt may Nam Định.Trong suốt quá trình thực
dân Pháp đô hộ, nơi đây đã trở thành cái nôi của phong trào cách mạng của
giai cấp công nhân Việt Nam.
Đến tháng 8 năm 1945 Nam Định được giải phóng.Năm 1954 nhà máy đã
hoàn toàn thuộc về giai cấp công nhân dệt Nam Định và đổi tên nhà máy
thành “ Nhà máy Liên hợp dệt Nam Định “.
Sau đây là các giai đoạn phát triển của Tổng công ty cổ phần dệt may
Nam Định.
6
3.1. Giai đoạn 1954 – 1975.
Đây là giai đoạn Tổng công ty mang tên “ Nhà máy Liên hợp dệt Nam Định
“, là giai đoạn vừa phục vụ cho công cuộc xây dựng CNXH ở Miền Bắc vừa
chi viện cho Miền Nam đấu tranh thống nhất nước nhà.
Với trang thiết bị tiếp quản của Pháp là chính, đa số các thiết bị được sản
xuât từ năm 1936 tại Pháp và Thụy Sĩ.Sản phẩm của nhà máy tương đối đơn
giản: sợi, vải chủ yếu là cotton,màu sắc đơn điệu ( đen, xanh công nhân ).
Nhưng cơ bản đã hình thành một xí nghiệp liên hợp từ kéo sợi,dệt vải đến
tẩy nhuộm vải thành sản phẩm; qui mô sản xuất lớn đông công nhân ( 9000
người ) có vị trí trong nền kinh tế quốc dân.
Nhà máy Liên hợp dệt thời kì này chưa có chức năng kinh doanh, chủ yếu
sản xuất theo chỉ tiêu kế hoạch nhà nước giao.Nhiều năm liên tục, nhà máy
đều hoàn thành vượt mức kế hoạch , góp phần quan trọng củng cố sản xuất ở
Miền Bắc chi viện cho sự nghiệp giải phóng Miền Nam.
3.2. Giai đoạn 1976 – 1985.
Giai đoạn này Tổng công ty tiếp tục mang tên Nhà máy liên hợp dệt
Nam Định.Đây là giai đoạn phát triển rực rỡ của nhà máy trong chế độ bao
cấp làm theo kế hoạch hóa tập trung,theo chỉ tiêu Nhà nước giao cho.
Tuy nhiên cùng với sự tăng thêm quyền chủ động cho cơ sở sản xuất,nhà
máy về cơ bản vẫn hoạt động theo kế hoạch của cơ quan quản lý cấp
trên.Nhà máy đã tiến hành khôi phục dây chuyền sản xuất liên hợp, đầu tư
đổi mới cơ bản , thiết bị sản xuất sợi, dệt của Trung Quốc theo nguồn vốn
nhà nước cấp ( Nghị định thư ).
Sản phẩm của nhà máy đã phong phú hơn, sản lượng sản phẩm hàng năm
rất cao ( 30 triệu met vải ) và tiêu thụ dễ dàng theo chỉ định của Nhà nước
.Nhà máy liên tục làm ăn có lãi , sản phẩm được lưu hành rộng rãi trong
nhân dân , đời sống CBCNV được cải thiện khá tốt.
7
3.3. Giai đoạn 1986 – 1995.
Nhà máy Liên hợp dệt Nam Định bước vào thời kỳ đổi mới ,cùng
với nền kinh tế đất nước vận hành theo cơ chế thị trường , có sự
quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Giai đoạn đầu 1986 – 1990 : nhà máy có nhiều thuận lợi , có sự ưu đãi
vốn ngân sách nhà nước cấp, Nhà nước tiếp tục đầu tư đổi mới một số
trang thiết bị về dệt, về nhuộm ,in hoa. Bước đầu tạo ra mẫu mã hợp thị
truờng chủ yếu là Liên Xô và các nước Đông Âu.
Thời kỳ này , Nhà máy đã đạt được nhiều thành quả quan trọng,đã
chuyển từ sản xuất theo kế hoạch tập trung sang kế hoạch tiếp cận thị
trường.Năng lực sản xuất được nâng lên tạo được nhịp độ tăng trưởng
bình quân 8%/năm.Nhà máy đã hoạt động sản xuất kinh doanh theo cơ
chế mới: hạch toán kinh tế , lấy hiệu quả lỗ lãi làm thước đo , đảm bảo
nghĩa vụ ngân sách nhà nước và có lãi.Đời sống cán bộ nhân viên được
cải thiện,Nhà máy đã tổ chức lại sản xuất , hình thành hai cấp quản lý, là
nhà máy liên hợp và các nhà máy thành viên , giảm sự chỉ huy mệnh lệnh
từ cơ quan giám đốc trong điều hành sản xuất.
Bước sang kế hoạch 5 năm 1990 - 1995:Nhà máy gặp nhiều khó khăn
lớn , mất thị trường truyền thống là Liên Xô và Đông Âu, sản xuất kinh
doanh phải thực sự đi vào cơ chế thị trường.Khách hàng đòi hỏi rất cao về
chất lượng, mặt hàng đẹp , giá cả rẻ.Hàng dệt may nước ngoài tràn ngập
với các chủng loại phong phú , mẫu mã đẹp, giá cả dễ chấp nhận , vì thế
sản xuất kinh doanh của nhà máy bị sa sút dần.Tiền vốn đầu tư mua sắm
thiết bị hạn chế.Tổng công ty tìm mọi cách vay mượn để đổi mới trang
thiết bị lạc hậu cũ kĩ , Nhà máy không thể làm ra được sản phẩm dệy may
có đủ chất lượng cạnh tranh trên thị trường.
8
Trong thời gian này nhà máy đã đàu tư 27 hạng mục công trình , với
tổng số vốn khá lớn trong một thời gian ngắn.
Tuy nhiên do đầu tư khẩn trương , gấp gáp không cân đối với khả
năng tiền vốn và chưa đồng bộ , một số máy móc chưa phát huy ngay hiệu
quả.Công tác quản lý đầu tư , quản lý sản xuất kinh doanh bị buông lỏng,
công nợ ngày càng tăng, lãi xuất chồng chất,công nhân đông không đủ
công ăn việc làm,kinh doanh bị thua lỗ, mất vốn và mắc sai lầm trong
công tác quản lý tài chính.Cụ thể các sai phạm sau:
- Vi phạm nghiêm trọng các quy định của nhà nước về trình tự ,thủ tục
thanh toán trong đầu tư xây dựng cơ bản tại quyết định số 385/ HDDBT
( 7/10/1990 ) của hội đồng bộ trưởng nay là thủ tướng chính phủ và nghị
định số 177/CP ( 20/10/1994 0của Chính phủ.Phần lớn đầu tư chưa có
luận chứng kinh tế kĩ thuật được duyệt, đặt mua máy móc thiết bị trước
khi có luận chứng được duyệt , đầu tư không đồng bộ , mất cân đối , một
số máy móc thiết bị cũ không sử dụng , hiệu quả thấp.
- Sản xuất thua lỗ kéo dài trong nhiều năm , nhưng không phát hiện kịp
thời để ngăn chặn.
- Quản lý vốn ,công nợ không chặt chẽ , kinh doanh thua lỗ nặng ( lỗ
207 tỷ đồng ), sử dụng vốn sai mục đích , chỉ tiêu không đúng chế độ
chính sách dẫn đến công ty rơi vào tình trạng mất vốn, mất khả năng
thanh toán và nợ phải trả rất lớn ( 648 tỷ đồng ).
Đó cũng là nguyên nhân dẫn đến “ Vụ án Công ty dệt Nam Định “
ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất kinh doanh của Tổng công ty.
Mặc dù vậy , với 27 hạng mục công trình được đầu tư trong tình cảnh
Nhà nước không có nguồn vốn hỗ trợ , Tổng Công ty dệt đã thực sự nâng
cao năng lực sản xuất kinh doanh , đổi mới được một phần công nghệ sản
xuất , tạo ra sản phẩm dệt , sợi có chất lượng cao; và đã chiếm lĩnh thị
9
trường trong nước , đáp ứng yêu cầu cơ bản cho xuất khẩu sang châu Âu ,
Nhật Bản.
3.4. Giai đoạn 1996 – 2004.
Năm 1995 , Công ty dệt Nam Định chính thức ra đời , chính thức thay
cho tên cũ là Nhà máy Liên hợp dệt Nam Định.Tổng công ty bước vào
hoật động sản xuất kinh doanh trong điều kiện hết sức khó khăn, lỗ lớn gây
mất vốn kinh doanh , nợ phải trả lớn , thiếu công ăn việc làm , đời sống
nhân dân quá thấp.
Được sự hộ trợ của nhà nước cùng với sự cố gắng chính bản thân
.Tổng công ty đã có nhièu giải pháp quan trọng , từng bước kắc phục khó
khăn, đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh tạo thêm việc làm , ổn
định đời sống cho người lao động , đóng góp đầy đủ ngân sách nhà nước
và bắt đầu đạt dược hiệu quả.
3.5.Giai đoạn 2005 – 2007.
Tháng 7 năm 2005 Phó thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký quuyết định số
185
chuyển Công ty dệt sang Công ty TNHHNN một thành viên dệt Nam Định
với vốn đièu lệ 133 tỷ đồng ; đồng thời xóa nợ cho công ty dệt 222,75 tỷ
đồng.Công ty đã bố trí lại lao động , giải quyết nghỉ theo chế độ 41 cho công
nhân tuổi cao , không có tay nghề, chuyên môn , làm việc không có hiệu
quả ra khỏi dây chuyền sản xuất – kết quả sản xuất kinh doanh của công ty
bắt đầu có lãi , có mức khấu hao cao nhất , nhì trong ngành dệt Việt
Nam.Doanh thu tăng bình quân 13%.
3.6. Năm 2008.
Thực hiện chủ trương BCH TW Đảng khóa X tiếp tục cổ phần hóa
các doanh nghiệp Nhà Nước để chủ động sản xuất kinh doanh, nâng cao
năng lực cạnh tranh, sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao hơn, đáp ứng
10
yêu cầu theo cơ chế thị trường định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, trong xu
thế hội nhậpkinh tế quốc tế. Theo quyết định số 547/QĐ – BCN của Bộ
công nghiệp chuyển Công ty TNHHNN một thành viên Dệt Nam Định
thành Công ty cổ phần hóa, hoạt động theo luật doanh nghiệp và được Sở
kế hoạch đầu tư tỉnh Nam Định cấp giấy phép kinh doanh số 0703000948
ngày 25 tháng 12 năm 2007, với số vốn điều lệ ban đầu là :
136.000.000.000 VNĐ. Trong đó cổ đông Nhà Nước ( Tập đoàn dệt may
Việt Nam ) chiếm 51% vốn điều lệ. Doanh nghiệp chính thức hoạt động
theo hình thức cổ phần hóa từ ngày 01/01/ 2008.
Tổng công ty một lần nữa sắp xếp, bố trí lại lao động, tính giảm lại
bộ phận quản lý, nửa năm đầu giao quyền chủ động cho các đơn vị ký kết
hợp đồng kinh tế. Tuy nhiên năm 2008 là một năm biến động toàn cầu,
nền kinh tế bị lạm phát trầm trọng, giá cả một số mặt hàng đầu vào tăng
đột biến, lãi suất ngân hàng tăng quá cao. Do đo, vấn đề vay vốn đầu tư
máy móc thiết bị đồng bộ, phù hợp với yêu cầu sản xuất của các đơn vị
trong Tổng công ty hết sức khó khăn, một số đơn vị thành viên trong
Tổng công ty bị thiếu việc làm như nhà máy dệt, nhà máy chăn, xí nghiệp
dịch vụ,… Bên cạnh đố vẫn có các đơn vị thật sự đã đột phá vươn lên,
lãnh đạo đơn vị đã lo đủ việc làm cho công nhân ngay cả thời kỳ khó khăn
nhất trong đó có xí nghiệp may 2, nhà máy sợi, nhà máy động lực,…
Doanh thu bình quân tăng 15% đến 20%.
4. Lịch sử phát triển của xí nghiệp May 2.
Năm 1986 xí nghiệp được thành lập với tên gọi là “ Xí nghiệp gia công
dệt nhuộm “ được Nhà Nước và nhà máy liên hợp dệt Nam Định giao cho
nhiệm vụ : gia công dệt vải, màn, khăn các loại cho các hợp tác xã tiểu thủ
công nghiệp trên địa bàn miền bắc.
11
Tháng 8 năm 1990 do thay đổi cơ chế nhà nước và nhu cầu mới của thị
trường, xí nghiệp có tên là : “ Xí nghiệp may 2 “ là đơn vị thuộc Công ty Dệt
Nam Định. Mới đầu xí nghiệp chỉ có 100 thiết bị, tổ chức 4 chuyền may với
250 lao động.
Sau 22 năm đầu tư và mở rộng thêm quy mô sản xuất đến năm 2008 xí
nghiệp có 12 chuyền sản xuất may, 1 xưởng giặt, 1 xưởng cắt, 1 cửa hàng
giới thiệu và tiêu thụ sản phẩm. Tổng số thiết bị hiện có là 860 chiếc, tổng số
lao động là 641 người.
Thực hện chủ trương của Đảng và Nhà Nước : các doanh nghiệp nhà
nước chuyển dần hình thức kinh doanh đẻ đáp ứng với yêu cầu mới của thị
trường. Năm 2005 Công ty dệt Nam Định chuyển thành “ Công ty
TNHHNN một thành viên dệt Nam Định “ là một doanh nghiệp nhà nước.
Tháng 01 năm 2008 Công ty TNHHNN một thành viên Dệt Nam Định
chuyển sang hình thức sản xuất kinh doanh cổ phần hóa với tên gọi “ Tổng
công ty cổ phần dệt may Nam Định “.
Xí nghiệp may 2 là một trong các đơn vị sản xuấtcó hiệu quả và thực
hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với Nhà Nước cũng như các chế độ, chính sách
đối với nười lao động; Xí nghiệp đã từng bước tạo lập được uy tín và thương
hiệu của mình, xây dựng được niềm tin đối với khách hàng.
PHẦN II : CÁC ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ KỸ THUẬT CHỦ YẾU CỦA
XÍ NGHIỆP MAY 2 – TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT MAY NAM
ĐỊNH.
1. Sản phẩm và thị trường.
Sản phẩm sản xuất chủ yếu là : áo Jắc két, áo sơ mi, quần âu, vaý các
loại,…cho mọi lứa tuổi tùy vào nhu cầu của khách hàng ký hợp đồng.
12
Bảng 1 : Danh mục các sản phẩm chính
TT Sản phẩm Đvt Năm
2005
Năm
2006
Năm
2007
Năm
2008
1 Áo jaket 2 lớp Tấn 44.500 46.000 47.000 48.500
2 Áo jacket 3 lớp 1.000 m2 29.000 31.000 32.000 34.000
3 Quần sooc 1.000 chiếc 30.000 32.000 33.000 35.000
4 Quần âu 1.000 chiếc 41.000 43.500 45.000 47.000
Nguồn : Phòng cán bộ sản xuất
Thị trường chủ yếu là xuất đi các nước : Mỹ, Đức, Tây Ban Nha, Mê Xi Cô,
Hàn Quốc, Canada, Bỉ, Nhật Bản, Nga.
Đây là thị trường có tiềm năng rất lớn để xí nghiệp khai thác , nhưng đồng
thời xí nghiệp cũng phải chịu sự cạnh tranh rất gay gắt của các đối thủ cạnh
tranh khác đặc biệt là các công ty may mặc của trung quốc.
Để đứng vững trong thị trường cạnh tranh rất khốc liệt này, xí nghiệp đòi
hỏi phải sản xuất được cac sản phẩm có chất lượng cao, giao hàng đúng
kỳ…Chính vì thế để đạt được những hợp đồng có giá trị , xí nghiệp phải
ngày càng hoàn thiện hơn về công tác quản trị chất lượng giữ vững niềm tin
trong khách hàng.
2. Cơ cấu tổ chức.
- Sơ đồ cơ cấu tổ chức, thể chế quản lý của xí nghiệp may 2 – Tổng
công ty cổ phần dệt may Nam Định.
- Bộ máy quản lý của xí nghiệp được tổ chức theo kiểu cơ cấu trực
tuyến – chức năng được thể hiện theo sơ đồ sau :
13
Sơ đồ 1 : Sơ đồ bộ máy quản lý của xí nghiệp
Nguồn : Phòng tổ chức hành chính
- Giám đốc xí nghiệp : Là người điều hành chung của xí nghiệp, chịu trách
nhiệm cao nhất trong công việc quản lý điều hành mọi hoạt động sản xuất
kinh doanh của xí nghiệp cũng như việc làm của cán bộ công nhân viên
trong xí nghiệp theo luật lao động của Nhà Nước ban hành. Giám đốc là
14
GIÁM ĐỐC
PHÒNG CBSX PHÒNG TC - HC
PHÒNGKẾ TOÁN
CỬA HÀNG GTSP NGÀNH CƠ ĐIỆN
Tổ 1,2,3,4 Tổ 9,10,11,12
XƯỞNG CẮT XƯỞNG GIẶT
XƯỞNG MAY III XƯỞNG MAY IIXƯỞNG MAY I
Tổ 5,6,7,8
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét