Thứ Sáu, 28 tháng 2, 2014

SKKN

Giáo viên hớng dẫn : PGS - TS Trần Ngọc Lan
Phần II. Nội dung
Chơng I.
Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
I. Vai trò - ý nghĩa - tác dụng của nội dung dạy học
đang nghiên cứu
Trong dạy học toán, hoạt động cơ bản của ngời làm toán là giải toán, thành thử
dạy - học giải toán rất quan trọng trong dạy học toán. Đặc biệt tìm hiểu nội dung
phơng pháp dạy học toán có lời văn ở học sinh lớp 4 để vận dụng vào thực tiễn, nó
có những vai trò, ý nghĩa, tác dụng sau:
- Giúp học sinh luyện tập củng cố, vận dụng các kiến thức đã học. Rèn luyện
kỹ năng tính toán, bớc đầu tập dợt kỹ năng vận dụng kiến thức và kỹ năng thực
hành vào thực tiễn. Qua việc dạy học giải toán giúp học sinh từng bớc phát triễn kỹ
năng, năng lực t duy, rèn luyện phơng pháp, kỹ năng vận dụng suy luận và tập dợt
khả năng quan sát, phỏng đoán tìm tòi vấn đề.
- Qua giải toán học sinh rèn luyện đợc những đặc tính và phong cách làm việc
của ngời lao động mới nh: Khắc phục khó khăn, có thói quen xét đoán có căn cứ,
tính cẩn thận chu đáo, cụ thể, làm việc có kế hoạch có kiểm tra, từng bớc hình
thành và rèn luyện kỹ năng suy nghĩ độc lập, linh hoạt, tránh đợc sự suy nghĩ rập
khuôn, máy móc. Xây dựng lòng ham thích, tìm tòi sáng tạo theo các mức độ khác
nhau.
- Việc tìm hiểu nội dung và phơng pháp dạy học giải toán có lời văn là rất
quan trọng. Nó có vai trò, ý nghiã và tác dụng vô cùng to lớn, giúp học sinh dần
dần hình thành nhân cách và đạo đức cho bản thân. Dạy học giải toán có lời văn đã
có từ lớp 1 đến lớp 5. Nhiều yêu cầu cơ bản trải qua nhiều lớp. riêng lớp 4 giải toán
có lời văn bắt đầu phức tạp và đi vào chuyên sâu. Vì thế Giáo viên cần xác định rõ
yêu cầu và mục đích cần đạt của từng lớp để từ đó xác định ra phơng pháp cho phù
hợp với nội dung, giúp cho học sinh hứng thú khám phá chủ động tìm tòi làm chủ
kiến thức
II. Nội dung và ph ơng pháp dạy học toán ở lớp 4
1. Về nội dung
- Chơng trình môn Toán lớp 4 là một bộ phận của chơng trình môn Toán ở
Tiểu học. Chơng trình này tiếp tục thực hiện những đổi mới về giáo dục toán học ở
các lớp 1, 2, 3, 4, 5. Khắc phục các hạn chế của dạy học toán ở các lớp 1, 2, 3, 4 ở
Ngời thực hiện : Lê Thị Hồng Phúc - 5 -
Giáo viên hớng dẫn : PGS - TS Trần Ngọc Lan
chơng trình cũ, góp phần thực hiện đổi mới chơng trình giáo dục phổ thông. Nhằm
đáp ứng những yêu cầu về giáo dục và đào tạo trong giai đoạn công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nớc ở thế kỷ XXI.
- Thời lợng tối thiểu để dạy học môn toán ở lớp 4 là 5 tiết/ 1 tuần, mỗi tiết
từ 35 -> 40 tiết, cả năm học có 175 tiết
+ Kỳ một : có 18 tuần /90 tiết
+ Kỳ hai : có 17 tuần /85 tiết
- Có các chủ đề kiến thức nh sau :
1.1 Về phép tính số
A. Số tự nhiên
- Nhận biết một số đặc điểm chủ yếu của dãy số tự nhiên
- Biết đọc, viết, so sánh, sắp xếp các số tự nhiên
- Biết cộng trừ các số tự nhiên; Nhân số tự nhiên có đến 3 chữ số (tích
không quá 6 chữ số); Chia số tự nhiên có đến 6 chữ số cho số tự nhiên có đến 3
chữ số (chủ yếu là chia cho số có đến 2 chữ số).
- Biết tìm một phần cha biết của phép tính khi biết kế quả tính và thành
phần kia.
- Biết tính giá trị của biểu thức số có đến ba dấu phép tính (có hoặc không
có dấu ngoặc) và biểu chức có chứa một, hai, ba chữ dạng đơn giản.
- Biết vận dụng tính chất giao hoán và kết hợp của phép cộng và phép nhân,
tính chất nhân một tổng với một số để tính bằng cách thuận tiện nhất.
- Biết tính nhẩm trong phạm vi các bảng tính, nhân với 10, 100, 1000
chia cho 10, 100, 1000 nhân số có hai chữ số với 11
- Nhận biết dâu hiệu chia hết cho 2, 3, 5, 9.
B. Phân số
- Bớc đầu nhận biết về phân số ( qua hình ảnh trực quan)
- Biết đọc, viết phân số, tính chất cơ bản của phân số, biết rút gọn, quy đồng
mẫu số các phân số, so sánh hai phân số.
- Biết cộng, trừ, chia hai phân số đơn giản ( mẫu không vợt quá 100)
1.2 Về đo lờng.
- Biết mối quan hệ giữa yến, tạ, tấn với kilôgam; giữa giây, phút, giờ; giữa
ngày và giờ, năm và thế kỷ, giữa dm
2
và cm
2
, giữa dm
2

và m
2
, giữa km
2
và m
2
- Biết đổi các đơn vị đo đại lợng thông dụng trong một số trờng hợp cụ thể
khi thực hành vận dụng.
1.3 Về các yếu tố hình học.
- Nhận biết góc tù, góc bẹt, góc nhọn, hai đờng thẳng vuông góc, hai đờng
thẳng song song, một số đặc điểm về cạnh, góc của hình chữ nhật khi biết độ dài
của các cạnh.
- Biết tính chu vi, diện tích của hình bình hành, hình thoi
Ngời thực hiện : Lê Thị Hồng Phúc - 6 -
Giáo viên hớng dẫn : PGS - TS Trần Ngọc Lan
1.4 Về một số yếu tố thống kê và tỉ lệ của bản đồ.
- Biết đọc và nhận định ( ở mức độ đơn giản) các số liệu trên biểu đồ cột
- Biết một số ứng dụng tỉ lệ bản đồ trong thực tế
1.5 Về giải toán có lời văn
- Biết tự tóm tắt bài toán bằng cách ghi ngắn gọn bằng lợc đồ, hình vẽ.
- Biết giải và trình bày có bài toán có đến ba bớc tính trong đó có các dạng
bài toán sau:
1.a - Dạng bài toán có lời văn liên quan đến các phép tính phân sô
1.b - Dạng bài toán có lời văn tìm số trung bình cộng
1.c - Dạng bài toán có lời văn tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số
đó
1.d - Dạng bài toán có lời văn tìm hai số khi biết tổng và tỉ của hai số
đó
1.e - Dạng bài toán có lời văn tìm phân số của một số
1.f - Dạng bài toán có lời văn có nội dung hình học
2. Ph ơng pháp dạy học toán 4
- Định hớng chung của phơng pháp dạy học toán lớp 4 là dạy học trên cơ sở
tổ chức và hớng dẫn các hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo của học
sinh. Cụ thể là Giáo viên phải tổ chức, hớng dẫn học sinh hoạt động học tập với sự
trợ giúp đúng mức và đúng cách của sách giáo khoa môn toán lớp 4 và các phơng
tiện, thiết bị đồ dùng dạy học toán. Để từng học sinh hoặc từng nhóm học sinh tự
phát hiện và tự giải quyết vấn đề của bài học, tự chiếm lĩnh nội dung bài học rồi
thực hành, vận dụng các nội dung đó theo năng lực cá nhân của học sinh.
- Toán lớp 4 kế thừa và phát huy các phơng pháp dạy học toán đã sử dụng
trong các giai đoạn, các lớp 1, 2, 3, 4 đồng thời tăng cờng sử dụng phơng pháp dạy
học, giúp học sinh nêu các nhận xét, các quy tắc, các công thức ở dạng khái quát
hơn ( so với toán lớp 3). Đây là cơ hội tiếp tục phát triển năng lực từu tợng hóa,
khái quát hóa trong học tập môn toán giai đoạn đầu lớp 4 và 5 tiếp tục phát triển
khả năng suy luận và diễn đạt của học sinh theo mục tiêu, yêu cầu của môn táon
lớp 4.
- Phơng pháp dạy học đợc phân ra các dạng sau:
2.a Phơng pháp dạy học bài mới
- Giúp học sinh tự giải quyết vấn đề của bài học : Giáo viên giúp học sinh tự
giải quyết vấn đề của bài học, rồi giúp học sinh sử dụng kinh nghiệm của mình
hoặc của nhóm để tìm tòi mối quan hệ của vấn đề đó với các kiến thức đã biết, từ
đó tìm cách giải quyết vấn đề.
Ngời thực hiện : Lê Thị Hồng Phúc - 7 -
Giáo viên hớng dẫn : PGS - TS Trần Ngọc Lan
- Tạo điều kiện cho học sinh củng cố và tập vận dụng kiến thức mới học
ngày sau bài học mới, để học sinh bớc đầu tự chiếm lĩnh kiến thức mới.
2. b Phơng pháp dạy học các bài luyện tập, luyện tập chung, ôn luyện và thực
hành
- Ngoài luyện tập, thực hành trong các tiết dạy học bài mới. Sách giáo khoa
lớp 4 có tới 93 tiết luyện tập, luyện tập chung, ôn tập thực hành. Mục tiêu chung
của dạy học các phần luyện tập, luyện tập chung, thực hành, ôn luyện, từng bớc hệ
thống hóa các kiến thức đã học, tức là củng cố kiến thức học sinh vừa chiếm lĩnh
đợc, góp phần phát triển t duy và khả năng diễn đạt của học sinh. Các bài luyện
tập, ôn tập, thực hành, sắp xếp từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ thực
hành và luyện tập trực tiếp đến vận dụng một cách tổng hợp và linh hoạt hơn.
- Giáo viên giúp học sinh nhận ra các kiến thức đã học hoặc một số kiến
thức mới trong nội dung các bài tập đa dạng và phong phú.
- Giúp học sinh tự luyện tập, thực hành theo khả năng của mình.
- Tạo ra sự giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau giũa các đối tợng học sinh.
- Tập cho học sinh có thói quen tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, luyện
tập, thực hành của học sinh.
- Tập cho học sinh thói quen tìm nhiều phơng án và lựa chọn phơng án hợp
lý nhất để giải quyết vấn đề của bài tập, không nên thỏa mãn với kết quả đạt đợc
2.c Phơng pháp giảng giải, minh họa ( thuyết trình)
Dùng hạn chế vì phơng pháp này dùng không đúng lúc ít mang lại hiệu quả,
học sinh không phát huy đợc tính tích cực cụ thể
3. Chuẩn kiến thức kỹ năng và thái độ cần đạt khi dạy học giải toán có lời
văn cho học sinh lớp 4
- Môn Toán ở lớp 4 mở đầu cho giai đoạn mới cho dạy học Toán ở Tiểu học.
Về kiến thức môn Toán lớp 4 có 4 tuyến kiến thức cớ bản đó là:
+ Số học, các yếu tố đại số và một số yếu tố thống kê ( gọi là số học). Đây là
tuyến kiến thức cơ bản
+ Các yếu tố hình học ( gọi tắt là hình học)
+ Các yếu tố đại lợng và đo đại lợng ( gọi tắt là đo lờng)
+ Các bài toán có lời văn ( gọi là giải toán)
Vậy chuẩn kiến thức kỹ năng và thái độ khi dạy học giải toán có lời văn cho
học sinh lớp 4, nhằm giúp học sinh:
+ Củng có kỹ năng giải toán có lời văn các dạng ở lớp 1, 2, 3. Đặc biệt là
các bài toán có lời văn liên quan đến các phép tính phân số, hoặc là đo đại lợng
mới học ở lớp 4
Ngời thực hiện : Lê Thị Hồng Phúc - 8 -
Giáo viên hớng dẫn : PGS - TS Trần Ngọc Lan
+ Biết giải toán về trung bình cộng tìm hai số biết tổng và hiệu của hai
số đó tìm hai số khi biết tổng ( hiệu ) và tỉ số của hai số đó tìm phân số của
một số
+ Thực hành giải các bài toán có nội dung hình học, giải các bài toán có liên
quan đến biểu đồ ứng dụng tỉ lệ biểu đồ
+ Giúp học sinh rèn luyện kỹ năng cơ bản về đếm, đọc, viết, so sánh, nhận
biết, vẽ hình, sơ đồ các bài toán, phát hiện và giải quyết các tình huống có vấn đề
trong học tập và trong đời sống chủ yếu thông qua giải toán và trình bày các bài
toán có lời văn
+ Học sinh có ý thức tự độc lập suy nghĩ, khám phá, rút ra kết luận của
mình, từ đó các em có thái độ dúng đắn trong học tập và yêu thích học môn toán,
đặc biệt là giải toán cóp lời văn
+ Học phần này đại đa số học sinh nắm đợc kiến thức. Song bên cạnh đó một số
em kỹ năng suy luận, so sánh còn yếu, việc lĩnh hội và vận dụng kiến thức cha
vững. Thiếu lôgich, một số em trình bày bài giải còn cẩu thả, thiếu lôgic và khoa
học, sạch sẽ.
4. Thực trạng của việc dạy học Giải toán có lời văn cho học sinh lớp 4
Qua thực tế giảng dạy và dự giờ thăm lớp của các đồng nghiệp dạy môn Toán
phần giải toán có lời văn cho học sinh lớp 4 trờng Tiểu học số I Quảng Lu, Quảng
Trạch, Quảng Bình tôi có nhận định chung nh sau:
1. Ưu điểm
Đi đôi với việc đổi mới chơng trình sách giáo khoa và phơng pháp dạy học môn
toán nói chung, giải toán có lời văn nói riêng, nhìn chung các Giáo viên đã nắm
khá chắc về phơng pháp, về các bớc khi tiến hành dạy học giải toán có lời văn đã
tạo đợc sự chú ý, gây đợc tính hấp dẫn, thu hút học sinh tìm tòi khám phá kiến thức
bài học.
- Qua thực tế dạy và học theo chơng trình sách giáo khao và nội dung, ph-
ơng pháp mới, Giáo viên ngày càng linh hoạt trong khâu tổ chức, hớng dẫn và làm
trọng tài cho học sinh trong quá trình hoạt động nhận thức. Việc tìm hiễu rõ nội
dung của bài dạy định ra phơng pháp tối u, chủ động trong mọi thao tác giúp học
sinh hoạt động một cách có hiệu quả gây đợc hứng thú học tập cho học sinh.
Ví dụ: Trong môn toán lớp 4 có dạng bài toán các phép tính với phân số
các bài toán đó phản ánh ý nghĩa thực tiễn của mỗi phép tính ( cộng, trừ, nhân,
chia). Tơng tự nh các bài toán về ý nghĩa với phép tính số tự nhiên. Vì vậy cách
giải toán của hai dạng toán có lời văn này giống nhau. Tuy nhiên trong trình bày
giải toán cần lu ý: trong phép tính giải có liên quan đến phân số không phải viết
các phép tính trung gian mà viết ngay kết quả của phép tính, chẳng hạn bài toán
( trang 127 - toán 4). Một xe ô tô giờ đầu chạy đợc 2/8 quảng đờng, giờ thứ hai
Ngời thực hiện : Lê Thị Hồng Phúc - 9 -
Giáo viên hớng dẫn : PGS - TS Trần Ngọc Lan
chạy đợc 2/7 quảng đờng. Hỏi sau hai giờ ô tô chạy đợc bao nhiêu phần quảng đ-
ờng?
Bài giải
Sau hai giờ ô tô chạy đợc số phần quảng đờng là:
56
37
7
2
8
3
=+
(quảng đờng)
Đáp số:
56
37
quảng đờng
- Học sinh không phải viết bớc tính trung gian nh:
56
37
56
1621
56
16
56
21
7
2
8
3
=
+
=+=+
mà viết ngay kết quả là
56
37
7
2
8
3
=+
* Hoặc ở dạng toán tìm số trung bình cộng chủ yếu là giải toán tìm số
trung bình cộng của nhiều số. Trong toán 4 nội dung dạy học về giải toán trung
bình cộng đợc giới thiệu theo trình tự:
- Giới thiệu số trung bình cộng của hai số qua một bài thực tế.
- Xây dựng quy tắc tìm số trung bình cộng của nhiều số ( muốn tìm số
trung bình cộng của nhiều số, ta tính tổng các số đó, rồi chia cho tổng các số hạng)
Vận dụng: Chẳng hạn tìm số trung bình cộng của 36; 42 và 67 ( trực
tiếp ) hoặc số trung bình cộng của hai số bằng 28 biết một trong hai số đó bằng 30,
tìm kiếm số kia ( gián tiếp). Dân số của một xã trong 3 năm tăng lần lợt là 96 ngời,
82 ngời và 71 ngời. Hỏi trung bình mỗi năm dân số xã đó tăng bao nhiêu ngời? ( ý
nghĩa thực tiễn)
Qua thực tế giảng dạy và các ví dụ trên chúng ta cần nhận thức đầy đủ về
tầm quan trọng của việc lựa chọn phuơng pháp và các phơng tiện dạy học để dạy
học toán có lời văn 4. Việc dạy học này nó không chỉ làm cho quá trình nhận thức
của học sinh dễ dàng hơn mà nó còn góp phần rèn luyện khả năng t duy độc lập
của học sinh, tạo động lực gây hứng thú cho học sinh học tập.
Ngoài việc dạy toán thông thờng thì việc dạy toán có lời văn nó giúp cho học
sinh lớp 4 và lớp 5 nói riêng bắt đầu có suy luận một cách chặt chẽ. Ngoài việc
thực hiện các phép tính thì cần phải tìm lời văn suy luận nh thế nào cho gọn, nội
dung chính xác phù hợp với phép tính. Chính sự suy luận và tìm lời giải đó nó đã
tạo cho các em thói quen tập phán đoán sự việc và linh hoạt hơn trong mọi lĩnh vực
của cuộc sống.
2. Tồn tại:
2.a - Về phía giáo viên
- Giáo viên khi lên lớp ít nghiên cứu cụ thể bài mới xem thử phần đó, chơng
đó dạy nh thế nào? Tại sao phải đặt lời văn nh thế? Nếu thay một từ trong lời giải
đó thì lời văn và bài toán có vấn đề gì không? mà Giáo viên chỉ biết dùng sách
Ngời thực hiện : Lê Thị Hồng Phúc - 10 -
Giáo viên hớng dẫn : PGS - TS Trần Ngọc Lan
giáo khoa và thiết kế để thực hiện một cách thụ động, thiếu sáng tạo nên cha phát
huy tính tích cực của học sinh.
- Thậm chí có một số Giáo viên còn hiểu sai ý đồ của bài toán, có Giáo viên
khi lên lớp còn thiếu sự chuẩn bị bài chu đáo, nên khi tổ chức cho học sinh hoạt
động, Giáo viên còn lúng túng và dùng lời văn cha sát thực tế bài dạy nhiều lúc
quên đầu quên đuôi hoặc dùng lời giải hoặc không tóm tắt bài toán dẫn đến hiệu
quả bài dạy cha cao.
Ví dụ: Dạy phần tìm hai số khi biết tổng( hiện) và tỉ số của hai số đó
Giáo viên cần vận dụng giải toán có lời văn gắn với thực tế chẳng hạn: Một ngời
đã bán đợc 280 quả cam và quýt, trong số đó cam bằng 2/5 số quýt. Tìm số cam và
số quýt đã bán? Giáo viên phải cho học sinh tóm tắt và giải bài toán nh sau:
? quả
Cách 1: Số cam
? quả 280 quả
Số quýt
Theo sơ đồ, tổng số phần bằng nhau là:
2 + 5 = 7 (phần)
Số cam đã bán là:
280 : 7 x 2 = 80 ( quả)
Số quýt đã bán là:
280 - 80 = 20 ( quả)
Đáp số: 80 quả cam; 200 quả quýt
Nhng nếu giáo viên không cho học sinh vẽ sơ đồ thì rất khó để giải và lời
giải rờm rà, cụ thể nh sau:
Số cam đã bán là hai phần bằng nhau thì số quýt đã bán 5 phần nh thế :
2 + 5 = 7 ( phần)
Số cam đã bán là : 280 : 7 x 2 = 80 (quả)
Số quýt đã bán là: 280 : 7 x 5 = 200 (quả)
Đáp số: 80 quả cam; 200 quả quýt
Tất nhiên cả hai cách làm đều đúng nhng cách 1 Giáo viên đã làm cho các
em minh họa so sánh rất cụ thể bằng trực quan, các em suy luận nhanh gọn và làm
phép tính đơn giản. Còn cách 2 các em rất khó suy luận đợc và phép tính cũng rập
khuôn, lời văn cha gãy gọn, cha gây đợc hứng thú cho các em. Chính vì thế giờ học
cha đa lại kết quả cao.
Hiện nay một bộ phận Giáo viên còn xem nhẹ việc dạy học giải toán có lời
văn mà cho rằng đã dạy toán thì giống nhau chứ không phân biệt làm toán và giải
toán. Mà đúng nghĩa của nó là : làm toán tức là chỉ làm phép tính toán, còn giải
toán là phải có suy luận bằng lời văn. Chính vì sự suy nghĩ nh vậy của một số Giáo
viên nên nó cũng làm cho việc dạy học toán có lời văn ở Tiểu học nói chung và lớp
Ngời thực hiện : Lê Thị Hồng Phúc - 11 -
Giáo viên hớng dẫn : PGS - TS Trần Ngọc Lan
4 nói riêng hiệu quả cha cao. Do vậy sự hứng thú của học sinh bị hạn chế và phụ
thuộc Giáo viên.
2.b Về phía học sinh
a. Ưu điểm
Qua điều tra tìm hiểu cho thấy thực tế giờ dạy toán có lời văn đã làm cho
các em hứng thú học tập, tạo điều kiện cho các em suy nghĩ t duy độc lập, sáng tạo
trong việc tiếp thu lĩnh hội kiến thức.
b. Tồn tại
Do địa bàn ở đây là vùng nông thôn, kinh tế hết sức khó khăn, lại là vùng
bán sơn địa. Đại đa số học sinh đến trờng chỉ đợc gia đình quan tâm ở giai đoạn
lớp 1, bắt đầu từ lớp 2 trở lên gia đình hầu nh phó mặc cho nhà trờng. Nhiều phụ
huynh cho rằng khiến thức khó, không hiểu để dạy cho con, mặt khác, số học sinh
có tố chất và có ý thức tự học tập cha thật nhiều. Mặc dù chơng trình Tiểu học chỉ
mới quan tâm đến luyện khẳ năng diễn đạt học ở lớp 4, tập suy nghĩ, giải quyết
tình huống có vấn đề, song bản thân các em ít đợc hớng dẫn thêm ngoài giờ lên
lớp, gia đình ít nhắc nhở nên nhiều em không tự giác học bài, làm bài tập ở nhà.
Không ít học sinh học cho qua chuyện, ít đào sâu suy nghĩ, lời động não. Chính vì
lẽ đó mà Giáo viên quan tâm tìm cách hớng dẫn tổ chức thế nào các em vẫn khó
nắm đợc kiến thức. Thực tế cho thấy nhiều học sinh lớp 4 cha làm đợc các bài toán
của lớp 1, 2, 3, hoặc làm đuợc thì các em cũng không hiểu vì sao lại nh thế, chó
chăng thì phép tính đúng còn lời văn cha phù hợp. Nên việc dạy học giải toán có
lời văn nói chung ở tiểu học và lớp 4 nói riêng là rất cấp thiết và cần phải thực hiện
một cách khoa học cho có hiệu quả đó là suy nghĩ và trăn trở của bản thân tôi.
Nắm đợc thực trạng đó tôi đã khảo sát tình hình lớp 4A (Lớp thực nghiệm)
và lớp 4B ( Lớp đối chứng) học lực của học sinh hai lớp tơng đơng nhau cùng với
một tiết 22 tìm số trung bình cộng
Thu đợc kết quả nh sau:
Lớp
Sỹ
số
Giỏi Khá T.bình Yếu Kém
TB trở
lên
Ghi
chú
SL % SL % SL % SL % SL % SL %
4A 26
3 11,5 7 26,9 12 46,3 4 15,3 0 0 22 84,7
4B 28
2 7,1 8 28,5 13 46,7 4 14,2 1 3,5 23 82,3
Bài tập khảo sát: ( Thời gian làm bài 60 phút)
Bài 1: Một tổ sản xuất muối thu hoạch trong 5 đợt nh sau : 45 tạ, 60 tạ, 75 tạ, 72 tạ,
98 tạ. Hỏi trung bình mỗi đợt thu hoạch đợc bao nhiêu tấn muối ?
Bài 2 : Một ô tô giờ thứ nhất chạy đợc 39 km, giờ thứ hai chạy đợc 60 km, giờ thứ
ba chạy đợc bằng 1/3 quãng đờng của hai giờ đầu. Hỏi trung bình mỗi giờ ô tô
chạy đợc bao nhiêu km ?
Ngời thực hiện : Lê Thị Hồng Phúc - 12 -
Giáo viên hớng dẫn : PGS - TS Trần Ngọc Lan
- Nếu giải quyết đợc các vấn đề trên thì chất lợng việc dạy học giải toán có
lời văn sẽ tốt hơn rất nhiều. Tôi mạnh dạn nêu ra một số biện pháp cụ thể để khai
thác, tìm hiểu kiến thức giúp học sinh áp dụng giải toán có lời văn cho học sinh nói
chung và lớp 4 nói riêng.
Chơng II.
Ngời thực hiện : Lê Thị Hồng Phúc - 13 -
Giáo viên hớng dẫn : PGS - TS Trần Ngọc Lan
Một số biện pháp để góp phần nâng cao chất lợng dạy
học giải toán có lời văn cho học sinh lớp 4
- Trong thực tế giảng dạy, mặc dù các Giáo viên đã đợc trang bị các kiến
thức đạt chuẩn và trên chuẩn để dạy môn Toán ở Tiểu học nói chung và môn Toán
lớp 4 nói riêng, song mỗi Giáo viên có một cách tổ chức và phơng pháp hớng dẫn
học sinh hoạt động khác nhau. Nhng tất cả đều hớng về một mục tiêu cơ bản là kết
quả của giờ dạy học đạt đợc những gì ? Mức độ tiếp thu của học sinh đến đâu.
Việc vận dụng kiến thức và thực hành nh thế nào ? Sau đây là một số biện pháp cụ
thể :
Biện pháp 1 : Sử dụng ph ơng pháp gợi ý trong giải toán có lời văn cho
học sinh lớp 4
- Trong dạy học có rất nhiều phơng pháp để truyền đạt kiến thức và hớng
dẫn cho học sinh lĩnh hội kiến thức một cách chủ động, sáng tạo, đồng thời ứng
dụng vào việc giải toán có lời văn cho học sinh lớp 4 một cách có hiệu quả nhất.
- Phơng pháp gợi ỷ trong giải toán có lời văn ở lớp 4 cũng có rất nhiều cách
gợi ý. Đó là : gợi ý trực tiếp, gợi ý gián tiếp. Vậy lúc nào cần gợi ý trực tiếp, lúc
nào cần gợi ý gián tiếp? Hay nói cách khác là tuỳ vào từng đối tợng học sinh, nội
dung của từng bài dạy, tuỳ từng trờng hợp cụ thể để lựa chọn gợi ý nh thế nào cho
phù hợp. Nhằm để giúp học sinh định hớng bài giải và vận dụng công thức, quy tắc
vào bài giải và lý luận để đa ra lời văn có hiệu quả nhất. Song cần tránh quá lạm
dụng phơng pháp gọi ý. Nếu gợi ý không đúng sẽ mất hết tính khoa học làm cho
học sinh bị động, ỷ lại, thiếu sự sáng tạo mà chờ vào việc gợi ý của thầy cô giáo.
Hoặc gợi ý quá dài dòng không đúng trọng tâm cũng làm cho học sinh bị rối, học
sinh thờng bị nhầm phép tính hoặc phép tính đúng song lời văn cha phù hợp với bài
toán thiếu tính lôgic và chính xác. Đồng thời trong phơng pháp gợi ý cần tránh sự
áp đặt hoặc yêu cầu quá cao đối với học sinh.
- Ngay từ khi vào lớp một các em đã bắt đầu làm quen với biện pháp gợi ý
giải toán có lời văn với các bài toán đơn và hình thành trong các em một số từ chốt
nh thêm bớt nhiều hơn ít hơn so sánh hơn, kém nhau bao nhiêu
đơn vị hoặc gấp lên hay giảm đi bao nhiêu lần, từ đó học sinh hiểu đợc ý
nghĩa của các từ đó các em chọn phép tính cho đúng. Vậy việc giải bài toán có lời
văn cho học sinh lớp 4 cần sử dụng phơng pháp nh sau :
1. Dạy phần kiến thức dạng toán có lời văn các phép tính số học
a. Cách làm chung
Cho học sinh nghiên cứu thật cụ thể đề bài toán cho các em rút ra các từ
mẫu chốt, vấn đề cần tìm và gợi ý cho học sinh nghiên cứu xem bài toán có mấy
phép tính, và đó là phép tính gì ? vì sao lại dùng phép tính đó. Sử dụng lời giải nh
Ngời thực hiện : Lê Thị Hồng Phúc - 14 -

Xem chi tiết: SKKN


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét