Khoá luận tốt nghiệp
Văn Nam và các cô chú trong Sở giao dịch I- Ngân hàng Công thơng Việt
Nam(SGDI- NHCTVN) em đã nhận thấy nhiều vấn đề cần quan tâm đối với
nghiệp vụ tín dụng. Vì vậy em đã chọn đề tài: Biện pháp nâng cao chất lợng
tín dụng của Sở giao dịch I- Ngân hàng Công thơng Việt Nam cho khoá
luận tốt nghiệp của mình.
Nội dung của khoá luận gồm ba chơng:
Chơng I: Tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trờng.
Chơng II: Thực trạng hoạt động tín dụng của Sở giao dịch I- Ngân hàng
Công thơng Việt Nam.
Chơng III: Biện pháp nâng cao chất lợng tín dụng của Sở giao dịch I-
Ngân hàng Công thơng Việt Nam.
Do sự hạn chế về kiến thức, kinh nghiệm thực tế, thời gian và những
thông tin cần thiết cũng nh tính phức tạp của đề tài nghiên cứu bài viết sẽ
không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong đợc sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của
các thầy cô và những ai quan tâm tới vấn đề này.
5
Khoá luận tốt nghiệp
Chơng I:
Tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trờng
1.1. Ngân hàng Thơng mại và các nghiệp vụ của ngân hàng.
1.1.1. Sự hình thành và phát triển của Ngân hàng.
Ngân hàng thơng mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ
yếu và thờng xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và
sử dụng một khối lợng tiền tệ để cho vay và đầu t, thực hiện các dịch vụ ngân
hàng.
Quá trình ra đời của ngân hàng có nhiều quan điểm khác nhau, nhng chủ
yếu có hai quan điểm:
Quan điểm 1: Sự ra đời của ngân hàng đợc bắt nguồn từ các nhà t bản
tiền tệ, quá trình phát triển của chủ nghĩa t bản. Một số nhà t bản thơng nghiệp
đã tách ra và thành lập một nhóm chuyên làm nghề chuyển tiền cho khách
hàng. Trong quá trình hoạt động, các nhà t bản tiền tệ này đã tập trung trong tay
một số lợng tiền tệ lớn và trong khối lợng tiền tệ đó có những khoản tiền tạm
thời nhàn rỗi, trên cơ sở đó các nhà t bản đã làm thêm nhiệm vụ nữa là cho vay.
Đây chính là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của ngân hàng.
Quan điểm 2: Ngân hàng đợc bắt nguồn t cơ sở vàng (các ngời thợ làm
kim hoàn) lúc đầu những cơ sở vàng chỉ đơn thuần thực hiện nghiệp vụ chung
nhất là cất giữ vàng hộ, thông qua đó họ nhận đợc một khoản lệ phí nhất định.
Sau đó, những cơ sở vàng này không chỉ giữ vàng hộ mà còn nhận giữ các
khoản tiền cho khách hàng.
Trong thực tiễn hoạt động của những ngời thợ vàng thì họ thấy rằng việc
dự trữ 100% số lợng vàng của khách hàng là một điều không cần thiết nó có
6
Khoá luận tốt nghiệp
những trờng hợp tất cả khách hàng đều có nhu cầu rút tiền, vàng cùng một lúc,
những lúc này sẽ gặp khó khăn trở ngại. Do đó thợ vàng chỉ giữ lại một tỷ lệ
nhất định trên tổng số tiền của khách hàng, số còn lại họ dùng để đầu t cho vay
sinh lời. Các cơ sở vàng không chỉ nhận tiền gửi và cho vay mà họ còn thực
hiện các nghiệp vụ thanh toán và chuyển tiền hộ cho khách hàng, do vậy ngân
hàng ra đời là một tất yếu khách quan.
Trong các quan niệm trớc đây thờng đánh giá ngân hàng nh một cơ quan
thực hiện quá trình phân phối phát sinh thuần tuý, đánh giá vai trò của ngân
hàng thờng nặng nề về quản lý. Song thực tế ngân hàng là sản phẩm tất yếu của
nền kinh tế hàng hoá. Tuy nó ra đời muộn song nó đã nhanh chóng giữ vị trí
tiên phong, chủ chốt đối với quá trình phát triển của sản xuất và lu thông hàng
hoá, đặc biệt điều đó thể hiện rõ nét hơn trong cơ chế thị truờng.
Ngày nay Ngân hàng đã đợc nhìn nhận và đánh giá đúng đắn hơn thông
qua 2 hoạt động chủ yếu là:
- Quản lý Nhà nớc về hoạt động tiền tệ, tín dụng bằng những chính sách
ban hành: lu thông tiền tệ, quản lý tiền mặt, ngoại hối, các chính sách tín dụng,
chính sách lãi xuất
- Hoạt động kinh doanh thông qua nghiệp vụ tín dụng, thanh toán, kimh
doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng.
Từ hai hoạt động cơ bản trên, đã hình thành nên hai hệ thống Ngân hàng:
Ngân hàng Nhà nớc và Ngân hàng thơng mại. Sự đổi mới trong việc tổ chức và
hoạt động của Ngân hàng là phù hợp với thực tế khách quan: một mặt tạo ra sự
quản lý chặt chẽ của Nhà nớc đối với hoạt động tiền tệ tín dụng để xây dựng
một nền tiền tệ ổn định và thực hiện tích luỹ cần thiết cho công cuộc xây dựng
đất nớc, mặt khác tạo điều kiện phát huy cao độ vai trò đặc biệt của Ngân hàng
để phục vụ cho sản xuất kinh doanh. Thực tế cho thấy rằng trong một nền kinh
tế hiện đại, bất cứ một sự đầu t nào muốn đảm bảo chắc chắn và đem lại hiệu
quả kinh tế cao cũng đều cần có sự đảm bảo của Ngân hàng thơng mại. Nh vậy
sự ra đời của Ngân hàng thơng mại là một tất yếu khách quan đối với nền kinh
tế thị trờng.
7
Khoá luận tốt nghiệp
1.1.2. Các nghiệp vụ của Ngân hàng Thơng mại trong nền kinh tế thị trờng.
Ngân hàng thơng mại chia ra nhiều loại hình khác nhau song chung quy
lại dù ở loại hình nào và có những đặc điểm, tính chất hoạt động cụ thể khác
nhau nhng cũng đều hoạt động theo 3 nghiệp vụ sau đây:
- Nghiệp vụ nợ (huy động vốn): Ngân hàng thong mại thông qua hoạt
động tín dụng huy động, tập chung nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong quá trình
sản xuất kinh doanh của các đơn vị, tổ chức kinh tế, các tầng lớp dân c Mặt
khác Ngân hàng còn thực hiện nghiệp vụ này bằng cách đi vay Ngân hàng Nhà
nớc, nớc ngoài hoặc tiếp nhận nguồn vốn tài trợ, uỷ thác đầu t của Nhà nớc và
nớc ngoài.
- Nghiệp vụ có (sử dụng vốn) : Ngân hàng thơng mại có thể cho vay và
đầu t trên cơ sở nguồn vốn đã huy động đợc dới các dạng nh: cho vay với các
thành phần kinh tế, các tổ chức, các tầng lớp dân c phục vụ sản xuất kinh
doanh và dịch vụ, thực hiện nghiệp vụ chứng khoán có giá, tham gia hoạt động
hùn vốn liên doanh, liên kết
- Nghiệp vụ trung gian: Các ngân hàng thơng mại còn thực hiện nhiều
nghiệp vụ nh: thanh toán hộ khách hàng, dịch vụ t vấn, dịch vụ chuyển tiền, bảo
quản hộ.
ở Việt Nam, do hiểu đầy đủ các học thuyết kinh tế, hiểu vai trò của hệ
thống Ngân hàng và tầm quan trọng của chính sách tiền tệ trong nền kinh tế thị
trờng nên khi có chủ trơng đổi mới nền kinh tế đất nớc Đảng và Nhà nớc ta đã
khẳng định việc tổ chức lại hệ thống ngân hàng Việt Nam là một trong những
công việc đầu tiên của quá trình đổi mới. Việc tổ chức lại hệ thống Ngân hàng
theo mô hình hai cấp đã đợc tiến hành từng bớc và mô hình này đợc khẳng định
tại các pháp lệnh ngân hàng ban bố năm 1990. Ngân hàng Nhà nớc là cấp quản
lý Nhà nớc về hoạt động tiền tệ tín dụng và là cơ quan duy nhất phát hành tiền
Việt Nam.
Các Ngân hàng thơng mại, các công ty tài chính, các hợp tác xã tín dụng
là cấp thực hiện nhiệm vụ kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ.
8
Khoá luận tốt nghiệp
Trong thời gian qua, việc đa dạng hoá các loại hình ngân hàng đã đợc
thực hiện để dáp ứngyêu cầu kinh tế của thị trờng, phù hợp với đặc điểm của n-
ớc ta, có tác dụng mở rộng thị trờng vốn và phát triển các dịch vụ ngân hàng ở
Việt Nam, mở rộng quan hệ tài chính tiền tệ nớc ta với nớc ngoài. Riêng tại
thành phố Hà Nội, mạng lới ngân hàng thơng mại đã tăng lên đáng kể cho đến
nay tính ra cứ khoảng 50.000 dân có một chi nhánh ngân hàng phục vụ. Các
ngân hàng thơng mại, trớc hết là ngân hàng thơng mại Quốc doanh từ chỗ thụ
động và độc quyền trong nền kinh tế bao cấp đã bớc vào một môi trờng hoạt
động mới, chấp nhận cạnh tranh, không ngừng mở rộng, cải tiến và nâng cao
chất lợng công tác và dịch vụ.
1.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trờng.
1.2.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng và các tổ chức
tín dụng khác với các nhà doanh nghiệp, cá nhân.
Tín dụng ngân hàng là một phạm trù kinh tế thuộc nền sản xuất hàng
hoá, nó tồn tại và phát triển cùng với sự tồn tại và phát triển của sản xuất hàng
hoá và thông qua hoạt động tín dụng thì mâu thuẫn giữa nhu cầu tiết kiệm và
nhu cầu đầu t đợc giải quyết một cách thoả đáng làm cho mọi thành phần kinh
tế trong xã hội đều có thể phát huy tối đa các tiềm năng sẵn có phục vụ cho sự
nghiệp phát triển chung của đất nớc.
1.2.2. Các hình thức tín dụng ngân hàng.
Cùng với sự phát triển kinh tế, xu hớng tự do hoá, các ngân hàng phải
luôn luôn nghiên cứu để đa ra các hình thức tín dụng khác nhau để đáp ứng một
cách tốt nhất nhu cầu của quá trình tái sản xuất, từ đó đa dạng hoá danh mục
đầu t để mở rộng tín dụng, thu hút khách hàng, tăng lợi nhuận, thực hiện phân
tán rủi ro. Dựa váo các tiêu thức khác nhau ngời ta phân loại tín dụng ngân hàng
thành:
- Căn cứ vào mục đích sử dụng có các hình thức sau:
9
Khoá luận tốt nghiệp
+ Cho vay sản xuất và lu thông hàng hoá: là loại tín dụng vốn lu động và
cố định tài trợ cho sản xuất, mua bán hàng hoá
+ Cho vay tiêu dùng: là loại cho vay đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cá nhân
nh mua sắm vật dụng đắt tiền. Ngày nay ngân hàng còn thực hiẹn cho vay đẻ
trang trải chi phí thông thờng của đời sống thông qua phát hành thẻ tín dụng.
+ Cho vay đầu t xuất, nhập khẩu: Phục vụ cho các quan hệ sản xuất mua
bán, thanh toán qua hoạt động nhập khẩu.
- Căn cứ vào tài sản thế chấp có các loại sau:
+ Cho vay có tài sản thế chấp: Ngân hàng căn cứ vào tài sản của khách
hàng để đảm bảo cho việc trả nợ của khách hàng.
. Cho vay cầm cố: là việc ngân hàng căn cứ vào tài sản khách hàng mang
đén cầm cố tại ngân hàng. Tài sản của khách hàng do ngân hàng bảo quản trong
suốt thời gian cầm cố, khách hàng không đợc sử dụng, nhợng bán cho thuê
. Cho vay thế chấp: ngân hàng căn cứ vào tài sản của khách hàng để đảm
bảo khả năng trả nợ của khách hàng. Tài sản không cần mang đến ngân hàng,
khách hàng có quyền sử dụng nhng không đợc bán và cho thuê.
+ Cho vay không có tài sản thế chấp (tín chấp): Ngân hàng cho vay trên
cơ sở sự tin tởng khách hàng, tài sản thế chấp là uy tín, danh dự của khách
hàng. Ngoài ra còn có hình thức cho vay thông qua việc bảo lãnh bằng tín chấp
của các tổ chức đoàn thể kinh tế chính trị- xã hội cho cá nhân, cho hộ nghèo
vay vốn.
- Căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng có các hình thức là:
+ Cho vay bằng tiền: là loại cho vay mà hình thức giá trị của tín dụng đợc
cung cấp bằng tiền nh tín dụng theo thời vụ, tín dụng trả góp.
+ Cho vay bằng tài sản: phổ biến là tài trợ thuê mua.
- Căn cứ vào xuất xứ tín dụng có các hình thức sau:
+ Cho vay trực tiếp: ngân hàng trực tiếp cấp vốn cho khách hàng và
khách hàng trực tiếp trả lãi và gốc cho ngân hàng.
10
Khoá luận tốt nghiệp
+ Cho vay gián tiếp: là khoản cho vay thực hiện thông qua việc mua lại
các khế ớc hoặc các chứng từ nợ đã phát sinh và còn lại trong thời hạn thanh
toán.
- Căn cứ vào thời hạn cho vay có các hình thức tín dụng sau:
+Tín dụng ngắn hạn: là các khoản tín dụng có thời hạn không quá 12
tháng, đợc sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lu động phát sinh trong quá trình
sản xuất kinh doanh và chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.
+ Tín dụng trung hạn: là những khoản tín dụng có thời hạn từ trên 12
tháng cho đến 60 tháng. Mục đích vay vốn để sửa chữa, khôi phục, thay thế tài
sản cố định hoặc cải tiến kỹ thuật hợp lý hoá sản xuất, đổi mới quy trình công
nghệ và xây dựng những công trình loại nhỏ thời hạn thu hồi vốn nhanh.
+ Tín dụng dài hạn: là khoản tín dụng có thời hạn trên 60 tháng, mục
đích sử dụng vốn để sửa chữa, xây dựng cơ bản, đầu t bất động sản thời hạn
thu hồi vốn dài.
1.2.3. Vai trò của tín dụng ngân hàng.
Với tính chất là một phạm trù kinh tế, vai trò của tín dụng ngân hàng đối
với sự phát triển kinh tế đợc thể hiện qua một số nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất: Tín dụng ngân hàng thực hiện quy trình huy động tập trung và
phân phối lại vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, trên nguyên tắc có
hoàn trả lại và có lãi. Đây là chức năng cơ bản nhất của tín dụng ngân hàng,
chức năng này có nghĩa là thông qua hoạt động hoạt động tín dụng ngân hàng
nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi trong xã hội đợc huy động và phân phối cho các
nhu cầu cần thiết trong quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, các
tổ chức kinh tế. Quá trình tập trung vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của các đơn vị
đã đợc Nhà nớc quy định buộc họ phải mở tài khoản tại ngân hàng. Trong quá
trình hoạt động, tài khoản tiền gửi của các đơn vị luôn có số d nhất định, nhờ có
chức năng này mà tín dụng ngân hàng có thể huy động không những nguồn tiền
tệ tạm thời nhàn rỗi trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, các tổ
chức kinh tế, dân c mà còn huy động đợc những nguồn vốn dự trữ cha dùng
11
Khoá luận tốt nghiệp
đến của ngân sách Nhà nớc, hình thành nên nguồn vốn của ngân hàng, đồng
thời trên cơ sở đó tiến hành phân phối các nguồn vốn một cách có kế hoạch, đáp
ứng nhu cầu của quá trình tái sản xuất mở rộng. Quá trình phân phối thông qua
hai lần: phân phối lần đầu và phân phối lại tín dụng, phân phối lần đầu thông
qua lợi tức, chiếm tỷ trọng nhỏ trong thu nhập quốc dân. Việc tập trung và phân
phối vốn có quan hệ mật thiết và tác động ảnh hởng lẫn nhau.
Yêú tố cạnh tranh luôn gắn liền với tồn tại trong nền kinh tế thị trờng
đồng thời nó đóng vai trò làm chất xúc tác mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển của
quá trình sản xuất. Chính vì vậy trong quá trình kinh doanh của các doanh
nghiệp có thể tiếp tục tồn tại và phát triển hoặc thua lỗ kéo dài dẫn đến phá sản.
Do đó, khi hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng cần phải ỳim hiểu
thực trạng dự toán tình hình, để quyết định đúng đắn việc thực hiện đầu t vốn,
đảm bảo an toàn vốn, ngăn chặn tình trạng không thu hồi đợc vốn và lãi. Việc
xác lập chữ tín trong kinh doanh ngân hàng là yếu tố cơ bản quan trọng trong
nghiệp vụ tín dụng, điều này phù hợp vào mối quan hệ đôi bên, giữa khách hàng
và ngân hàng.
Thứ hai: Tín dụng ngân hàng có thể thay thế tiền mặt trong lu thông,
bằng những công cụ lu thông tín dụng, do vậy tiết kiệm đợc tiền mặt trong lu
thông thông qua việc nhận và trả tiền, đồng thời với tính chất thờng xuyên liên
tục cũng nh việc cho vay và thu hồi nợ của ngân hàng, gắn liền với sự vận động
của gí trị vật t hàng hoá trong sản xuất lu thông đã tạo ra những tiền đề kinh tế
khách quan cho phép Nhà nớc thông qua hệ thống ngân hàng sử dụng công cụ l-
u thông tín dụng đóng vai trò là phù hiệu của giá trị, thay thế tiền vàng trong lu
thông. Nh vậy đã tiết kiệm đáng kể một lợng tiền mặt dùng vào việc lu thông và
nh thế tiết kiệm đợc chi phí lu thông. Sự phát triển của các nghiệp vụ tín dụng đi
đôi với việc mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt thông qua hệ thống ngân
hàng đã tạo khả năng thực tế tiết kiệm cả dấu hiệu giá trị, kết quả đó là nhờ vào
chức năng trên của tín dụng ngân hàng. Ngoài ra thì hoạt động tín dụng còn
nhằm nâng cao chất lợng tạo tiền của ngân hàng giúp mở rộng sản xuất kinh
doanh của xã hội.
12
Khoá luận tốt nghiệp
Thứ ba: Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều hoà lu
thông tiền tệ. Vì còn tồn tại sản xuất và lu thông hàng hoá trong nền kinh tế
quốc dân thì việc tổ chức lu thông ổn định tiền tệ trong nền kinh tế là một điều
quan trọng không thể thiếu đợc và cũng là một đòi hỏi khách quan. Muốn ổn
định tiền tệ thì phải thông qua hoạt động tín dụng, tạo điều kiện cho nền kinh tế
phát triển nhanh chóng, có nghĩa là tạo cho nền kinh tế một lợng hàng hoá lớn
và việc thực hiện cân đối tiền hàng. Mặt khác, quá trình hoạt động của tín dụng
gắn liền với công tác thanh toán không dùng tiền mặt đã giảm bớt khối lợng
tiền mặt trong lu thông góp phần ổn định lu thông tiền tệ.
Thứ t: Tín dụng ngân hàng thực hiện chức năng phản ánh tổng hợp và
kiểm soát các hoạt động kinh tế trong nền kinh tế quốc dân. Chức năng này
xuất phát từ mối quan hệ trực tiếp và thờng xuyên của tín dụng ngân hàng với
quá trình sản xuất và sự vận động của thanh toán cũng nh việc quản lý tập trung
thống nhất công tác tín dụng đã tạo tiền đề khách quan cho tín dụng ngân hàng
thực hiện chức năng trên thông qua hoạt động thực tiễn, tín dụng ngân hàng
phản ánh một cách tổng hợp và nhạy bén tình hình hoạt động kinh tế tài chính
trong nền kinh tế quốc dân. Nhà nớc có chc năng tổ chức và quản lý nền kinh tế
thì các mối quan hệ kinh tế đó đều cần thiết và phải đợc thực hiện thông qua các
mặt hoạt động của ngân hàng. Nh vậy trên cơ sở đó Nhà nớc có những biện
pháp kịp thời phát huy cac nhân tố tích cực và khắc phục những tiêu cực xảy ra.
Quá trình phản ánh và kiểm soát của tín dụng ngân hàng là hai mặt không thể
tách rời nhau trong chức năng này.
Do đó , tín dụng ngân hàng đợc sử dụng nh là một trong những đòn bấy
kinh tế không thể thiếu đợc trong quản lý kinh tế tài chính, kiểm soát các quá
trình sản xuất, phân phối sản phảm xã hội, thực hiện và củng cố chế độ hạch
toán kinh tế, chế độ tiết kiệm trong nền kinh tế quốc dân.
13
Khoá luận tốt nghiệp
1.3. Chất lợng tín dụng và những rủi ro của tín dụng ngân hàng.
1.3.1. Chất lợng tín dụng.
Tín dụng nh theo định nghĩa, chính là sự vay mợn một lợng giá trị với
mục đích là đẻ phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh và tiêu dùng xã hội.
Xuất phát từ lợi ích về mặt kinh tế của cả hai bên nên chất lợng và hiệu quả của
tín dụng phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của cả hai bên. Do tín
dụng là một phạm trù mang tính tổng hợp nên khi đánh giá chất lợng tín dụng
và hiệu quả kinh tế của nó ta cần xét trên nhiều góc độ.
Chất lợng tín dụng trớc tiên là sự an toàn và hiệu quả trong hoạt động
kinh doanh của ngân hàng. Xét trên hai phơng diện: huy động vốn và sử dụng
vốn, phải đảm bảo huy động tối đa các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã
hội, đồng thời sử dụng nguồn vốn đó một cách hợp lý hiệu quả và an toàn nhất.
Vốn tín dụng ngân hàng phát ra cần đáp ứng một cách kịp thời và đầy đủ nhu
cầu về vốn của xã hội, sau một thời gian sử dụng nó sẽ đem lại các lợi ích về
mặt kinh tế và xã hội, cho bản thân ngời sử dụng vốn và cho toàn bộ nền kinh tế
quốc dân ( và đó chính là tiền đề cho việc hoàn trả đúng thời hạn cả gốc và lãi
tiền vay cho ngân hàng, tạo điều kiện cho ngân hàng đảm bảo an toàn và có thể
mở rộng nguồn vốn dùng trong kinh doanh của mình). Thông thờng hiệu quả tín
dụng đợc thể hiện ở sự gia tăng số lợng và chất lợng các dịch vụ, đợc đánh giá
bằng việc thực hiện hoàn trả tiền vay theo đúng thời hạn trả vốn và lãi của ngời
đi vay và lợi ích mà họ đạt đợc thông qua sử dụng tiền vay của ngân hàng. Về
mặt nội dung chất lợng tín dụng đợc biểu hiện nh sau:
- Thực hiện các mục tiêu kinh tế, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh
phát triển tạo điều kiện cho đơn vị vay vốn hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh
doanh, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân sách Nhà nớc.
- Bảo đảm nguyên tắc tín dụng nhất là thu hồi đợc nợ đúng hạn cả gốc và
lãi từ kết quả hoạt động kinh doanh do mang tiền vay mang lại, hạn chế nợ quá
hạn khó đòi, ngăn ngừa rủi ro đối với nguồn vốn của ngân hàng.
-Tăng vòng quay của vốn tín dụng.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét