4
Doanh thu Doanh thu Các khoản bị Các khoản thuế
= - -
bán hàng thuần tổng thể giảm trừ giảm thu
∑
=
n
i 1
Trong đó: M: là doanh thu tiêu thụ.
qi: là khối lượng sản phẩm, hàng hoá i đã tiêu thụ trong kỳ
pi: giá bán đơn vị sản phẩm, hàng hoá i
i,n: số lượng mặt hàng sản phẩm hàng hoá mà doanh nghiệp đã tiêu
thụ trong kỳ.
Thời điểm xác định doanh thu bán hàng là khi khách hàng chấp nhận
thanh toán, bất kể doanh nghiệp đã nhận tiền hay chưa.
Cần phân biệt các thuật ngữ về doanh thu là doanh thu tổng thể, doanh thu
bán hàng và doanh thu thuần.
1.1.1.1. Doanh thu tổng thể
: Hay còn gọi là tổng doanh thu là tổng số
tiền ghi trên hoá đơn bán hàng.
Hợp đồng bán hàng có thể là hàng tổng giá thanh toán (đối với các doanh
nghiệp tính thuế VAT theo phương pháp trực tiếp cũng như các đối tượng chịu
thuế xuất khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt) hoặc giá không có thuế VAT (đối với các
doanh nghiệp tính thuế VAT theo phương pháp khấu trừ).
Doanh thu tổng thể bao gồm các khoản doanh thu bị giảm trừ như chiế
t
khấu, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại các khoản bồi thường, chi phí sửa
chữa hàng bị hỏng trong thời gian bảo hành và các loại thuế gián thu.
Chỉ tiêu này phản ánh giá trị hàng hoá của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo
1.1.1.2. Tổng doanh thu thuần:
Tổng doanh thu Tổng doanh thu Các khoản
= _
bán hàng thuần bán hàng giảm trừ
q
i
x p
i
M =
5
Các khoản giảm trừ bao gồm:
-Hàng bán bị trả lại: Đây là giá trị số sản phẩm hàng hoá, dịch vụ, lao vụ
đã tiêu thụ bị khách hàng trả lại do các nguyên nhân vi phạm cam kết, vi phạm
hợp đồng kinh tế, hàng bị mất, kém phẩm chất không đúng chủng loại quy định.
-Giảm giá hàng bán: Đây là khoản giảm trừ được người bán chấp thuận
một cách đặc biệt trên giá thoả
thuận do hàng bán kém phẩm chất, không đúng
quy cách phẩm chất quy định trên hợp đồng kinh tế.
-Các khoản thuế gián thu bao gồm: Thuế GTGT(theo phương pháp trực
tiếp), thuế xuất khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt.
+Thuế xuất khẩu là các loại thuế gián thu đánh vào các loại hàng hoá xuất
khẩu (thuộc doanh mục hàng hoá bị đánh thuế) qua các cửa khẩu và biên giới
Việt Nam.
+Thuế tiêu thụ đặc biệt: Là loạ
i thuế gián thu đánh vào một số hàng hoá,
dịch vụ nhất định (hàng hoá, dịch vụ đặc biệt). Thông thường đây là những hàng
hoá, dịch vụ cao cấp mà không phải bất cứ ai cũng có điều kiện sử dụng hay
hưởng thụ do khả năng tài chính có hạn hoặc có thể là những hàng hoá, dịch vụ
khác có tác dụng không tốt đối với đời sống sức khoẻ con người, văn minh xã
hộ
i mà Chính phủ có chính sách hạn chế sản xuất, tiêu dùng.
+ Thuế GTGT( theo phưng pháp trực tiếp): Đây là loại thuế gián thu được
tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh qua mỗi khâu
quá trình sản xuất kinh doanh và tổng số thuế thu được ở mỗi khâu bằng chính
số thuế tính trên giá bán của người tiêu dùng cuối cùng.
Phương pháp trực tiếp: Chỉ áp dụng đối với các đối tượng sau:
-Cá nhân tổ chức kinh doanh là người Việt Nam.
-Tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh ở Việt Nam không theo luật đầu
tư nước ngoài tại Việt Nam.
-Các cơ sở kinh doanh vàng bạc, đá quý, ngoại tệ
6
Cách tính thuế, số thuế GTGT phải nộp trong kỳ được tính theo công thức
sau:
7
Trong đó:
(1) được tính theo giá bán thực tế bên mua phải thanh toán phụ thu, phụ
thu thêm mà bên mua phải trả.
(2) bao gồm: Giá mua của hàng hoá tiêu thụ trong kỳ, các chi phí về dịch
vụ mua ngoài (bao gồm cả thuế GTGT) phân bổ cho hàng hoá, dịch vụ tiêu thụ
trong kỳ.
*Ý nghĩa của việc tăng doanh thu:
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế cơ bản phản ánh mục
đích kinh doanh cũng như kết quả v
ề tiêu thụ hàng hoá, thành phẩm. Tăng doanh
thu là một trong những mục tiêu nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Đồng thời tăng doanh thu có nghĩa là tăng lượng tiền về cho doanh
nghiệp và tăng lượng hàng hoá tung ra trên thị trường. Vì vậy việc tăng doanh
thu vừa có ý nghĩa với xã hội và có ý nghĩa với doanh nghiệp.
-Đối với xã hội: Tăng doanh thu bán hàng góp phần thoả mãn tốt hơn các
nhu cầu tiêu dùng hàng hoá cho xã hội, đả
m bảo cân đối cung cầu, ổn định giá
cả thị trường và mở rộng giao lưu kinh tế giữa các vùng.
Trong nền kinh tế thị trường để đứng vững, tồn tại và phát triển đối với
một doanh nghiệp không phải là điều dễ. Vì vậy doanh nghiệp phải không
ngừng đổi mới và hoàn thiện cơ cấu cũng nhu phương thức sản xuất nhằm đưa
doanh nghiệ
p mình ngày một phát triển.
Số thuế Giá trị gia tăng của Thuế suất thuế GTGT
GTGT = hàng hoá, dịch vụ x của hàng hoá
phải nộp tiêu thụ trong kỳ dịch vụ đó
Giá trị gia tăng của Doanh thu Giá vốn của hàng hoá
hàng hoá, dịch vụ = tiêu thụ hàng hoá - dịch vụ tiêu thụ
tiêu thụ trong kỳ dịch vụ trong kỳ (1) trong kỳ (2)
8
Doanh thu tăng có nghĩa là doanh nghiệp đáp ứng được các nhu cầu về
vật chất cho xã hội, làm cho đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện, nhờ đó
mà đời sống tinh thần cũng được nâng lên. Đồng thời kho doanh thu của doanh
nghiệp tăng cũng có nghĩa là doanh nghiệp đã có chỗ đứng vững trên thị trường,
đã chiếm được thị phần thu lợi nhuận, tạo vị thế và uy tín củ
a mình trên thương
trường.
-Đối với doanh nghiệp: Tăng doanh thu bán hàng là điều kiện để doanh
nghiệp thực hiện tốt chức năng kinh doanh, thu hồi vốn nhanh, bù đắp các chi
phí sản xuất kinh doanh, thực hiện tốt nghĩa vụ đối với Nhà nước. Cụ thể:
+Doanh thu tăng giúp cho doanh nghiệp có điều kiện thực hiện tốt chức
năng nhiệm vụ của mình và là điều ki
ện để đạt được mục đích kinh doanh mà
doanh nghiệp đề ra đồng thời nó là điều kiện cơ bản để tăng thu nhập nhằm tái
mở rộng và cải thiện đời sống vật chất tinh thần cho cán bộ công nhân viên.
+ Doanh thu bán hàng là nguồn tài chính quan trọng giúp doanh nghiệp
trang trải các khoản chi phí trong quá trình sản xuất, kinh doanh góp phần đảm
bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp liên tục và tạo ra lợi nhuận. Do
đó khi doanh thu tăng thì doanh nghiệp có kh
ả năng tự chủ về vốn, không phải
phụ thuộc vào nguồn vốn bên ngoài và làm giảm chi phí về vốn.
+ Việc tăng doanh thu sẽ giúp cho doanh nghiệp giải quyết tốt những vấn
đề tài chính như chi phí sản xuất kinh doanh được trang trải, vốn được thu hồi và
góp phần tăng thu nhập cho các quỹ của doanh nghiệp từ đó mở rộng quy mô
sản xuất. Đồng thời doanh thu tăng tạo đ
iều kiện cho doanh nghiệp hoàn thành
nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước.
Ngoài ra khi doanh thu của một doanh nghiệp tăng sẽ chứng tỏ được vị
thế và uy tín của mình trên thương trường củng cố vị trí vững chắc cho doanh
nghiệp, duy trì sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
1.1.2. Mục đích phân tích doanh thu bán hàng trong các doanh
nghiệp.
9
Doanh thu bán hàng là một chỉ tiêu kinh tế quan trọng phản ánh kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp. Do vậy, phân tích tình
hình doanh thu bán hàng là một nội dung quan trọng trong phân tích hoạt động
kinh tế doanh nghiệp.
Phân tích tình hình doanh thu bán hàng nhằm mục đích nhận thức và đánh
giá một cách đúng đắn, toàn diện và khách quan tình hình bán hàng của doanh
nghiệp trong kỳ về số lượng, kết cấu chủng loại và giá cả hàng bán qua đó
thấy đượ
c mức độ hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch doanh thu bán hàng của
doanh nghiệp. Đồng thời qua phân tích cũng nhằm thấy được những mâu thuẫn
tồn tại và những nguyên nhân ảnh hưởng khách quan cũng như chủ quan trong
khâu bán hàng để từ đó tìm ra được những chính sách, biện pháp thích hợp
nhằm đẩy mạnh bán hàng tăng doanh thu.
Những số liệu, tài liệu phân tích doanh thu bán hàng là cơ sở, căn cứ để
phân tích các chỉ tiêu kinh tế khá như: Phân tích tình hình mua hàng, phân tích
tình hình chi phí hoặ
c lợi nhuận (kết quả) kinh doanh. Ngoài ra doanh nghiệp
cũng sử dụng các số liệu phân tích doanh thu bán hàng để làm cơ sở, căn cứ xây
dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh cho kỳ sau.
1.1.3. Nguồn tài liệu để phân tích doanh thu bán hàng.
*Tài liệu bên trong: Bao gồm.
-Các chỉ tiêu kế hoạch doanh thu bán hàng của doanh nghiệp trong kỳ.
Các chỉ tiêu doanh thu bán hàng của doanh nghiệp được xây dựng tuỳ
thuộc vào chức năng, nhiệm vụ và đặc đi
ểm hoạt động sản xuất kinh doanh cũng
như căn cứ vào yêu cầu quản lý của doanh nghiệp. Doanh thu bán hàng có thể
được xây dựng theo các nghiệp vụ kinh doanh như: Doanh thu bán hàng hoá
(kinh doanh thương mại), doanh thu bán hàng thành phẩm (hoạt động sản xuất),
doanh thu dịch vụ Ngoài ra doanh thu bán hàng có thể được xây dựng kế
hoạch theo ngành, nhóm hàng hoặc những mặt hàng chủ yếu theo các phương
thức bán (bán buôn, bán lẻ ) theo từng địa điểm kinh doanh (theo cửa hàng,
quầy bán).
10
-Các số liệu kế toán doanh thu bán hàng được sử dụng trong phân tích
hoạt động kinh tế, các hợp đồng bán hàng và các đơn vị đặt hàng, các chứng từ
hoá đơn bán hàng.
*Tài liệu bên ngoài:
-Các số liệu thông tin kinh tế thị trường, giá cả của những mặt hàng mà
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh bao gồm cả thông tin trong nước và thông tin
trên thị trường Quốc tế và khu vực (đối với những doanh nghiệp kinh doanh
Quốc tế).
-Các chế
độ, chính sách về thương mại, chính sách tài chính, tín dụng có
liên quan đến hoạt động doanh nghiệp do Nhà nước ban hành.
1.1.4. Trình tự phân tích doanh thu bán hàng:
Thu thập tài liệu và xử lý số liệu. Đây là bước quan trọng ảnh hưởng đến
chất lượng phân tích, tài liệu thu thập phải đầy đủ không mâu thuẫn giữa các số
liệu thu thập. Tài liệu, số liệu phải được thu thập qua một số năm và số kế hoạch
dự
kiến để làm cơ sở cho việc so sánh đánh giá, phân tích.
-Xây dựng các bảng biểu, các chỉ tiêu kinh tế phản ánh tình hình hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp trên cơ sở tài liệu thu thập xây dựng các
bảng biểu, xác định các chỉ tiêu kinh tế để nêu thực trạng hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp.
-Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến thực trạng doanh thu của doanh
nghiệp nhằm phân tích, nghiên cứu nguyên nhân khách quan và chủ quan ả
nh
hưởng tích cực và ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả và hiệu quả của doanh thu
đến từng giai đoạn của quá trình kinh doanh. Đồng thời xác định mức độ ảnh
hưởng của từng nhân tố đến doanh thu.
-Tổng hợp kết quản phân tích, đưa ra các kết luận đánh giá thực trạng
kinh doanh của doanh nghiệp.
-Xây dựng định hướng và đưa ra các giải pháp cụ thể, trên cơ sở
đưa ra
những mặt mạnh, xây dựng định hướng phát triển trong thời gian tới nhằm nâng
11
cao hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp. Từ đó tìm ra những mặt yếu, những mặt
còn hạn chế và đề ra các giải pháp nhằm khắc phục, phát huy các mặt mạnh.
12
1.2. CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH DOANH THU BÁN HÀNG TRONG CÁC
DOANH NGHIỆP.
Phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp là môn khoa học xã hội nghiên
cứu các hiện tượng và quá trình kinh tế phát sinh trong quá trình hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp. Do vậy, việc phân tích hoạt động kinh tế phải dựa vào
những lý luận cơ bản của các môn kinh tế chính trị học, kinh tế học và những
môn kinh tế chuyên ngành có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
Ngoài ra, phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp còn căn cứ vào các
đường l
ối, chủ trương chính sách và pháp luật của Nhà nước về kinh tế. Đó là sự
nhận thức và vận dụng các lý luận khoa học, kinh tế của Nhà nước trong những
điều kiện phát triển lịch sử cụ thể của một đất nước mà đòi hỏi tất cả các doanh
nghiệp và các tổ chức kinh tế phải thực hiện nghiêm ngặt. Do vậy mà việc
nghiên cứu nắm vững các ch
ế độ, chính sách và pháp luật kinh tế của Nhà nước
là một trong những cơ sở để phân tích hoạt động kinh tế. Để phân tích doanh thu
bán hàng chúng ta sử dụng các phương pháp sau:
1.2.1. Phương pháp so sánh.
So sánh là một phương pháp nghiên cứu để nhận thức được các hiện
tượng, sự vật thông qua quan hệ đối chiếu tương hỗ giữa sự vật, hiện tượng này
với sự vật, hiện tượng khác nhằm mục
đích là thấyđược sự giống nhau và khác
nhau giữa các sự vật hiện tượng. So sánh là phương pháp nghiên cứu được sử
dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khoa học trong đó có phân tích hoạt động
kinh tế nội dung của phương pháp so sánh bao gồm:
-So sánh giữa số thực hiện của kỳ báo cáo với số kế hoạch hoặc số định
mức để thấy được mức độ hoàn thành bằng t
ỷ lệ phần trăm (%) hoặc số chênh
lệch tăng giảm.
-So sánh giữa số liệu thực hiện kỳ báo cáo với số thực hiện cùng kỳ năm
trước hoặc các năm trước để thấy được sự biến động tăng giảm của các chỉ tiêu
13
kinh tế qua những thời kỳ khác nhau và xu thế phát triển của chúng trong tương
lai.
-So sánh giữa số liệu thực hiện của một đơn vị này với một đơn vị khác để
thấy được sự khác nhau và mức độ khả năng phấn đấu của đơn vị.
-Ngoài ra cũng có thể so sánh giưa doanh thu bộ phận với doanh thu tổng
thể để thấy được vai trò vị trí củ
a bộ phận trong tổng thể đó.
Để đáp ứng phương pháp so sánh trong phân tích doanh thu bán hàng thì
các chỉ tiêu đem so sánh phải đảm bảo tính đồng nhất, tức là phản ánh cùng một
nội dung kinh tế, phản ánh cùng một thời điểm hoặc cùng một thời gian phát
sinh và cùng một phương pháp tính toán.
a. So sánh tuyệt đối: Là kết quả so sánh trị số của chỉ tiêu giữa hai kỳ. Số
tuyệt đối có thể tính bằ
ng giá trị, hiện vật, giờ công và làm cơ sở để tính trị số
khác.
b. So sánh tương đối: Là kết quả so sánh giữa số kỳ phân tích với số kỳ đã
đượcđiều chỉnh theo hệ số chỉ tiêu có liên quan theo quyết định quy mô của chi
tiêu phân tích.
-Số tương đối hoàn thành kế hoạch: Biểu hiện quan hệ tỷ lệ giữa mức độ
doanh thu đạt được trong kỳ phân tích so với m
ức doanh thu cần đạt mà kế
hoạch đặt ra.
Số tương đối hoàn Số liệu thực tế đạt được trong kỳ
= x 100
thành kế hoạch Số liệu cần đạt được theo kế hoạch
-Số tương đối kết cấu (tỷ trọng): biểu hiện mối quan hệ giữa chỉ tiêu
doanh thu bộ phận với doanh thu tổng thể để thấy được vai trò của t
ừng bộ phận
trong tổng thể.
Số tương đối Số liệu bộ phận
= x 100
kết cấu Số liệu tổng thể
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét