(những thao tác cụ thể) nhằm nắm bắt và đIều hành được những nghiệp vụ
đó.
Nhằm tham gia vào quá trình quản lý, kiểm tra kiểm soát phải tuân
thủ theo 3 bước cơ bản:
Thứ nhất là xây dựng hệ thống tiêu chuẩn dựa trên cơ sở của những
mục tiêu quản lý.
Thứ hai là đo lường việc thực hiện theo những tiêu chuẩn đã được
xây dựng. Ở bước này người quản lý sẽ nhận được các thông tin về đối
tượng quản lý.
Thứ ba là dựa trên những thông tin thu thập được ở bước thứ hai,
người quản lý điều chỉnh các sai lệch trong việc thực hiện.
Như vậy, kiểm tra kiểm soát gắn liền với hoạt động quản lý. Ở đâu
có quản lý thì ở đó có kiểm tra, kiểm soát. Kiểm tra, kiểm soát không tự
nhiên tồn tại mà nảy sinh và phát triển từ chính nhu cầu quản lý và phục vụ
quản lý. Kiểm tra kiểm soát là cầu nối giữa thực tế sinh động và nhận thức
chủ quan của con người trong quá trình quản lý.
Về phân cấp quản lý, có rất nhiều mô hình khác nhau song chung
nhất thường là phân thành quản lý vĩ mô (của Nhà nước ) và quản lý vi mô
(của các đơn vị cơ sở). Ngoài ra, trong nhiều trường hợp giữa hai cấp quản
lý cơ bản nói trên còn có cấp quản lý trung gian vừa chịu sự quản lý vĩ mô
của Nhà nước, vừa thực hiện chức năng quản lý của các đơn vị cơ sở.
Đối với quản lý vi mô, để bảo đảm hiệu quả hoạt động, tất yếu mỗi
đơn vị cơ sở đều tự kiểm tra mọi hoạt động của mình trong tất cả các khâu :
rà soát các tiềm lực, xem xét lại các dự báo, các mục tiêu và định mức, đối
chiếu và truy tìm các thông số về sự kết hợp, soát xét lại các thông tin thực
hiện để điều chỉnh kịp thời trên quan điểm bảo đảm hiệu năng của mọi
nguồn lực và hiệu quả kinh tế cuối cùng của các hoạt động. Công việc này
là kiểm soát nội bộ hay còn gọi là nội kiểm.
5
Trong khi đó, với cương vị quản lý vĩ mô, Nhà nước cũng thực hiện
chức năng kiểm tra của mình. Trong nền kinh tế, Nhà nước có vai trò bảo
đảm một môi trường kinh doanh ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho các
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, nâng cao khả năng cạnh tranh hơn nữa,
Nhà nước còn giữ vai trò định hướng sự phát triển của nền kinh tế thông
qua việc điều tiết kinh tế vĩ mô. Với những vai trò đó, đối tượng của quản
lý Nhà nước là rất rộng lớn, từ các doanh nghiệp cho tới những lĩnh vực ,
những ngành nghề khác nhau và trên nguyên tắc, tất cả các hoạt động kinh
tế đều thuộc đối tượng quản lý của Nhà nước. Với đối tượng quản lý rất
rộng, việc quản lý của Nhà nước đòi hỏi phải bám sát thực tế kinh doanh
của doanh nghiệp, nhưng đồng thời phải bảo đảm đúng định hướng, bảo
đảm thực hiện các mục tiêu của Nhà nước.
Mặt khác, Nhà nước là một tổ chức chính trị, đại diện cho quyền lợi
của giai cấp thống trị, thi hành các chính sách do giai cấp thống trị đặt ra để
cai trị xã hội. Để duy trì sự hoạt động của mình, Nhà nước cần có những
nhu cầu chi tiêu chung có tính chất xã hội. Do đó, Nhà nước phải dùng
quyền lực chính trị vốn có để giành lấy một bộ phận của cải xã hội phục
vụ cho các chức năng, nhiệm vụ của mình. Đó là lý do tồn tại của nguồn
thu NSNN. Về thực chất, nguồn thu NSNN là sự phân phối của cải xã hội
nhằm thực hiện chức năng của tài chính. Do tính chất quan trọng của nguồn
thu NSNN, Nhà nước phải thực hiện quản lý và thiết lập việc kiểm soát các
nguồn thu này.
Do vậy, kiểm tra kiểm soát nói chung và kiểm soát nguồn thu NSNN
nói riêng là rất cần thiết và vô cùng quan trọng trong quản lý Nhà nước.
Trong việc kiểm soát của Nhà nước, các tiêu chuẩn kiểm soát là hệ thống
các Luật và các quy định dưới Luật.
Nhà nước thực hiện chức năng kiểm tra của mình hoặc trực tiếp hoặc
gián tiếp. Ở cấp độ trực tiếp (thông thường với tư cách chủ sở hữu) Nhà
6
nước kiểm tra các mục tiêu các chương trình, kế hoạch hoạt động, kiểm tra
các nguồn lực, kiểm tra quá trình và kết quả thực hiện các mục tiêu của các
doanh nghiệp Nhà nước và bộ máy hành chính, kiểm tra tính trung thực của
các thông tin cũng như tính pháp lý của việc thực hiện các nghiệp vụ. Ở
cấp độ gián tiếp, Nhà nước có thể sử dụng kết quả kiểm tra của các chuyên
gia hoặc các tổ chức kiểm tra độc lập để thực hiện điều tiết vĩ mô qua các
chính sách của mình, hoặc tham gia đầu tư hoặc với tư cách là các khách
hàng của các tổ chức kinh tế.
Việc kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước khác với kiểm tra, kiểm soát
của các doanh nghiệp do mục đích quản lý, đối tượng quản lý là hoàn toàn
khác nhau. Nếu như đối với doanh nghiệp, mục tiêu của quản lý là tạo ra
lợi nhuận tối đa và một nền tảng bền vững để phát triển thì đối với Nhà
nước, mục tiêu quản lý lại là ổn định nền kinh tế trên các lĩnh vực: sản
xuất, thương mại, tài chính - tiền tệ , bảo đảm một môi trường kinh doanh
ổn định và thực hiện huy động đủ nguồn thu NSNN. Đối tượng quản lý của
quản lý Nhà nước là các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, các yếu tố của môi trường
kinh doanh, các giá trị văn hoá, môi trường xã hội. Còn đối tượng quản lý
của doanh nghiệp lại là những vấn đề chi phí, thu nhập, cơ cấu các nguồn
vốn sử dụng, quy trình tạo ra sản phẩm, dịch vụ v.v Do vậy, quá trình
kiểm tra kiểm soát đối với doanh nghiệp thì ngoài việc kiểm tra trong nội
bộ doanh nghiệp còn phải chịu sự kiểm tra, kiểm soát này nhằm bảo đảm
các quyết định quản lý kinh tế của Nhà nước, trong đó có chính sách huy
động nguồn thu NSNN được thực hiện một cách có hiệu quả.
Trên giác độ tài chính, cả kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp và
kiểm soát của Nhà nước đều hướng tới một đối tượng chung là hoạt động
tài chính của doanh nghiệp.
1.1.3 - Kiểm tra, kiểm soát hoạt động tài chính của doanh nghiệp.
7
Phạm vi quản lý bao gồm tất cả các lĩnh vực chức năng khác nhau.
Tùy theo tính chất nghiệp vụ, sự chuyên môn hoá và sự phân quyền mà các
bộ phận chức năng có thể được thiết lập. Quá trình quản lý trong mỗi lĩnh
vực đều phải tuân thủ theo các bước như đã nêu ở trên nhưng phải tập trung
vào việc thực hiện chức năng đã định một cách hiệu quả nhất. Để thực hiện
mục tiêu này, cần phải thiết lập hệ thống kiểm soát trên hai khu vực, đó là
kiểm soát quản lý và kiểm soát kế toán.
Theo các chuẩn mực đã hệ thống hoá của Hội đồng kế toán viên
công chứng Mỹ (AICPA), phần thực hành kiểm toán (32009) thì :
Kiểm soát quản lý (trong doanh nghiệp được cụ thể hoá là kiểm soát
quản trị - Administrative) bao gồm (nhưng không hạn chế) kế hoạch tổ
chức và các trình tự, hồ sơ cần cho quá trình ra quyết định để cho phép tiến
hành các nghiệp vụ. Kiểm soát quản lý gắn liền với trách nhiệm thực hiện
các mục tiêu của tổ chức và là điểm xuất phát để thiết lập kiểm soát kế
toán.
Kiểm soát kế toán (Accounting Control) bao gồm kế hoạch tổ chức
và các trình tự, hồ sơ cần thiết cho việc bảo vệ tài sản và độ tin cậy của sổ
sách tài chính và do đó phải bảo đảm hợp lý rằng :
- Các nghiệp vụ được tiến hành theo sự chỉ đạo chung hoặc cụ thể
của quản lý.
- Các nghiệp vụ được ghi sổ là cần thiết để : (1) Giúp chuẩn bị các
báo cáo tài chính đúng với nguyên tắc kế toán chung được thừa nhận hoặc
các tiêu chuẩn có thể áp dụng cho các báo cáo này; (2) Duy trì khả năng
hạch toán của tài sản.
- Chỉ khi được phép của nhà quản lý mới động đến tài sản.
- Tài sản đã ghi sổ phải được đối chiếu với tài sản thực có tại thời
điểm thích hợp và phải có sự điều chỉnh phù hợp khi có những chênh lệch.
8
Như vậy, kiểm soát kế toán chỉ quan tâm đến hoạt động tài chính của
doanh nghiệp được phản ánh trên các tài liệu kế toán. Trong khi đó, kiểm
soát quản lý yêu cầu một phạm vi rộng hơn của các đối tượng kiểm soát
theo mục tiêu quản lý của toàn bộ tổ chức. Tuy nhiên, kiểm soát kế toán lại
có vai trò là cơ sở cho kiểm soát quản lý. Các chứng từ kế toán không chỉ
là sự thông tin mà còn là minh chứng pháp lý cho sự hình thành các nghiệp
vụ kinh tế. Từ đó, kiểm soát kế toán có thể hình thành phương pháp tự
kiểm soát : đối ứng tài khoản không chỉ là phương pháp phân loại, phản
ánh sự vận động của tài sản mà còn là phương pháp kiểm tra những quan
hệ cân đối cụ thể, tổng hợp - cân đối kế toán không chỉ cung cấp những
thông tin tổng hợp mà còn là phương pháp kiểm tra kết quả cân đối tổng
quát trong thông tin kế toán. . .
Tuy vậy, thực trạng hoạt động tài chính và sự phản ánh nó trong kế
toán vẫn có những sự cách biệt do giới hạn của trình độ, phương tiện thu
thập thông tin và những giới hạn cho phép về nghề nghiệp trong chính sách
kế toán với sự đa dạng, thường xuyên của lượng thông tin phát ra từ hoạt
động tài chính. Do vậy, cần phải có kiểm tra ngoài kế toán mới có thể xác
minh một cách chính xác thực trạng tài chính của doanh nghiệp.
Từ những lý luận trên, có thể cụ thể hoá đối tượng của kiểm soát kế
toán trong hoạt động tài chính doanh nghiệp trên những vấn đề sau :
+ Thực trạng hoạt động tài chính doanh nghiệp.
Đối với mỗi doanh nghiệp, thực trạng hoạt động tài chính bao gồm 2
phần rõ rệt: một phần được phản ánh trong các tài liệu kế toán và phần còn
lại chưa được phản ánh trong tài liệu kế toán. Đối với phần thực trạng được
phản ánh trong các tài liệu kế toán, việc kiểm soát đã có đầy đủ bằng
chứng, đó là các chứng từ kế toán do doanh nghiệp lập ra trên cơ sở các
nghiệp vụ phát sinh và các quy định của hệ thống Luật pháp về kế toán.
Tuy vậy, đây chỉ là phần nổi của các hoạt động tài chính. Hoạt động kiểm
9
soát còn quan tâm đến phần thực trạng hoạt động tài chính chưa được phản
ánh trong tài liệu kế toán. Đó là khi các chứng từ kế toán không đủ độ tin
cậy mà trên thực tế không phát sinh các nghiệp vụ kinh tế, hoặc các nghiệp
vụ kinh tế chưa được phản ánh đầy đủ trên các chứng từ.
+Kiểm soát về tài liệu kế toán.
Thực trạng hoạt động tài chính là đối tượng chung của kiểm soát.
Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, khi các nghiệp vụ kế toán và tài
chính phát triển đến trình độ cao và hệ thống Luật pháp ngày càng trở nên
chặt chẽ thì yêu cầu chung đối với quản lý là tất cả các nghiệp vụ kinh tế
phát sinh phải được phản ánh đầy đủ trên các tài liệu kế toán. Một mặt đây
là sự lượng hoá các nghiệp vụ kinh tế, mặt khác tài liệu kế toán còn thể
hiện tính pháp lý của hoạt động kinh tế.
Đối với các tài liệu kế toán, việc kiểm soát phải thực hiện theo các
nội dung sau:
- Kiểm tra tính hiện thực của các thông tin kế toán. Tính hiện thực
của thông tin trên các tài liệu kế toán thể hiện sự phản ánh một cách trung
thực, đầy đủ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp.
- Kiểm tra tính hợp pháp của các biểu mẫu, của trình tự lập và luân
chuyển các tài liệu kế toán.
- Kiểm tra tính hợp lý của các đói tượng kế toán phù hợp với nội
dung của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
- Và cuối cùng, kiểm tra tính pháp lý trong việc thực hiện các quy
định, chuẩn mực và chế độ tài chính của doanh nghiệp.
Để tiến hành kiểm soát cần phải có những phương pháp cụ thể , đó là
phương pháp kiểm soát trên chứng từ và phương pháp kiểm soát ngoài
chứng từ.
Các phương pháp kiểm soát trên chứng từ.
10
Các phương pháp kiểm soát trên chứng từ dựa trên cơ sở các nguồn
tài liệu kế toán sẵn có của doanh nghiệp. Các phương pháp này gồm có:
- Phương pháp kiểm soát cân đối kế toán: là phương pháp dựa trên
các cân đối kế toán và các cân đối khác để kiểm soát các quan hệ nội tại
của các yếu tố cấu thành nên quan hệ cân đối đó. Đó là cân đối giữa nguồn
lực và kết quả cân đối giữa số phát sinh nợ và số phát sinh của các tài
khoản v.v
- Phương pháp đối chiếu trực tiếp: Là phương pháp so sánh (về mặt
lượng) trị số của cùng một chỉ tiêu trên các chứng từ kế toán. Phương pháp
đối chiếu trực tiếp thường sử dụng trong các trường hợp sau:
+ Đối chiếu giữa số cuối kỳ và số đầu năm hoặc giữa các kỳ về chỉ
tiêu doanh thu, chi phí, thu nhập để phát hiện sự biến động bất thường
trong các chỉ tiêu đó.
+ Đối chiếu trị số của các chỉ tiêu với trị số của các yếu tố cấu thành
chỉ tiêu đó. Chẳng hạn đối chiếu số lượng, đơn giá với số tiền trong các
chứng từ gốc, đối chiếu thu nhập, chi phí với kết quả kinh doanh.
Tuy vậy, phương pháp này chỉ được sử dụng trong trường hợp các
chỉ tiêu được hạch toán theo cùng một nội dung, cùng phương pháp, cùng
đơn vị , trong cùng một khoảng thời gian điều kiện tương tự nhau.
- Phương pháp đối chiếu logic: Là phương pháp xem xét mức biến
động tương ứng về trị số của các chỉ tiêu có quan hệ kinh tế trực tiếp song
nó có thể có mức biến động khác nhau theo những chiều hướng khác nhau
(ví dụ giữa hàng tồn kho với tiền mặt, tiền gửi và các khoản phải thu).
Các phương pháp kiểm soát ngoài chứng từ
- Phương pháp kiểm kê: Là phương pháp kiểm tra tại chỗ các loại tài
sản. Phương pháp này giúp việc kiểm soát phát hiện sự sai lệch giữa thực
trạng tài sản và việc phản ánh trên các chứng từ kế toán.
11
- Phương pháp thực nghiệm: Là phương pháp diễn lại hoặc nghiên
cứu, phân tích từng yếu tố cấu thành của một tài sản, một quá trình đã có,
đã diễn ra và cần xác minh lại.
- Phương pháp điều tra: Đây là phương pháp xác định lại một tài
liệu, hoặc một thực trạng để đi đến những quyết định hay kết luận trong
quá trình kiểm soát.
Tóm lại, kiểm tra, kiểm soát đối với doanh nghiệp chính là thực hiện
việc kiểm tra kế toán trong hoạt động tài chính. Nó có vai trò rất quan trọng
trong hệ thống quản lý của doanh nghiệp và của Nhà nước. Do có đối
tượng, có phương pháp cụ thể, kiểm tra kế toán trong hoạt động tài chính
đã đáp ứng được các nhu cầu của quản lý và là một chức năng quan trọng
của quản lý. Trong phạm vi của đề tài, tác giả sẽ đi sâu vào một hoạt động
kiểm tra kế toán trong hoạt động tài chính của doanh nghiệp, đó là kiểm
soát nguồn thu thuế GTGT.
1.2/ KIỂM SOÁT NGUỒN THU THUẾ GTGT TỪ CÁC DOANH
NGHIỆP.
1.2.1 - Những vấn đề cơ bản về thuế GTGT.
Thuế GTGT là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ
phát sinh ở từng khâu trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
Căn cứ tính thuế GTGT là giá tính thuế và thuế suất. Giá tính thuế
đối với hàng hoá, dịch vụ là giá bán chưa có thuế GTGT (gồm cả khoản
phụ thu và phí thu thêm mà cơ sở kinh doanh được hưởng).
Có hai phương pháp tính thuế GTGT:
+ Phương pháp khấu trừ thuế.
+ Phương pháp tính trực tiếp trên GTGT.
Trong luận văn này chúng ta chỉ đi vào xem xét phương pháp thứ
nhất: phương pháp khấu trừ thuế áp dụng đối với các doanh nghiệp.
12
Phương pháp khấu trừ thuế được áp dụng cho các cơ sở kinh doanh
đã thực hiện đầy đủ các yêu cầu về mở và ghi sổ kế toán, chấp hành đầy đủ
các quy định của chế độ hoá đơn, chứng từ bao gồm: các doanh nghiệp Nhà
nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp tư nhân, các
Công ty cổ phần, hợp tác xã và các đơn vị tổ chức kinh doanh khác.
Cơ sở kinh doanh đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế
phải sử dụng hoá đơn GTGT (trừ trường hợp được dùng chứng từ ghi giá
thanh toán đã có thuế GTGT). Trên hoá đơn GTGT phải ghi rõ: giá bán
(chưa có thuế GTGT), các khoản phụ thu, thuế GTGT và tổng số tiền phải
thanh toán.
Thuế GTGT phải nộp là số chênh lệch giữa số thuế GTGT đầu ra với
số thuế GTGT đầu vào. Công thức tính như sau:
Thuế GTGT
phải nộp
= Thuế GTGT đầu ra -
Thuế GTGT đầu
vào
Trong đó, thuế GTGT đầu ra là số thuế tính trên tổng giá bán (chưa
bao gồm thuế GTGT) hàng hoá, dịch vụ bán ra trong kỳ. Thuế GTGT đầu
ra được tính theo công thức sau:
Thuế GTGT đầu ra = Giá tính thuế x Thuế suất
Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng tính thuế theo phương pháp khấu
trừ thuế khi bán hàng hoá, dịch vụ phải tính và thu thuế GTGT của hàng
hoá, dịch vụ bán ra. Khi lập hoá đơn bán hàng hoá, dịch vụ, cơ sở kinh
doanh phải ghi rõ giá bán chưa bao gồm thuế GTGT, thuế GTGT, tổng giá
thanh toán. Trường hợp hoá đơn chỉ ghi giá thanh toán, không ghi rõ giá
chưa có thuế GTGT và thuế GTGT thì thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ
bán ra phải tính trên giá thanh toán ghi trên hoá đơn, chứng từ.
13
Thuế GTGT đầu vào là số thuế GTGT được ghi trên hoá đơn GTGT
khi mua hàng hoá, dịch vụ hoặc trên chứng từ nộp thuế GTGT của hàng
hoá, dịch vụ nhập khẩu.
Đối với quản lý Nhà nước, mục tiêu của việc áp dụng thuế GTGT là :
- Góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, mở rộng lưu thông hàng hoá,
đẩy mạnh xuất khẩu. Thuế GTGT khắc phục được việc thu trùng lắp của
thuế doanh thu, thuế GTGT không thu trên vốn đầu tư, do đó khuyến khích
sản xuất kinh doanh và đầu tư. Đối với hàng xuất khẩu, các doanh nghiệp
không phải nộp thuế GTGT, mặt khác lại được hoàn thuế GTGT đầu vào
nên có điều kiện hạ giá bán, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường
quốc tế.
- Bảo đảm động viên số thu quan trọng và tương đối ổn định cho
NSNN.
- Tăng cường công tác hạch toán kế toán và khuyến khích việc mua
bán hàng hoá có hoá đơn, chứng từ.
- Phù hợp với thông lệ quốc tế và đẩy nhanh tiến trình hội nhập với
các nước trong khu vực và trên thế giới
1.2.2 - Vai trò của kiểm soát nguồn thu Thuế GTGT.
1.2.2.1- Vai trò của kiểm soát nguồn thu thuế GTGT
Nguồn thu NSNN là nguồn tài chính nuôi sống sự hoạt động của bộ
máy Nhà nước. Hơn nữa nguồn thu NSNN còn quyết định mức chi NSNN,
do đó ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế. Từ đó có
thể thấy rằng việc quản lý Nhà nước phải đặt việc quản lý nguồn thu
NSNN, trong đó có nguồn thu thuế GTGT là một trong những mục tiêu
quan trọng nhất. Mà như chúng ta đã biết, việc quản lý luôn luôn tồn tại
cùng với việc kiểm tra, kiểm soát. Do vậy, kiểm soát nguồn thu Thuế
GTGT đóng vai trò rất quan trọng trong quản lý Nhà nước về kinh tế.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét