Thứ Tư, 22 tháng 1, 2014

Các quan điểm cơ bản về khách hàng

Đối tượng tác động trong cạnh tranh là sản phẩm đưa ra thị trường có sức cạnh tranh
hơn các sản phẩm cùng loại của các đối thủ khác, theo những cách khác nhau:
- Sử dụng tìm tòi, phát minh sáng kiến để nâng cao chất lượng sản phẩm: tăng thêm
hiệu quả, tính năng sử dụng sản phẩm cho khách hàng; thay thế vật liệu tạo ra sản phẩm có
những ưu thế vượt trội.
- Sử dụng khoa học công nghệ cao, hiện đại tạo ra sản phẩm mới, thay đổi sở thích
của người tiêu dùng; ví dụ sản xuất đĩa CD thay thế các băng hình băng tiếng bằng nhựa
cũ; máy ảnh số thế chỗ máy ảnh truyền thống. Thay cách giảng dạy đại học truyền thống
trong một số khâu bằng cách giảng dạy trên mạng vi tính v.v
- Làm hàng giả để đánh lừa khách hàng (đây là một hành vi kinh doanh vô đạo đức
nhưng đang được không ít doanh nghiệp, quốc gia sử dụng).
- Phá hoại sản phẩm của đối thủ bằng cách mua sản phẩm của họ để làm hỏng một số
bộ phận, một số tính năng; sau đó lại đem trao đổi trên thị trường tạo ấn tượng xấu cho
khách hàng về sản phẩm của đối thủ. Đây cũng là một hành vi kinh doanh ma giáo đáng bị
lên án.
b. Cạnh tranh bằng giá cả
Đây cũng là một trong những loại cạnh tranh phổ biến trên thương trường, như:
- Hạ giá bán sản phẩm, chấp nhận lãi ít để tăng số lượng bán sản phẩm.
- Dùng nguồn vốn lớn để loại bỏ đối thủ, hạ giá tới mức thấp quá mức giá thành,
chấp nhận lỗ tạm thời một thời gian (vài tháng, vài năm) để đánh ngã đối phương giành thế
độc quyền sau khi tiêu diệt họ, tiếp đó nâng giá dần để bù lại thời gian chịu lỗ.
- Đưa mức giá bán ban đầu rất thấp để không có đối thủ vào cuộc cạnh tranh với
mình, tạo thói quen sử dụng sản phẩm của mình cho khách hàng; sau đó nâng giá lên dần
v.v.
- Đưa mức giá bán sản phẩm A thấp để tạo vị thế và lòng tin của khách hàng, sau đó
đưa tiếp sản phẩm B ra thị trường, lấy phần lãi của sản phẩm B bù cho phần lỗ của sản
phẩm A v.v.
c. Cạnh tranh bằng bạo lực
Đó là hành vi cạnh tranh không lương thiện để hạ gục đối thủ nhanh chóng, như:
- Thuê bọn xã hội đen phá hoại doanh nghiệp đối thủ (đánh, đe doạ công nhân của
họ; khủng bố và mua đắt nguyên vật liệu của bạn hàng cung ứng đầu vào cho các doanh
nghiệp của đối thủ v.v.).
- Tha hoá quan chức nhà nước để giành các vùng cung ứng sản phẩm độc quyền.
- Cho người đến các đại lý sản phẩm của đối thủ huỷ bỏ sản phẩm của họ, bù bằng
sản phẩm của mình với các ưu đãi về trang thiết bị và giá cả. Ví dụ như những tháng đầu
của năm 2001, các nhân viên của hãng nước ngọt C tại Hà Nội đã đến các cửa hàng đại lý
nước ngọt để phá huỷ sản phẩm của hãng P, rồi thế sản phẩm của mình vào, thêm đó lại
cung cấp cho mỗi đại lý một tủ lạnh lớn v.v.
- Giành giật chuyên gia của đối thủ (bằng các chế độ đãi ngộ vượt trội); ăn cắp công
nghệ của đối phương rồi cải tiến thêm v.v.
d. Cạnh tranh bằng sức ép tâm lý
Đó là cách tác động trên thị trường trao đổi bằng các thủ thuật chiêu thị của
marketing (tuyên truyền, quảng cáo, chào hàng, tiến hành các hoạt động xã hội: từ thiện,
tài trợ bóng đá, tài trợ thi các loại tài năng v.v.).
e. Cạnh tranh bằng phương pháp và nghệ thuật kinh doanh độc đáo (sẽ xét ở
phần dưới)
g. Sử dụng tổng hợp các giải pháp đã nêu
Tuỳ thuộc điều kiện thực tế của cạnh tranh (tiềm lực, thủ đoạn của các bên, khả năng
chấp nhận của khách hàng v.v.).
h. Đạo đức marketing
Đó là các chuẩn mực, giá trị đạo đức căn bản mà trong cạnh tranh các doanh
nghiệp phải lưu ý. Không thể vì lợi nhuận mà đưa vào sử dụng các giải pháp cạnh tranh
xấu (làm hàng giả, phá hoại đội ngũ đối thủ v.v ).
2. Một vài phương pháp gợi ý trong việc lựa chọn giải pháp cạnh tranh
a. Phương pháp ma trận Michael Porter
Đây là phương pháp do M. Porter đưa ra năm 1970 trong tình huống một doanh
nghiệp cần cân nhắc hai loại giải pháp cạnh tranh. Một mặt có thể lựa chọn quy mô sản
xuất lớn hoặc nhỏ; một mặt có thể chọn mức độ công nghệ sản xuất cao (tạo ra sản phẩm
có chất lượng tốt hơn các đối thủ cho ở các tính cá biệt cao của sản phẩm) hoặc mức độ
công nghệ vừa phải tạo ra sản phẩm tương đương hoặc nhỉnh hơn một chút nhưng có giá
thành hạ hơn hẳn so với đối thủ.
Chất lượng
sản phẩm
Quy mô
sản xuất
Vừa phải (giá hạ)
Cao
Tính cá biệt cao
Lớn 1) Cạnh tranh bằng quy mô 2) Cạnh tranh bằng quy mô và tính cá
và giá cả biệt
Nhỏ
3) Cạnh tranh bằng giá cả
cá biệt
4) Cạnh tranh bằng công nghệ
(tính cá biệt cao)
Sơ đồ 2: Ma trận Porter
Trong sơ đồ 2.14 chỉ rõ có 4 chiến lược cạnh tranh trong tình huống cho phép của
một doanh nghiệp; để quyết định chiến lược cạnh tranh nào còn tuỳ thuộc vào nhu cầu của
thị trường và tương quan tiềm lực của các chủ thể cạnh tranh.
b. Phương pháp ma trận thi phần BCG
Đó là phương pháp lựa chọn giải pháp cạnh tranh do nhóm Boston Cosulting
Group(1) đề xướng năm 1960 trong tình huống thị trường sản phẩm đang nghiên cứu có
một nhóm lớn (một doanh nghiệp lớn, một nhóm doanh nghiệp lớn) người bán đang chiếm
lĩnh dẫn đầu thị trường và thị trường đang trong chiều phát triển (khả năng mua còn rất
lớn, khách hàng tiềm năng còn nhiều). Ma trận GCG được biểu diễn trên một hệ toạ độ;
trục tung biểu hiện tỷ lệ (%) tăng trưởng (thêm) của thị trường sản phẩm, trục hoành biểu
hiện tỷ lệ (%) phần thị trường mà doanh nghiệp lựa chọn so với phần thị trường của nhóm
lớn chiếm lĩnh thị trường, ma trận bao gồm 2 dòng, 2 cột (chia thành 4 ô lớn tương ứng với
4 chiến lược cạnh tranh mà doanh nghiệp đang nghiên cứu để tham gia phải lựa chọn).
Sơ đồ 3: Ma trận BCG
Trong ma trận BCG cho bởi sơ đồ 2.15, đồ thị ma trận chia thành 4 vùng:
Vùng I (Các tác giả của nhóm gọi là Question mark - Dấu hỏi).
Vùng II (Star - ngôi sao)
Vùng III (Cash cow - Bò sữa)
Vùng IV (Dog - chó)
Trên ma trận còn có thêm các đối thủ mới vào cuộc (A, B, , H) có doanh số bán và
vị trí (tỷ lệ chiếm lĩnh so với nhóm chiếm lĩnh thị trường) cho tương ứng bởi các vòng
tròn.
Chiến lược cạnh tranh nếu chọn ở vùng I, chỉ sử dụng chi phí thấp chỉ bằng 10%
(0,1) thị phần của nhóm chiếm lĩnh (bằng x) để thu lãi ít nhưng do tỷ lệ thị trường tăng
nhanh (trên 10%) sản phẩm ít có ấn tượng với khách (vì chi phí sản xuất thấp tương ứng
với chất lượng sản phẩm không cao. Chiến lược cạnh tranh loại này chỉ thích ứng với các
doanh nghiệp nhỏ vào yếu.
Chiến lược cạnh tranh chọn vào vùng II, tương ứng với xu thế tốc độ tăng trưởng thị
trường rất cao (10 - 20%), doanh nghiệp tham gia thị trường có tiềm lực lớn đầu tư cao có
thị phần gấp 10 lần (90x) so với nhóm chiếm lĩnh cũ: khả năng thắng lợi cao (và rủi ro
cũng cao) và cần phải có nguồn lực hết sức to lớn, điều không dễ thực hiện trong điều kiện
cạnh tranh ngày nay.
Chiến lược cạnh tranh chọn vào vùng III, tương ứng với mức tăng thị trường không
lớn (dưới 10%) nhưng có mức đầu tư lớn (thị phần gấp 10 lần so với nhóm chiếm lĩnh cũ);
mức lãi thu nhỏ nhưng an toàn và lâu bền.
Chiến lược cạnh tranh chọn vào vùng IV, tương ứng với thị trường tăng trưởng
chậm, mức đầu tư lại nhỏ (thị phần nhỏ so với nhóm chiếm lĩnh cũ), khả năng thu lãi quá
nhỏ và mức độ tồn tại rất khó khăn.
c. Phương pháp ma trận Ansoff
Là phương pháp cạnh tranh dựa trên sự cân nhắc giữa hai xu thế; (1) Về sản phẩm
(tiếp tục thực hiện sản phẩm đã có, hoặc đi vào sản phẩm mới) và (2) trao đổi trên thị
trường cũ hoặc phát triển thêm thị trường mới (xem sơ đồ 4)
Sơ đồ 4: Ma trận Ansoff
Với chiến lược ở vùng I, sản phẩm cũ (hiện đại) và thị trường cũ; mức độ phát triển
doanh nghiệp dường như dậm chân tại chỗ vì không có giải pháp gì lớn, nhưng rủi ro thấp
và chi phí không nhiều.
Với chiến lược chọn ở vùng II, có thể thu được kết quả cao hơn nhưng rủi ro cũng
cao không kém, cần tổ chức điều tra nghiên cứu thị trường mới phải thâm nhập để hạn chế
tối đa mức độ thiệt hại, thu được kết quả lớn.
Chiến lược chọn vào vùng III, dễ thành công hơn vì đã có khách hàng quen thuộc lại
có thêm sản phẩm mới (mà thường phải ưu việt hơn sản phẩm cũ).
Chiến lược chọn vào vùng IV, thành công lớn và rủi ro lớn vì cả thị trường lẫn sản
phẩm đều mới.
d. Phương pháp ma trận SWOT (Strength - sức mạnh, Weakness - điểm yếu,
Opportunities - cơ hội, Threat - nguy cơ)
Là phương pháp lựa chọn giải pháp cạnh tranh dựa trên hai nhân tố phải cân nhắc
xuất hiện trên thị trường:
+ Mặt mạnh yếu của doanh nghiệp,
+ Cơ hội và rủi ro trên thị trường.

Cơ hội
(Opportunities)
Nguy cơ
(Threat)
Sức mạnh
(Strength)
S/O S/T
Điểm yếu
(Weakness)
W/O W/T
Sơ đồ 5: Ma trận SWOT
Nhìn vào sơ đồ 2.17 có thể thấy ngay chiến lược ưu việt nhất là chiến lược kết hợp
sức mạnh với cơ hội (S/O) và nguy hiểm,rủi ro nhất là chiến lược W/T.
e. Phương pháp phân tích nhân tố
Là phương pháp cạnh tranh dựa trên kết quả phân tích khách quan các nhân tố phải
quan tâm (tức cũng phải chi phí) để thu lại kết quả kinh doanh cao và ổn định cho doanh
nghiệp. Các nhân tố được liệt kê theo chuỗi thời gian.
Chi phí thời gian
Các nhân tố
K1 K2 Kn
1
2

m
K11
K12

Km1
K21
K22

Km2




Kn1
Kn2

Kmn
Bảng diễn biến chi phí của các nhân tố theo thời gian
Sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất thành lập hàm Cobb - Douglas cho các nhân
tố
(9)
Khi đó mức thứ tự ưu tiên chọn giải pháp cạnh tranh là các nhân tố kj (j = 1,n) có số mũ từ
cao nhất đến thấp nhất, sau đó cân nhắc giới hạn cho phép khai thác tối đa các giải pháp để
đẩy mạnh cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường; đưa ra các kết luận cụ thể về sản phẩm, thị
phần, khách hàng, công nghệ và cơ hội v.v.
3. Đổi mới phương pháp cạnh tranh
Đây là một nhiệm vụ khá quan trọng của quản trị marketing. Mọi giải pháp cạnh
tranh dù có hay có tốt đến mấy cũng chỉ có giá trị trong từng giai đoạn vận hành trên thị
trường. Các doanh nghiệp phải biết dừng lại đúng lúc các cạnh tranh cũ của mình, để thay
vào đó là các giải pháp cạnh tranh mới mà nhờ đó mới có thể giúp doanh nghiệp tồn tại và
phát triển bền vững. Trong nền kinh tế thị trường, thị trường là chiến lược chỉ cần chủ
quan tự thoả mãn để dừng lại dù chỉ là một thời gian ngắn là sẽ bị đối thủ lật ngược thế cờ.
Cạnh tranh là phí tổn tâm huyết, trí não, nguồn lực; nhưng đã kinh doanh thì phải chấp
nhận nó.
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP

1. Khái niệm
Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp là sự tác động có chủ đích, có tổ chức và
bằng pháp quyền nhà nước lên các doanh nghiệp và vì mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước.
2. Các bước và các công cụ nhà nước dùng để quản lý doanh nghiệp
- Xác định quan điểm, đường lối, chiến lược quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội nói
chung, các doanh nghiệp nói riêng.
- Xây dựng và thực thi luật pháp (quản lý doanh nghiệp) nhằm tạo “luật chơi” cho
doanh nghiệp; vấn đề quan trọng nhất là chính sách thuế và chính sách kiểm soát đối với
doanh nghiệp, các quy chế quản lý doanh nghiệp.
- Tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp xây dựng kết cấu hạ tầng; hướng
dẫn kinh doanh; hỗ trợ vốn; hỗ trợ về công tác đào tạo, quảng bá sản phẩm; xử lý các mối
quan hệ trong và ngoài nước có liên quan đến sự tồn tại và phát triển doanh nghiệp (trốn
lậu thuế, lừa đảo, đối ngoại.v.v…
- Xây dựng bộ máy (các cơ quan) quản lý doanh nghiệp.
CÁC QUY LUẬT QUẢN TRỊ KINH DOANH

1. Tổng quan về quy luật
o Khái niệm
o Đặc điểm của các quy luật
o Cơ chế sử dụng các quy luật
2. Những quy luật cần chú ý trong kinh doanh
o Các quy luật kinh tế
o Các quy luật tâm lý
Tâm lý khách hàng

Kinh doanh cũng giống như mọi hoạt động khác, nó chỉ có thể thực hiện thành công
nếu nhận biết được và tuân thủ đúng các yêu cầu của các quy luật khách quan có liên quan
đến quá trình kinh doanh. Giống như việc đun nước ở trên mặt đất phải tới 100 độ C thì
nước mới sôi, đây là một đòi hỏi khách quan không ngoại trừ ai dù họ là cấp bậc gì trong
xã hội.
1- Tổng quan về quy luật
1.1- Khái niệm
Quy luật là mối liên hệ bản chất, tất nhiên, phổ biến của các sự vật và hiện tượng
trong những điều kiện nhất định.
Chẳng hạn trong kinh tế thị trường tất yếu phải có các quy luật cạnh tranh, cung -
cầu, giá trị v.v hoạt động. Hoặc các nước nhiệt đới không thể nào có tuyết (nếu không có
diễn biến đột xuất của thời tiết v.v ).
1.2 - Đặc điểm của các quy luật
Quy luật được con người đặt tên, nhưng không phải do con người tạo ra, nó có đặc
điểm khách quan của nó:
Con người không thể tạo ra quy luật nếu điều kiện của quy luật chưa có, và ngược lại
khi điều kiện xuất hiện của quy luật vẫn còn thì con người không thể xoá bỏ quy luật.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét