Thứ Năm, 27 tháng 2, 2014

Hệ hổ trợ chẩn đoán loại hỏng máy điện thoại

Giáo viên hướng dẫn-Ts Trần Đình Khang
 Xây dựng hệ hổ trợ quyết định chẩn đoán loại hỏng máy điện thoại thuê bao
2.3 Nội dung luận án:
Với mục tiêu và nhiệm vụ đã đề ra cần giải quyết thì nội dung của luận án bao gồm
các nội dung sau:
Chương 1: Giới thiệu hệ thống báo và xử lý máy hỏng tại Đài 119 Bưu Điện TP
Nha Trang hiện tại, đề xuất hệ thống mới.
Chương 2: Thu nhận và biễu diễn tri thức.
Chương 3: Lý thuyết tập mờ và hệ hổ trợ quyết định.
Chương 4: Suy diễn mờ.
Chương 5: Xây dựng hệ hổ trợ quyết định trạng thái hỏng máy điện thoại.
Chương 6: Phân tích thiết kế hệ thống, xây dựng hệ chương trình và cài đặt.
Sinh viên Đỗ Minh Sâm- Lớp Tin 99 - 5 -
Giáo viên hướng dẫn-Ts Trần Đình Khang
Chương 1
Giới thiệu hệ thống báo và xử lý máy hỏng tại Đài 119 Bưu Điện
TP Nha Trang hiện tại, đề xuất hệ thống mới.
1.1 Sơ lược mạng viễn thông thành phố Nha Trang
Sau hơn 10 năm đổi mới với kế hoạch tăng tốc của ngành Bưu Điện , có thể nói
chất lượng mạng lưới viễn thông của nước ta đã ngang tầm với các nước trong khu vực và
từng bước tiếp cận với các nước tiên tiến trên thế giới. Tại thành phố Nha Trang, nếu năm
1993 mới chỉ có khoảng 3000 máy điện thoại hoạt động với kỹ thuật lạc hậu , các dịch vụ
rất hạn chế, với chính sách đổi mới và thay đổi công nghệ từ kỹ thuật Analog sang Digital
đã làm tốc độ mạng lưới phát triển rất nhanh chóng và đi kèm là các dịch vụ gia tăng của
tổng đài điện tử đã đem lại nhiều tiện ích cho khách hàng, đến nay sau gần 10 năm phát
triển, tổng số máy hiện có trên toàn mạng là 40000 máy, tăng hơn 13 lần so với năm 1993
và tỷ lệ đạt gần 10máy/100 dân.
Hiện nay, mạng lưới viễn thông của thành phố Nha Trang đã được số hoá 100%,
kết cấu bao gồm 02 tổng đài trung tâm (OCB : Organization Center Basic) và 10 trạm vệ
tinh (CSND : Center Satellite Numberic Distance) được phân bố rộng khắp trên toàn địa
bàn thành phố và có khả năng phát triển đến 200000 máy điện thoại thuê bao.
Tốc độ phát triển máy điện thoại hiện nay tại thành phố Nha Trang khoảng 5000
máy / năm, cùng với sự phát triển cơ sở hạ tầng và chính sách đổi mới của thành phố , chắc
chắn số lượng máy điện thoại của thành phố sẽ tiếp tục tăng nhanh trong những năm sắp
tới.
Sinh viên Đỗ Minh Sâm- Lớp Tin 99 - 6 -
Giáo viên hướng dẫn-Ts Trần Đình Khang
CẤU HÌNH MẠNG VIỄN THÔNG THÀNH PHỐ NHA TRANG ĐẾN NĂM 2003

OFC : Optics Fiber Cable - Cáp quang.
Sinh viên Đỗ Minh Sâm- Lớp Tin 99 - 7 -
OCB
Trung tâm
FETEX-150
CSND Phú Vinh CSND Lê Hồng Phong
OCB
Bình Tân
Siemen
CSNT Đồng Đế
CSND Hòn Khô
CSND Vĩnh Phương
CSND Vĩnh Nguyên
CSNR Hòn Rớ
CSND Vĩnh Lương
OFC
OFC
OFC
OFC
OFC
OFC
OFC
OFC
OFC
Tổng Đài liên tỉnh
tp Hồ Chí Minh
Tổng Đài liên tỉnh
tp Đà Nẳng
OFC OFC
CSND Ngô Gia Tự
OFC
CSND Phước Đồng
OFC
Giáo viên hướng dẫn-Ts Trần Đình Khang
1.2. Tổ chức hoạt động dịch vụ nhận và xử lý máy điện thoại hỏng hiện tại:
1.2.1 Hoạt động dịch vụ 119 hiện tại :
Khi khách hàng có máy điện thoại bị hỏng sẽ gọi số 119 (từ bất kỳ máy điện thoại
nào ) , nhân viên đài 119 sẽ tiếp nhận điện thoại và ghi lại số máy bị hỏng, sau đó thực hiện
phép đo bằng đồng hồ, sẽ được đo trực tiếp trên đường dây thuê bao. Căn cứ trên giá trị
điện áp trả về qua mạch vòng của đường dây thuê bao trên đồng hồ đo, qua kinh nghiệm
thực tế, người khai thác viên sẽ phán đoán loại hỏng(đứt, chập dây, hỏng máy ) và tiến
hành cập nhật máy và loại hỏng vào mạng máy tính Công ty. Các đội sửa chữa dây máy sẽ
thường xuyên kiểm tra số liệu trên mạng để xác định số lượng máy hỏng thuộc khu vực
mình phụ trách và phân công nhân viên sửa chữa kịp thời. Khi khắc phục xong, nhân viên
xử lý gọi điện thông báo lại cho đài 119 kiểm tra lại và cập nhật số liệu để phục vụ cho
công việc báo cáo và theo dõi quản lý.
1.2.2 Ưu nhược điểm của hệ thống này :
Ưu điểm:
- Khi dịch vụ và số liệu quản lý tập trung thì rất thuận lợi trong công tác điều
hành sản xuất, khách hàng cũng hài lòng với thời gian và chất lượng khắc
phục máy hỏng .
- Khách hàng chỉ làm quen với một số máy 119 để báo hỏng.
- Trao đổi số liệu giữa đài 119 và các đội sửa chữa qua mạng máy tính của
Công ty nên thống nhất về mặt số liệu, các báo cáo thống kê được thực hiện
một cách dể dàng và chính xác, giải quyết khiếu nại khách hàng được nhanh
chóng và chính xác.
Nhược điểm :
- Nhân viên phán đoán trạng thái hỏng của máy điện thoại còn mang tính thụ
động, phụ thuộc vào kinh nghiệm của mình nên kết quả chưa chắc chắn,nên
đôi lúc kéo dài thời gian sửa chữa.
- Nhân viên đài 119 phải thao tác qua nhiều công đoạn :Tiếp nhận máy hỏng,
đo thử, xác định trạng thái hư hỏng, cập nhật vào hệ thống, do đó khi số lượng
máy điện thoại hỏng nhiều thì khó đáp ứng kịp thời.
Sinh viên Đỗ Minh Sâm- Lớp Tin 99 - 8 -
Giáo viên hướng dẫn-Ts Trần Đình Khang
1.3. Xây dựng hoạt động của dịch vụ 119 tự động
1.3.1 Nhu cầu có một hệ thống mới:
Do nhu cầu về sự phát triển mạnh của hệ thống viễn thông, số lượng máy điện
thoại ngày một gia tăng nhanh, sự lỗi thời và sai sót của hệ thống khai thác quản lý cũ chắn
chắc sẽ không còn phù hợp. Cho nên cần phải xây dựng lại một hệ thống khai thác dịch vụ
119 mới để phục vụ nhu cầu khách hàng với thời gian ngắn nhất có thể được và điều quan
trọng là giảm bớt đi một số công đoạn làm việc căng thẳng cho nhân viên Đài 119, tránh
sai sót, cáu gắt với khách hàng và nhân viên xử lý khi số lượng máy hỏng nhiều.
Trong dịch vụ này, khó khăn nhất là thực hiện chẩn đoán loại hỏng của máy điện
thoaị thuê bao và thời gian chờ lấy số liệu từ tổng đài khá lâu (hơn 1 phút cho 1 máy ) , đôi
lúc bị nghẽn không thể thực hiện nhanh được, nhất là trong thời gian mưa bão. Ngoài ra
còn phải thực hiện công đoạn máy tính tự giao tiếp với tổng đài trung tâm thực hiện phép
đo, xây dựng hệ hổ trợ quyết định chẩn đoán loại hỏng máy điện thoại từ kết quả đo.
Nếu thực hiện thành công đề tài và được ứng dụng thực tế có thể tiết kiệm được chi
phí nhân công ( từ 10 người giảm xuống còn 4 người), giảm thời gian xử lý và tăng thêm
niềm tin của khách hàng với ngành Bưu Điện.
1.3.2 Giới thiệu hệ thống dịch vụ 119 mới:
Hệ thống cần phải khắc phục được những nhược điểm của hệ thống cũ, tăng được
năng suất lao động, giảm chi phí, tạo được niềm tin và uy tín trong khách hàng.
Khi máy điện thoại bị hỏng, khách hàng chỉ cần gọi 119 thông báo số máy hỏng,
nhân viên đài 119 chỉ tiếp nhận và thực hiện nhập số máy hỏng vào kho dữ liệu chung. Tất
cả các công đoạn từ việc kết nối tổng đài thực hiện phép đo và quyết định trạng thái hỏng
hoàn toàn do máy tính thực hiện thay cho nhân viên.
Sinh viên Đỗ Minh Sâm- Lớp Tin 99 - 9 -
Giáo viên hướng dẫn-Ts Trần Đình Khang
MÔ HÌNH HỆ THỐNG BÁO VÀ XỬ LÝ MÁY HỎNG TỰ ĐỘNG 119

1.3.3 Hoạt động của dịch vụ 119 tự động:
Khi máy hỏng ,ở bất kỳ đâu hay lúc nào khách hàng chỉ cần gọi 119 thì có nhân
viên trực tiếp nhận cuộc gọi và đưa thông tin số máy hỏng vào máy tính (số liệu báo hỏng
cập nhật vào kho dữ liệu). Máy tính giao tiếp với tổng đài trung tâm và bắt đầu thực hiện
phép đo lấy các thông số kỹ thuật ,đồng thời kết hợp với thông tin lưu trữ thực hiện suy
diễn ,chẩn đoán loại hỏng của máy điện thoại và cập nhật tại kho thông tin. Nhiệm vụ thực
hiện tiếp nhận số liệu, thực hiện đo và hệ hổ trợ quyết định do máy tiếp giao tiếp với tổng
đài trung tâm thực hiện .Số liệu được lưu trữ trong kho thông tin chung trên mạng máy
tính công ty .
Sinh viên Đỗ Minh Sâm- Lớp Tin 99 - 10 -
OCB
Trung
tâm
OCB
Bình
Tân
OFC
RS 232C
Đài 119
Máy tính
liên kết
Máy tính
liên kết
HUB
Mạng Máy tính
Công ty
Máy tính
các đội
sửa chữa
Máy tính
lãnh đạo
Máy tính
các đơn vị
CSDN CSDN
Giáo viên hướng dẫn-Ts Trần Đình Khang
Các đội xử lý có quản lý máy điện thoại thuê bao,sẽ định kỳ kết nối mạng lấy số
liệu các máy hỏng thuộc đơn vị mình , thực hiện in và xử lý cho khách hàng. Sau khi thực
hiện xử lý xong thì cập nhật lại báo cho hệ thống đã thực hiện ,máy tính giao tiếp tổng đài
thực hiện đo và kiểm tra có đủ điều kiện kỹ thuật chưa. Nếu chưa đủ điều kiện thì thông tin
máy hỏng đó vẫn còn đưa về cho đơn vị quản lý,ngược lại xử lý tốt thì kết quả thông báo
hoàn thành.
Tất cả các thông tin về hệ thống báo và xử lý máy hỏng đều được thực hiện báo cáo
qua mạng máy tính công ty ,do đó lãnh đạo và các phòng ban chức năng đều nắm được
thông tin . Qua đó chỉ đạo và điều hành về xử lý máy hỏng tại Bưu điện Thành phố Nha
Trang rất thuận lợi và nhanh chóng ,góp phần hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch và giảm nhẹ chi
phí trong hoạt động sản xuất .
NGUYÊN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG

Hỏng
Sinh viên Đỗ Minh Sâm- Lớp Tin 99 - 11 -
Khách hàng báo hỏng
Suy diễn
Lọc máy hỏng
Đo thử
Tình trạng
hỏng
Báo sửa
Tốt
Kết thúc
Nhận báo hỏng
Hợp lệ
Đi sửa
Báo kết quả
Nhận kết quả
Giáo viên hướng dẫn-Ts Trần Đình Khang
1.3.4 Vai trò của chuyên gia trong hệ thống
Trong hệ thống hoạt động của dịch vụ báo và xử lý máy hỏng 119 hiện nay chuyên
gia đóng vai trò rất quan trọng sẽ quyết định loại hỏng của số máy điện thoại thuê bao, nó
góp phần việc xử lý hỏng nhanh hay chậm của công nhân kỹ thuật dây máy .
Vai trò của chuyên gia trong hệ thống này là từ các thông số kỹ thuật từ tổng đài
trung tâm đưa ra, qua kinh nghiệm thực tế quyết định trạng thái hỏng của máy điện thoại
thuê bao và tiến hành gởi thông tin cho công nhân đường dây thực hiện khắc phục sự cố .
Trong thực tế, khi đưa ra quyết định loại hỏng của máy điện thoại thuê bao, các chuyên gia
thường sử dụng những đánh giá chủ quan hay trực giác ,đôi khi họ không thể giải thích
được vì sao họ đưa ra kết luận như vậy . Nếu chuyên gia có nhiều kinh nghiệm thì phán
đoán chính xác hơn và ngược lại chuyên gia ít kinh nghiệm thì phán đoán dễ bị sai hơn.
Một máy điện thoại thuê bao kết nối với tổng đài địa phương (local exchange) bằng
một đôi dây (A&B), dộ dài tối đa khoảng7 km (là tốt nhất).Trạng thái hoạt động của máy
điện thoại này dựa vào các thông số kỹ thuật sau :
- Điện áp xoay chiều giữa dây A và đất ( V) : L
1
(Ký hiệu)
- Điện áp xoay chiều giữa dây B và đất ( V) : L
2
- Điện áp một chiều giữa dây A và đất ( V) : L
3
- Điện áp một chiều giữa dây B và đất ( V) : L
4
- Điện trở kháng giữa dây A và đất ( Kohm) : L
5
- Điện trở kháng giữa dây B và đất ( Kohm) : L
6
- Điện trở kháng giữa dây A và dây B( Kohm) : L
7
- Điện dung trên đôi dây A và B qua thiết bị đầu cuối : L8 (Máy điện thoại, Fax,
Trung kế Tổng đài nội bộ, Internet )
Những trạng thái hỏng của máy điện thoại có thể là:
- Dây A chập đất
- Dây B chập đất
- Hai dây A và B chập nhau
- Hỏng thiết bị đầu cuối
- Hỏng thiết bị tổng đài
- Đứt ( hai dây không thông nhau)
- Không xác định.

Sinh viên Đỗ Minh Sâm- Lớp Tin 99 - 12 -
Giáo viên hướng dẫn-Ts Trần Đình Khang
Chương 2
Thu nhận và biễu diễn tri thức
Con người sống, học tập, nghiên cứu, làm việc và phát triển đều phải có tri thức.
Khả năng phát triển của từng cá nhân phụ thuộc vào các yếu tố thu nhận và tổ chức thông
tin sao cho quá trình suy nghỉ thuận lợi và nhanh chóng. Như vậy trong hệ chuyên gia vấn
đề thu nạp , phân loại và biễu diễn tri thức phục vụ cho việc suy diễn để đưa ra một kết quả
nhanh chóng đóng một vai trò hết sức quan trọng.
2.1 Thu nạp tri thức:
Thu nạp tri thức là quá trình thu nhận thông tin trong hiện thực khách quan.
Mỗi bài toán (sử dụng trí tuệ nhân tạo) cụ thể có những tri thức riêng và được thu
nhận để có thể mã hóa chúng được trong hệ chuyên gia. Các tri thức có thể thu được từ các
nguồn khác nhau trong thực tế như qua sách, báo, cơ sở dữ liệu có sẵn hoặc từ các chuyên
gia con người.
Thu nhận tri thức từ chuyên gia con người là quá trình làm việc giữa kỹ sư xử lý tri
thức và chuyên gia. Chuyên gia là người có khả năng giải quyết một lớp các bài toán khó
mà các người khác không làm được: là người có trình độ cao, uyên thâm,là người có các
mẹo giải hay cho các bài toán cụ thể nào đó. Quá trình làm việc có thể là thảo luận, trao
đổi, chấn vấn về các kiến thức có liên quan đến bài toán. Mô hình thu nhận tri thức này có
thể hiểu như là phương pháp "interwiew" . Một phương pháp khác có thể thu nhận tri thức
từ chuyên gia là phương pháp "case study", đó là quá trình thu nhận tri thức bằng cách
theo dõi từng công đoạn xử lý của chuyên gia giải quyết bài toán trong thực tế.
Quá trình thu nhận tri thức từ hệ chuyên gia
Với mỗi phương pháp thu nạp tri thức, các chuyên gia tri thức cần tìm, phát hiện ra
được các tri thức và kỹ năng giải quyết vấn đề của chuyên môn. Sau khi thu nạp tri thức,
kỹ sư xử lý tri thức tiến hành mã hóa thông tin, kiểm tra, sử dụng kết quả để vạch ra kế
hoạch và những tri thức cần thu nạp tiếp theo.
2.2 Biễu diễn tri thức:
Sinh viên Đỗ Minh Sâm- Lớp Tin 99 - 13 -
Chuyên gia
có chuyên
môn giỏi
Chuyên gia
xử lý tri
thức
Hệ chuyên
gia
Hỏi
Trả lời Kết quả
Biễu diễn
tri thức
Tài liệu
Giáo viên hướng dẫn-Ts Trần Đình Khang
Một trong những vấn đề quan trọng của chuyên gia xử lý tri thức là phải chọn kỹ
thuật biễu diễn tri thức một cách thích hợp nhất đối với bài toán đặt ra. Để thực hiện điều
này, ta cần phải hiểu rõ các dạng tri thức và các kỹ thuật biễu diễn tri thức có thể
biễu diễn tốt nhất các dạng tri thức đó.
2.2.1 Các dạng tri thức:
Các nhà tâm lý học nhận thức đã xây dựng một số lý thuyết để giải thích cách giải
quyết vấn đề của các chuyên gia con người. Các lý thuyết này đã đưa ra một số dạng tri
thức chung mà con người thường sử dụng trong quá trình tư duy, phương pháp tổ chức và
cách sử dụng các tri thức đó.
Sau đây là một số dạng tri thức :
 Tri thức mô tả: Cho các thông tin về sự kiện, hiện tượng hay quá trình mà
không đưa ra các thông tin về cấu trúc bên trong của tri thức đó. Ngoài ra, tri thức mô tả
còn cho phép mô tả các mối liên hệ, ràng buộc giữa các đối tượng, sự kiện và các quá trình.
 Tri thức thủ tục: Cho các thông tin về cấu trúc tri thức, ghép nối hay suy diễn
ra các tri thức mới từ các tri thức đã có.
 Tri thức meta: Là tri thức giúp cho hệ thống lấy ra những tri thức thích hợp để
giải quyết vấn đề.
 Tri thức heurictic: Bao gồm các luật heurictic, tri thức dựa vào kinh nghiệm và
các tri thức có được do giải các vấn đề trước đó. Các chuyên gia thường lấy tri thức cơ bản
về bài toán(tri thức sâu) rồi chuyển chúng thành các luật heurictic khi giaire quyết vấn đề.
2.2.2 Các phương pháp biễu diễn tri thức:
Trong phần trên ta đã đề cập đến các dạng tri thức cơ bản, trong đó các dạng quan
trọng nhất là tri thức mô tả và tri thức thủ tục. Tương ứng có hai phương pháp biễu diễn là
biễu diễn mô tả và biểu diễn thủ tục.
Trong thực tế thường sử dụng một số phương pháp biễu diễn tri thức như sau:
 Phương pháp biễu diễn tri thức mô tả: Logic, mạng ngữ nghĩa,AOV.
 Phương pháp biễu diễn tri thức thủ tục: Các luật sản xuất.
 Phương pháp biễu diễn hỗn hợp: Frame
A. Biểu diễn tri thức bằng logic:
Với một số bài toán, các sự kiện và các trạng thái được mô tả qua các biểu thức
logic. Biễu diễn tri thức bằng logic là ngôn ngữ biểu diễn kiểu mô tả, có khả năng suy diễn
với các cơ chế quen thuộc: Modus Ponens, Modus Tolens khá gần gũi với việc lập trình
logic. Mặc khác dể dàng kiểm tra tính mâu thuẩn trong cơ sở tri thức. Tuy nhiên, sử dụng
phương pháp biễu diễn tri thức bằng logic có nhược điểm là mức độ hình thức hóa cao,do
đó dẫn tới khó hiểu ngữ nghĩa của các vị twfkhi xét chương trình.
Bài toán có thể được phát biểu dưới dạng:
 Chứng minh rằng: Từ các giả thiết GT
1
,GT
2
, GT
n
có thể suy ra một
trong các kết luận KL
1
,KL
2
, KL
m
. Các GT
i
, KL
j
là các biểu thức logic (logic
mệnh đề)
Sinh viên Đỗ Minh Sâm- Lớp Tin 99 - 14 -

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét