Thứ Hai, 20 tháng 1, 2014

Vấn đề triết học về con người và con người trong quá trình đổi mới hiện nay

Lời mở đầu
Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên của kinh tế tri thức, đòi hỏi mỗi con
ngời phải đợc đào tạo trình độ học vấn, năng lực ; tu dỡng rèn luyện phẩm chất
đạo đức, ý thức lao động tốt hơn để có thể đáp ứng những yêu cầu của sự biến
đổi khoa học công nghệ hết sức nhanh chóng.
Trong sự nghiệp đổi mới đất nớc với những mục tiêu dân giàu, nớc mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, hiện nay, con ngời và nguồn nhân lực đợc
coi là nhân tố quan trọng hàng đầu, quyết định sự phát triển nhanh, hiệu quả và
bền vững nền kinh tế nớc ta. Đó là yếu tố hết sức bức thiết và cần có tính cập
nhật, đáp ứng đợc yêu cầu về con ngời và nguồn nhân lực xét trong nớc ta nói
riêng và quốc tế nói chung. Chúng ta khẳng định con ngời vừa là mục tiêu vừa
là động lực của phát triển kinh tế xã hội đồng thời phải là những con ngời có tri
thức và đạo đức. Từ đây mỗi con ngời dần dần về đúng vị trí là một chủ thể
sáng tạo ra các giá trị, bao gồm các giá trị tinh thần và giá trị vật chất, cho bản
thân và cho xã hội. Vì vậy, vấn đề cốt lõi là, ta phải thực hiện chiến lợc GDĐT
nguồn nhân lực, phát triển con ngời một cách toàn diện cả thể lực lẫn trí lực.
Nhiệm vụ của GDĐT là đa con ngời đạt đến những giá trị phù hợp với đặc điểm
văn hoá và những yêu cầu mới đặt ra đối với con ngời Việt Nam để thực hiện
quá trình đổi mới của nớc ta cũng nh xu hớng phát triển kinh tế nói chung trên
thế giới.
Đề tài: Vấn đề triết học về con ngời và con ngời trong quá trình đổi mới
hiện nay
1
Nội dung
Triết học nào cũng phải trả lời bằng cách này hay cách khác câu hỏi: Con
ngời là gì? Con ngời sinh ra từ đâu, hoạt động và phát triển ra sao?
Trớc khi có học thuyết Mác, những cố gắng của t duy triết học nhằm đạt
tới sự hiểu biết về con ngời "cụ thể" hiện thực đều không đem lại kết quả, rốt
cuộc là chủ nghĩa duy tâm vẫn ngự trị trong nhận thức về con ngời và về đời
sống xã hội.
Chỉ đến triết học Mác, vấn đề con ngời mới đợc xem xét một cách nhất
quán, đầy đủ và sâu sắc hơn, trên cơ sở lập trờng của duy vật triệt để.
I. Con ngời trong triết học Mác - Lênin
1. Bản chất con ngời
Bất cứ một học thuyết nào về con ngời đều không thể lẩn tránh một vấn
đề đã đợc đặt ra trong lịch sử; Con ngời là gì? Bản chất của con ngời là gì?
Quan điểm duy tâm quy đặc trng, bản chất con ngời vào lĩnh vực ý thức t tởng,
tình cảm, đạo đức, hoặc xem bản chất con ngời là cái gì đó đợc quy định sẵn từ
những lực lợng siêu tự nhiên.
Một số trào lu triết học khác lại giải thích bản chất con ngời từ góc độ
những điểm chung của mọi sinh vật trên trái đất. Bản chất đó là bản tính tự
nhiên, là những nhu cầu thuộc về sự duy trì thể xác và dục vọng để phát triển
giống nòi; hoặc tìm kiếm bản chất con ngời trong khuôn khổ cá nhân riêng lẻ,
nghĩa là con ngời bị tách khỏi mối quan hệ xã hội hiện thực của nó. Tính chất
siêu hình của các quan điểm này về bản chất của con ngời biểu hiện ở chỗ, con
bản chất là cái vốn có trừu tợng và quy nó về bản tính tự nhiên, tách khỏi xã hội
và trở nên bất biến.
Với quan điểm duy vật triệt để và phơng pháp biện chứng, C.Mác và
Ph.Ăngghen đã tạo ra một bớc ngoặt trong việc nhận thức bản chất con ngời.
Các ông xuất phát từ con ngời thực tiễn, con ngời hiện thực, con ngời cải tạo thế
giới và thông qua hoạt động vật chất con ngời. Đó là một động vật có tính xã
hội với tất cả những nội dung văn hoá - lịch sử của nó. Nh vậy, các ông không
2
xem xét bản chất con ngời một cách cô lập và phiến diện mà đặt nó trong mối
quan hệ với tự nhiên, xã hội và con ngời. Con ngời sống dựa vào tự nhiên nh hết
thẩy mọi sinh vật khác. Nhng con ngời sở dĩ trở thành con ngời chính là ở chỗ
nó khonog chỉ sống dựa vào tự nhiên, Ph.Ăngghen là ngời đầu tiên đã chỉ ra đợc
bớc chuyển biến từ vợn thành ngời là nhờ có lao động. Quá trình con ngời cải
tạo tự nhiên cũng là quá trình con ngời trở thành con ngời. Ph.Ăngghen nói "lao
động sáng tạo ra con ngời là theo ý nghĩa ấy".
Khác với tự nhiên, xã hội không thể có trớc con ngời mà đã ra đời cùng
với con ngời, xã hội cũng con ngời, xã hội cũng không phải là cái gì trừu tợng,
bất biến mà mỗi hình thái kinh tế - xã hội chỉ thích hợp với mỗi phơng thức sản
xuất nhất định.Nhân tố quyết định phơng thức sản xuất phát triển lại là lực lợng
sản xuất, bao gồm con ngời và công cụ lao động. Nh thế, không phải cái gì khác
mà chính là con ngời, cùng với những công cụ do họ chế tạo ra, đã quyết định
sự thay đổi bộ mặt xã hội. Vậy xã hội đã sản xuất ra con ngời với tính cách là
con ngời nh thế nào thì con ngời cũng sản xuất ra xã hội nh thế.
Trong khi phê phán những quan điểm của Phoiơbắc, xuất phát từ những
cá thể cô lập C.Mác đã đa ra luận điểm nổi tiếng về bản chất con ngời: "Bản
chất con ngời không phải là cái trừu tợng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong
tính hiện thực của nó, bản chất con ngời là tổng hoà những quan hệ xã hội".
Luận điểm trên thể hiện những điểm cơ bản sau:
- Khi nói bản chất con ngời là tổng hoà những quan hệ xã hội, cũng có
nghĩa là tất cả các quan hệ xã hội đều góp phần hình thành bản chất con ngời,
nhng có ý nghĩa quyết định nhất là quan hệ sản xuất. Bởi vì, các quan hệ khác
đều trực tiếp hoặc gián tiếp chịu sự quy định của quan hệ này. Mỗi hình thái
kinh tế - xã hội có một kiểu quan hệ sản xuất nhất định giữ vai trò chi phối, và
chính kiểu quan hệ sản xuất đó là cái xét đến cùng, tạo nên bản chất của con
ngời trong giai đoạn lịch sử đó.
ở đây, cái phổ biến (cái chung của nhân loại) tồn tại và thể hiện qua cái
đặc thù (hình thái xã hội, giai cấp) và cái đơn nhất(cá nhân từng con ngời). Do
đó, khi bàn đến bản chát chung của con ngời không thể gạt bỏ bản chất giai cấp
3
của các tầng lớp khác nhau; và ngợc lại khi nói bản chất giai cấp của các tầng
lớp khác nhau không đợc quên bản chất chung của con ngời. Nhng từ đó quy
bản chất con ngời chỉ còn là bản chất giai cấp và tất cả mọi hoạt động của con
ngời đều đợc giải thích trực tiếp từ đây lại là xuyên tạc thực chất quan điểm
macxít về bản chất con ngời. Đây là một quan hệ không thể tách biệt của các
thứ bậc về bản chất trong con ngời.
- Các quan hệ xã hội không phải chỉ xét ở quan hệ ở từng hình thái xã
hội riêng biệt mà còn khái quát những quan hệ xã hội chung thể hiện qua từng
chế độ, thời đại riêng biệt. Quan hệ xã hội vừa diễn ra theo chiều ngang (đơng
đại) vừa theo chiêù dọc lịch sử. Các quan hệ xã hội quy định bản chất con ngời
bao gồm cả quan hệ xã hội hiện tại và quan hệ xã hội truyền thống, bởi trong
lịch sử của mình con ngời bắt buộc phải kế thừa di sản của những thế hệ trớc
nó.
Trong lĩnh vực văn hoá tinh thần có những truyền thống thúc đẩy con ng-
ời vơn lên, nhng cũng có những truyền thống "đè nặng lên những con ngời đang
sống". Do đó khi xem xét bản chất con ngời không đợc tách rời hiện tại và quá
khứ.
- Cái bản chất không phải là cái duy nhất, mà là bộ phận chi phối trong
chỉnh thể cụ thể phong phú đa dạng. Bản chất và thể hiện bản chất của con ngời
có khác biệt. Không hiểu bản chất chung của con ngời hay quy tất cả những gì
của con ngời để chỉ vào bản chất là sai lầm. Bản chất một con ngời cụ thể là
tổng hoà các quan hệ xã hội "vốn có" của con ngời đó và quy định những đặc
điểm cơ bản chi phối mọi hành vi của ngời đó. Còn tất cả những hành vi của ng-
ời đó bộc lộ ra bên ngoài là những hiện tợng biểu hiện bản chất của họ. Sự thể
hiện bản chất của con ngời không phải theo con đờng thẳng, trực tiếp, mà thờng
là gián tiếp, quanh co qua hàng loạt mâu thuẫn giữa cá nhân và xã hội, giữa
kinh nghiệm và nhận thức khoa học, giữa lợi ích trớc mắt và lâu dài; giữa bản
năng sinh vật và hoạt động có ý thức giữa di truyền tự nhiên và văn hoá xã
hội Trong diễn biến đầy mâu thaũan đó, bản chất thể hiện ra nh một xu hớng
chung, xét đến cùng mới thấy sự chi phối của xu hớng đó.
4
Con ngời là một thực thể sinh vật - xã hội. Thông qua hoạt động thực
tiễn, con ngời làm biến động đời sống xã hội đồng thời cũng biến đổi chính bản
thân mình. Điều đó cũng có nghĩa là con ngời tiếp nhận bản chất xã hội của
mình thông qua hoạt động thực tiễn.
Nh vậy, bản chất con ngời không phải là trừu tợng mà là hiện thực,
không phải là tự nhiên mà là lịch sử, không phải là cái vốn có trong mỗi cá thể
riêng lẻ mà là tổng hoà của toàn bộ quan hệ xã hội. Đây là phát hiện có giá trị
to lớn của Mác về bản chất con ngời.
Thừa nhận ý nghĩa quyết định của mặt xã hội đối với việc hình thành bản
chất con ngời, song không có nghĩa là, chủ nghĩa Mác- Lênin coi nhẹ mặt tự
nhiên, phủ nhận cái sinh vật trong yếu tố cấu thành bản chất con ngời. Bởi vì
theo C. Mác "giới tự nhiên là thân thể của con ngời, thân thể mà với nó con ngời
phải ở lại trong quá trình thờng xuyên giao tiếp để tồn tại. Nói rằng đời sống thể
xác và tinh thần của con ngời gắn liền với giới tự nhiên, nói nh thế chẳng qua
chỉ có nghĩa là giới tự nhiên gắn liền với bản thân giới tự nhiên, vì con ngời là
một bộ phận của giới tự nhiên".
Con ngời và con vật đều có những nhu cầu nh ăn uóng, tính dục , nh ng
C. Mác đã từng vạch ra tính chất khác nhau của những nhu cầu ấy: con ngời
hoạt động theo bản năng, con ngời hành dộng theo ý thức. Và chính mặt xã hội
của con ngời đã làm cho mặt sinh vật trong con ngời phát triển ở trình độ cao
hơn những động vật khác.
Con ngời sống, hoạt động không phải chỉ theo những bản năng di truyền
sẵn có nh các động vật thông thờng mà chủ yếu theo sự phát triển của văn hoá,
của tiến bộ lịch sử - xã hội. Khác con vật, con ngời ngoài chơng trình di truyền,
còn có chơng trình kế thừa về mặt xã hội. Bằng con đờng giáo dục, chơng trình
này truyền lại kinh nghiệm của những thế hệ trớc cho các thế hệ sau. Những đặc
điểm di truyền của từng ngời vừa bảo đảm những thuộc tính sinh học của mình,
vừa bảo đảm để con ngời tiếp thu chơng trình xã hội.
Ngày nay, mối tơng quan giữa mặt sinh vật và mặt xã hội trong sự phát
triển của con ngời vẫn là đối tợng của những cuộc tranh luận khoa học gay gắt.
5
Nhiều nhà khoa học t sản vẫn đem đối lập và tách mặt sinh học khỏi mặt xã hội.
Chẳng hạn, phải duy sinh vật tuyệt đối hoá yếu tố sinh vật trong sự phát triển
của con ngời. Họ tuyên truyền thuyết Đácuyn xã hội. Đại biểu trờng phái này
là: Ph.Nítsơ, Trenherơlen, Klovenơ
Nhiều tác giả nh Liônen Tigơ và Rôbin Phốcxơ cắt nghĩa hành vi của con
ngời theo quan điểm di truyền học
Chủ nghĩa Phơrớt cho rằng, toàn bộ cái xã hội trong tâm lý học ngời chỉ
là mặt khác nhau của giới tính, là sự biểu hiện quanh co của những đam mê
bẩm sinh.
Ngợc lại quan điểm xã hội học tầm thờng về con ngời thờng quy kết bản
chất con ngời là một sản phẩm văn hoá của xã hội, của kinh tế và tớc bỏ tính
hữu cơ, tính tự nhiên của con ngời.
Trờng phái "Triết học nhân bản hiện đại" quan niệm về bản chất của con
ngời phải đợc xuất phát từ nguyên tắc tinh thần.
Xuất phát từ những lập luận trên, kết luận tất yếu rút ra là: con ngời với t
cách là sản phẩm của giới tự nhiên, là sự phát triển tiếp tục của giới tự nhiên,
mặt khác con ngời là một thực thể xã hội đợc tách ra nh một lực lợng đối lập với
tự nhiên. Sự tác động qua lại giữa mặt sinh học và mặt xã hội trong con ngời tạo
thành bản chất ngời.
2. Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội.
Con ngời tồn tại qua những cá nhân ngời, mỗi cá nhân ngời là một chỉnh
thể đơn nhất gồm một hệ thống những đặc điểm cụ thể không lặp lại, khác biệt
với những cá nhân khác về cơ chế, tâm lý, trình độ
Xã hội bao giờ cũng do các cá nhân hợp thành. Những cá nhân này sống
và hoạt động trong những nhóm cộng đồng, tập đoàn xã hội khác nhau do điều
kiện lịch sử quy định. Trong mối quan hệ với giống loài, tức là trong mối quan
hệ với xã hội, cá nhân biểu hiện ra với t cách sau:
- Cá nhân là phơng thức tồn tại của giống loài "ngời". Không có con ngời
nói chung, loài ngời nói chung tồn tại cảm tính.
6
- Cá nhân là cá thể ngời riêng rẽ, là phần tử tạo thành cộng đồng xã hội,
là một chỉnh thể toàn vẹn có nhân cách.
- Cá nhân đợc hình thành và phát triển chỉ trong quan hệ xã hội. Nhng xã
hội thay đổi theo tiến trình lịch sử cá nhân là một hiện tợng có tính lịch sử. Mỗi
thời kỳ lịch sử có một "kiểu xã hội của cá nhân" mang tính định hớng về thế
giới quan, phơng pháp luận cho hoạt động của con ngời trong thời kỳ lịch sử cụ
thể đó.
Nếu nh cá nhân là khái niệm phân biệt sự khác nhau giữa cá thể với
giống loài, sự khác biệt biểu hiện ra bên ngoài của cá nhân này với cá nhân
khác thì nhân cách là khái niệm để chỉ sự khác biệt những yếu tố bên trong
riêng biệt với toàn bộ hoạt động sống của nó, của cá nhân này với cá nhân khác.
Nhân cách là nội dung, trạng thái, tính chất, xu hớng bên trong riêng biệt của
mỗi cá nhân. Đó là thế giới của "cái tôi" do tác động tổng hợp của các yếu tố cơ
thể và xã hội riêng biệt tạo nên. Mỗi cá nhân "dấn thân" vào cuọc sống, tiếp thu
và chuyển những giá trị văn hoá của xã hội vào bên trong mình, thực hiện quá
trình so sánh lọc bỏ, tự đánh giá, tự tạo nên thế giới riêng của mình. Đâylà quá
trình kép, xã hội hoá cá nhân và cá nhân hoá xã hội, cá nhân xã họi và cá nhân
nhân cách là thống nhất. Với nhân cách riêng, mỗi cá nhân có khả năng ý thức
về mình, làm chủ cuộc sống của mình, tự lựa chọn chức năng, niềm vui và trách
nhiệm hoạt động cụ thể trong xã hội.
Vấn đề cá nhân, nhân cách không giải quyết một cách khoa học nếu
không có phơng hớng triết học rõ ràng giải quyết mối quan hệ cá nhân và xã
hội. Mối quan hệ này đợc giải quyết liên tiếp thông qua tập thể cơ sở. Nó tạo
thành một bộ phận hết sức quan trọng của một cơ thể xã hội hoàn chỉnh. Cá
nhân có nhân cách gia nhập vào tập thể nh là bộ phận của cái toàn thể, thể hiện
bản sắc của mình thông qua hoạt động tập thể, nhng không "hoà tan" vào tập
thể. Đây là mối quan hệ biện chứng bao hàm mẫu thuẫn cá nhân và tập thể. Tuỳ
theo tính chất và khả năng giải quyết những mâu thuẫn đó mà mối quan hệ này
có thể duy trì phát triển hoặc tan rã.
7
Mối quan hệ cá nhân và xã hội là mối quan hệ biện chứng, tác động
nhau, trong đó xã hội giữ vai trò quyết định. Nền tảng của quan hệ này là quan
hệ lợi ích. Thực chất của việc tổ chức trật tự xã hội là sắp xếp các quan hệ lợi
ích sao cho khách thác đợc cao nhất khả năng của mỗi thành viên vào các quá
trình kinh tế, xã hội và thúc đẩy quá trình phát triển lên trình độ cao hơn. Xã hội
là điều kiện, là môi trờng, là phơng thức để lợi ích cá nhân đợc thực hiện. Cá
nhân không chỉ là sản phẩm của xã hội mà còn là chủ thể của sự phát triển xã
hội, của hoạt động sản xuất và hoạt động xã hội khác. Với t cách là chủ thể của
lịch sử, cá nhân hành động không phải riêng rẽ mà với t cách là một bộ phận
của tập thể xã hội (gia đình, giai cấp, dân tộc, nhân dân). Nhân dân là cộng
đồng lớn nhất, trong đó cá nhân hành động nh chủ thể lịch sử. Cá nhân chỉ đợc
hình thành phát triển trong xã hội, trong tập thể. Sự tác động cá nhân và xã hội
mang hình thức đặc thù tuỳ thuộc vào các chế độ xã hội và trình độ văn minh
khác nhau.
Lịch sử phát triển của loài ngời là lịch sử đấu tranh để giành tự do ngày
càng cao. Trong các xã hội có giai cấp đối kháng, tự do của ngời này đợc thực
hiện bằng cách tớc đoạt tự do của ngời khác. Tự do cá nhân của giai cấp thống
trị đợc đảm bảo bằng cách tớc đoạt tự do của giai cấp bị trị. Cho nên, quá trình
đấu tranh của giai cấp và quần chúng lao động là quá trình giành tự do của họ
đã bị giai cấp thống trị cớp đoạt. Tự do của con ngời không tách rời những điều
kiện xã hội, không tách rời trình độ của con ngời chinh phục thiên nhiên. Chỉ
đến chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản con ngời mới thực sự có tự do. ở
đây, tất cả những vấn đề về lực lợng sản xuất, quan hệ kinh tế, hệ thống chính
trị, đấu tranh giai cấp đều đ ợc thực hiện theo mục đích phát triển tối đa năng
lực con ngời và vì con ngời. Trớc đây C.Mác và Ph. Ănghen đã chỉ ra rằng, nền
sản xuất t bản chủ nghĩa đã làm phát triển những quan hệ phổ biến, sự phụ
thuộc phổ biến giữa các dân tộc, và "sản xuất vật chất đã nh thế thì sản xuất tinh
thần cũng không kém nh thế". Chủ nghĩa t bản hiện đại đang đẩy mạnh quá
trình này, nhng về thực chất đó vẫn là sự mở rộng quan hệ bóc lột và nô dịch
con ngời sang các dân tộc khác. Nó tạo ra một số nớc t bản phát triển cao, giàu
8
có, thì đồng thời cũng làm cho châu Phi đói, châu á nghèo, châu Mỹ Latinh nợ
nần chồng chất.
Chủ nghĩa xã hội thực hiện quá trình quốc tế hoá đời sống nhân loại để
mỗi dân tộc có điều kiện tiếp cận nhanh chóng những giá trị tiến bộ của nhân
loại, làm cho con ngời phát triển nhân cách phong phú, biết đấu tranh chống
những quan hệ không có tính ngời trong cuộc sống nhân loại. Đó là đặc trng
của chủ nghĩa nhân đạo xã hội chủ nghĩa trong quan hệ giữa cá nhân và xã hội.
3. Cá nhân và quần chúng nhân dân trong lịch sử
Lịch sử chẳng qua là hoạt động của con ngời theo đuổi mục đích của
mình. Nhng lịch sử không diễn ra qua hoạt động của từng cá nhân cô lập, tách
rời mà phải thông qua hoạt động của quần chúng đông đảo theo những mục
đích nhất định. Khái niệm quần chúng nhân dân có tính lịch sử, nghĩa là ở các
chế độ xã hội khác nhau thì kết cấu quần chúng nhân dân cũng khác nhau và
luôn luôn biến đổi theo sự phát triển của phơng thức sản xuất. Nói chung, quần
chúng nhân dân bao gồm tất cả những lực lợng, giai cấp, những tập đoàn, những
cá nhân thúc đẩy sự phát triển của xã hội, trong đó chủ yếu là quần chúng lao
động.
Trớc Mác, triết học duy tâm và duy vật đều hiểu không đúng đắn vai trò
của quần chúng nhân dân và mối quan hệ giữa quần chúng nhân dân và cá nhân
trong lịch sử.
T tởng tôn giáo cho rằng, mọi sự thay đổi trong xã hội là do ý chí của
đấng tối cao, là do "mặt trời", ý chí đó đợc các cá nhân thực hiện. Triết học duy
tâm cho rằng lịch sử nhân loại là lịch sử của các bậc vua chúa, anh hùng hào
kiệt, thiên tài lỗi lạc. Còn quần chúng nhân dân chỉ là "lực lợng tiêu cực", là
"phơng tiện" mà các vĩ nhân cần đến để đạt mục đích của mình.
Các nhà duy vật trớc Mác tuy không tin vào Thợng đế, thần linh, nhng lại
cho rằng nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội là đạo đức, t tởng, là các vĩ
nhân sớm nhận thức đợc chân lý vĩnh cửu.
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định quần chúng nhân dân
là lực lợng quyết định sự phát triển của lịch sử vì những lý do sau:
9
- T tởng tự nó không dẫn đến biến đổi xã hội. T tởng chỉ có giá trị khi nó
dẫn đến hành động làm biến đổi lịch sử, sự thống nhất giữa t tởng và hành động
làm phát triển xã hội chỉ có thể xảy ra qua hoạt động của quần chúng nhân dân.
Sức mạnh quần chúng nhân dân là sức mạnh vật chất và mọi sự vận động lịch sử
đều do quần chúng trực tiếp tạo ra. Nói quần chúng nhân dân quyết định lịch sử
là nói tới sức mạnh này.
- Quần chúng nhân dân là lực lợng cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã
hội. Cách mạng là ngày hội của quần chúng, là sự nghiệp của quần chúng. Cuộc
đấu tranh của quần chúng nhân dân lao động là động lực phát triển của xã hội.
- Quần chúng nhân dân là ngời đóng vai trò to lớn trong sự phát triển văn
hoá, nghệ thuật và khoa học. Trong lịch sử, do sự phân công lao động dẫn đến
tạo ra một lớp ngời chuyên về sáng tạo tinh thần t tởng, những hoạt động này
của họ cũng chỉ diễn ra đợc trên cơ sở đời sống tinh thần và sáng tạo của quần
chúng. Quần chúng nhân dân là ngời trực tiếp sáng tạo ra văn học nghệ thuật.
Hoạt động thực tiễn của quần chúng là cái gốc, là nguồn vô tận cho văn học
nghệ thuật sáng tạo, đồng thời quần chúng nhân dân còn là ngời thởng thức, phê
phán, kiểm nghiệm các giá trị đó. Trong lịch sử phát triển của xã hội, không có
văn học dân gian thì cũng không thể có văn học bác học, không có kinh nghiệm
của đa số ngời lao động thì cũng không có các khoa học. Đây là hai mặt không
thể tách rời của đời sống tinh thần trong xã hội.
- Hoạt động thực tiễn của quần chúng nhân dân là cái nôi, là cơ sở cho sự
hình thành các nhân vật u tú của xã hội. Sức mạnh và tài năng của lãnh tụ cũng
chỉ đợc phát huy trong phong trào quần chúng, gắn bó mật thiết với quần chúng.
Một nhân dân anh hùng, một đại chúng cách mạng năng động sẽ là cơ sở để sản
sinh ra những anh hùng, những lãnh tụ tiêu biểu của mình.
Nh vậy, xét tất cả các mặt trong đời sống xã họi từ kinh tế đến chính trị,
từ thực tiễn đến tinh thần t tởng, khi quần chúng nhân dân đóng vai trò quyết
định lịch sử. Song, theo quan niệm duy vật lịch sử, quần chúng nhân dân và cá
nhân lãnh tụ trong lịch sử không tách rời nhau. Cá nhân lãnh tụ là những ngời
có năng lực và phẩm chất tiêu biểu nhất trong phong trào quần chúng, đợc quần
10
chúng tin yêu. Vai trò to lớn của họ trong quá trình phát triển lịch sử đợc thể
hiện ở những điểm sau:
- Lãnh tụ là ngời đúc kết trí tuệ, nhu cầu nguyện vọng của quần chúng để
định hớng cho hoạt động của quần chúng. Cá nhân u tú là con đẻ của quần
chúng và chỉ có những cá nhân nh thế mới "sống mãi" với lịch sử.
- Lãnh tụ do có trình độ nhận thức cao, họ nhìn xa trông rộng, thấy đợc
xu hớng tất yếu khách quan của lịch sử, từ đó, họ đa ra những dự đoán khoa học
thiên tài và chủ động tổ chức quần chúng hoạt động thống nhất tiếp nhận và
thực hiện xu hớng lịch sử đó.
- Lãnh tụ là ngời giáo dục, thức tỉnh, tổ chức, tập hợp quần chúng đấu
tranh, hớng phong trào qua những khó khăn, đa phát triển phát triển nhanh
chóng. Và, quần chúng chuyển hoạt động từ tự phát sang tự giác, từ kinh
nghiệm sang khoa học, từ phân tán sang có tổ chức thống nhất, từ nhu cầu hàng
ngày sang biến đổi lịch sử phải qua mất khâu trung gian là hoạt động khái quát
t tởng và tổ chức lãnh đạo của các cá nhân lãnh tụ, đại diện cho lợi ích quần
chúng. Họ không phải là ngời đứng bên ngoài, hay bên trên quần chúng mà là
sản phẩm, là một nhân tố tự nhiên của phong trào quần chúng, sống và phát
triển phụ thuộc vào sự chấp nhận tín nhiệm của quần chúng.
Chủ nghĩa Mác LêNin đánh giá cao vai trò của cá nhân lãnh tụ trong sự
phát triển của lịch sử, đồng thời kiên quyết chống tệ sùng bái cá nhân. Tệ sùng
bái cá nhân là thần thánh hoá cá nhân, lãnh đạo, đi đến chỗ chỉ thấy vai trò của
cá nhân quyết định tất cả mà không thấy, hoặc coi nhẹ vai trò của quần chúng.
Đây là biểu hiện của quan niệm duy tâm về lịch sử, hoàn toàn trái ngợc với thế
giới quan của giai cấp vô sản.
Trong xã hội có đối kháng giai cấp, quần chúng nhân dân là những bị trị,
sống phụ thuộc vào lợi ích và quyền lực của thiểu số giai cấp bóc lột và cầm
quyền lực của thiểu số giai cấp bóc lột và cầm quyền thống trị. Trong chủ nghĩa
xã hội, quần chúng nhân dân là ngời làm chủ xã hội. Tất cả những cá nhân và
bộ máy lãnh đạo, quản lý đều là công cụ thực hiện quyền làm chủ của quần
chúng nhân dân.
11
Những ngời cầm đầu của giai cấp bóc lột có tác dụng tiến bộ trong thời
kỳ mà vai trò lịch sử của giai cấp đó còn phù hợp với tiến trình lịch sử.Nhng khi
giai cấp đó trở thành phản động, những ngời cầm đàu của nó trở thành lực lợng
cản trở, kìm hãm sự phát triển của lịch sử. Nói một cách khác là, trong những
thời kỳ lịch sử nhất định có những cánhân đại diện cho các lực lợng tiến bộ và
những cá nhân cầm đầu các lực lợng xã hội phản động.
Công lao to lớn của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I. Lênin và lãnh tụ vô sản vĩ
đại khác là ở chỗ, các ông đã chỉ cho giai cấp vô sản và quần chúng bị áp bức
hiểu đợc nhiệm vụ lịch sử của họ, sức mạnh vĩ đại của họ và con đờng đi đến tự
giải phóng khỏi mọi ách áp bức bóc lột. Giai cấp công nhân và nhân dân Việt
Nam vô cùng tự hào có vị lãnh tụ là Chủ tịch Hồ Chí Minh. ở Ngời đã kết tinh
những phẩm chất tiêu biểu nhất của một lãnh tụ vô sản. Thắng lợi của "cách
mạng Việt Nam, ngót lửa thế kỷ nay mãi mãi gắn liền với tên tuổi của chủ tịch
Hồ Chí Minh, ngời sáng lập và rèn luyện Đảng ta, ngời khai sinh nền Cộng hoà
dân chủ Việt Nam, ngời vun trồng khối đại đoàn kết dân tộc và xây dựng lực l-
ợng vũ trang cách mạng, vị lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân và nhân dân
ta, ngời anh hùng dân tộc vĩ đại, ngời chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản
quốc tế.
12
II. Vấn đề con ngời trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam
1. Khái niệm nhân tố con ngời, chiến lợc con ngời
Nhận thức đúng đắn về khái niệm nhân tố con ngời là sự phát triển sáng
tạo quan điểm Mác - Lênin về con ngời với t cách là ngời sáng tạo có ý thức, là
chủ thể của lịch sử. Trong thời igan gần đây, xuất hiện nhiều khái niệm: nhân tố
con ngời, nguồn nhân lực, nguồn lực con ngời, phát triển ngời Khái niệm
nhân tố con ngời đã đợc nhiều tác giả trong và ngoài nớc đề cập với những góc
độ khác nhau, cách tiếp cận khác nhau. Có tác giả đề cập dới góc độ quản lý, có
tác giả đề cập dới góc độ phân tích tâm lý - xã hội. Trong tài liệu triết học - xã
hội về nhân tố con ngời cũng nổi lên nhiều cách tiếp cận khác nhau. Tựu trung
lại, có hai cách tiếp cận chính:
- Thứ nhất, coi nhân tố con ngời nh là hoạt động của những con ngời
riêng biệt, những năng lực và khả năng của họ do các nhu cầu và lợi ích cũng
nh tiềm năng trí lực và thể lực của mỗi ngời quyết định.
- Thứ hai, coi nhân tố con ngời nh là một tổng hoà các phẩm chất thuộc
tính, đặc trng, năng lực đa dạng của con ngời, biểu hiện trong các dạng thức
hoạt động khác nhau.
Nh vậy, cái chung trong các quan niệm này là coi nhân tố con ngời về
bản chất là nhân tố xã hội, quy định vai trò chủ thể của con ngời. Nhng sự khác
nhau là quan niệm thứ nhất lấy hoạt động làm đặc trng cơ bản, còn phẩm chất,
năng lực đợc thể hiện trong hoạt động. Quan niệm thứ hai, lấy đặc trng cơ bản
là những phẩm chất năng lực, còn hoạt động là sự thể hiện nó.
Từ đây, có thể đa ra một quan niệm chung đầy đủ hơn về nhân tố con ng-
ời là: nhân tố con ngời là hệ thống các yếu tố, các đặc trng quy định vai trò của
chủ thể tích cực, sáng tạo của con ngời, bao gồm một chỉnh thể thống nhất giữa
mặt hoạt động với tổng hoà các đặc trng về phẩm chất, năng lực của con ngời
trong một quá trình biến đổi và phát triển xã hội nhất định.
Nhân tố con ngời là khái niệm không chỉ để phân biệt nhân tố "ngời" với
các yếu tố khác: kinh tế, chính trị, xã hội trong đời sống xã hội, mà quan
trọng hơn là để khẳng định vai trò của nhân tố "ngời" đối với các yếu tố đó. Tức
13
là không có khái niệm nhân tố con ngời tách khỏi hoạt động, dù đó là hoạt động
trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội.
Tịch cực hoá nhân tố con ngời là phát hiện, nh bộc lộ, hình thành và sử
dụng tiềm năng sáng tạo của ngời lao động và phát huy nhân tố con ngời chính
là chăm lo tạo ra những điều kiện cần thiết để mỗi ngời, mỗi cộng đồng ngời
thể hiện tối đa năng lực của mình trong lao động, trong hoạt động sáng tạo
nhằm đẩy mạnh sự phát triển kinh tế - xã hội vì hạnh phúc của mỗi con ngời.
Đây cũng chính là quá trình làm cho mỗi con ngời trở thành chủ thể có ý thức
trong sáng tạo lịch sử
Phát triển ngời tựu trung là gia tăng giá trị cho con ngời, giá trị tinh thần,
giá trị thể chất, vật chất. Con ngời ở đây đợc xem xét nh một tài nguyên, một
nguồn lực. Vì thế, phát triển ngời hoặc phát triển nguồn lực con ngời trở thành
một lĩnh vực nghiên cứu hết sức cần thiết trong hệ thống phát triển các loại
nguồn lực nh vật lực, tài lực, nhân lực, trong đó phát triển nguồn nhân lực giữ
vai trò trung tâm. Lịch sử phát triển nhân loại là lịch sử giải phóng từng bớc con
ngời cả vật chất và tinh thần. Và không phải đến chủ nghĩa xã hội mới bàn đến
chiến lợc con ngời, khai thác yếu tố ngời, vì trong lịch sử, không chế độ nào tồn
tại lại không nhắc đến yếu tố ngời, nhng vấn đề là khai thác, phát huy theo lợi
ích giai cấp nào và bằng phơng thức nào. Thực chất chiến lợc con ngời là tạo ra
môi trờng xã hội kích thích con ngời hoạt động sáng tạo và thoả mãn nhu cầu
tối đa của con ngời trong những điều kiện lịch sử cụ thể. Đó là môi trờng kinh
tế xã hội, môi trờng chính trị xã hội, môi trờng văn hoá xã hội.
2. Chiến lợc con ngời trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam.
Con ngời vừa là mục tiêu, vừa là động lực của quá trình xây dựng xã hội
mới. Sự phát triển kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc theo lối "vựot trớc, đi tắt, đón đầu" nhất thiết
gắn liền với phát triển con ngời và coi con ngời là nhân tố quyết định thắng lợi
của sự nghiệp đổi mới. Đảng ta khẳng định lấy việc phát huy nguồn lực con ng-
ời làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét