Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Sự hình thành và phát triển của giáo đoàn phật giáo Trung Quốc từ thời nhà Hán đến thời nhà Đường

đó làm hạt nhân vân du các nước để giảng đạo. Tín đồ Phật giáo ngày càng đơng
và ảnh hưởng của Phật giáo ngày càng sâu rộng.

Phật đà đi truyền đạo ở mọi nơi, dấu tích in khắp hai bờ sơng Hằng.
Những năm cuối đời ơng chỉ đi lại trong vùng giữa thành Vương Xá và Xá Vệ.
Ơng đưa ra mục tiêu cơ bản cho mọi người, tức là đạt đến độ hạnh phúc nhất
cho người ta là thốt khỏi mọi dục vọng, khi đó con người đạt đến sự viên mãn
về tinh thần và linh hồn. Học thuyết của ơng đã có ảnh hưởng quan trọng đến
mọi tầng lớp trong xã hội, bản thân ơng được tồn Ấn Độ kính trọng.

Để phổ độ chúng sinh, Phật đà đã khơng mệt mỏi vân du truyền đạo khắp
mọi nơi trong suốt 45 năm. Ngày 15-2-485 TCN ơng dẫn các đệ tử đến Cơ-xư-
na-rơ, lúc này ơng đã là một ơng già 80 tuổi. Con người ln kêu gọi mọi người
bình đẳng, u hồ bình, từ bi bác ái đã khơng còn đi nổi nữa. Ơng già nằm
nghiêng dưới hai gốc cây Bơ-rơ, lấy tay phải gối đầu, đầu ở hướng Bắc, chân ở
hướng Nam, lưng hướng Đơng, mặt hướng Tây, lặng lẽ rời khỏi thế gian. Trăm
họ đổ về đây tưởng niệm, họ phủ lên mình ơng những bó hoa tươi và các loại
hương liệu. Họ cúng ơng 12 con vật: chuột, trâu, hổ, mèo, rồng, rắn, ngựa, dê,
khỉ, gà, chó, lợn. Bảy ngày sau, thi thể ơng được hoả táng. Quốc vương của 8
nước u cầu được chia Xá lị Phật (tro cốt) xây tháp để cúng. Xá lị Phật được
chia thành 9 phần và nơi hoả táng đức Phật là nơi được xây tháp đầu tiên trong
9 tháp Xá lị.

Vào thế kỷ thứ III TCN, dưới triều đại Khổng Tước của Ấn Độ, vua A-uy
lấy đạo Phật làm quốc giáo. Từ đó đạo Phật bắt đầu được truyền bá rộng khắp
sang các nước Đơng Nam Á, Trung Á và Trung Quốc. Ngày nay, Phật giáo đã
trở thành một trong ba tơn giáo lớn trên Thế Giới.

2. Phật giáo cổ trung đại Trung Quốc

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Như trên đã nói Phật giáo được sinh ra ở Ấn Độ. Trong q trình trưởng
thành đã như hai thân cây lớn: một phát triển về hướng Nam tức là Phật giáo
Nam truyền, một hướng phát triển về phía Bắc tức là Phật giáo Bắc truyền.

Nói đến Bắc truyền Phật giáo, trước hết phải kể tới quốc độ lớn nhất và có
ảnh hưởng quyết định đến những nước xung quanh đó là Trung Quốc. Đó cũng
chính là dòng Đại thừa Phật giáo.

Theo ngả đường Bắc truyền của Phật giáo Ấn Độ thì trước hết Phật giáo
được truyền vào các nước Đại Nhục Chi, An Tức ở phía Bắc Ấn, dần dần lan tới
các nước Tây Vực rồi vào Trung Quốc. Con đường bộ xun qua nước Tây Vực
lúc này là con đường giao thơng trọng yếu giữa hai nền văn minh Ấn Độ và
Trung Quốc.

Nếu theo đường phía Nam Tây Vực tới thì bắt đầu từ Đơn Hồng và Ngọc
Mơn, rồi nương theo dãy Bắc núi Cơn Lơn, qua các nước Lop-Nor, Vu Điền
(Kho Tan), XaSa (Yarkand) rồi đến Sớ Lặc (Karhgar). Từ Sớ Lặc phải vượt qua
con đường hiểm trở phía Tây dải núi Thơng Lĩnh, rẽ về phía Nam, ăn thơng với
ngả đường Bắc Ấn Độ. Nếu theo đường Bắc Tây Vực thì cũng khởi điểm từ Đơn
Hồng, Ngọc Mơn rồi nương theo chân phía Nam của dải Thiên Sơn, xun qua
các nước Y Ngơ (Hà Mì), Các Xương (Turfan), n Kỳ (Karshar), Khâu Tư
(Kucha), Cơ Mặc (Akru), Ơn Túc (Ush) đến Sở Lặc, nối liền với con đường phía
Nam Ấn Độ. Giữa hai con đường trên còn có con đường “Nhập trúc cầu pháp”
của ngài Pháp Hiển. Con đường “Nhập trúc cầu pháp” củng bắt đầu từ Đơn
Hồng, qua Lop-Nor, tới n Kỳ xun qua bãi sa mạc rồi đến Vu Điền, hợp
với con đường phía Nam.

Sau này ngài Pháp Hiển thời Đơng Tấn đã mở đầu con đường thuỷ truyền
Phật giáo vào Trung Quốc. Đó là con đường nối Ấn Độ với Quảng Đơng-Trung
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Quốc qua các nước Đơng Nam Á. Con đường này khá tiện lợi, nhanh chóng và
an tồn.

Về niên đại du nhập của Phật giáo tới Trung Quốc thì có nhiều ý kiến
khác nhau, trong đó ý kiến có tính thuyết phục nhất là ý kiến cho rằng Phật giáo
tới Trung Quốc vào niên hiệu Vĩnh Bình năm thứ 10 (năm 67 dương lịch) đời
vua Minh Đế nhà Hậu Hán. Vua Minh Đế sai các ơng Thái Hâm, Vương Tn,
cả thảy 18 người qua nước Đại Nhục Chi (một nước ở phía Tây, trên đường từ
Ấn Độ sang Trung Quốc) để rước Xá Lị Phật về thờ. Các ơng Thái Hâm, Vương
Tn còn mời được cả hai vị sư là Ca Diếp Ma Đằng và Phúc Pháp Lan qua
Trung Quốc. Vua Hán Minh Đế truyền cho xây dựng chùa Bạch Mã để thờ Phật
và mời hai ngài ở đó để dịch Kinh, truyền đạo. Vua Hán Minh Đế cũng sai thợ
vẽ tượng Thích Tơn do ơng Thái Hâm đem về để thờ ở đài “Thanh Lương”.


II. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA GIÁO ĐỒN PHẬT GIÁO
TRUNG QUỐC TỪ THỜI HÁN ĐẾN THỜI ĐƯỜNG.

1. Thời kỳ sơ khai của giáo đồn Phật giáo nhà Hán

Sau khi đến Trung Quốc, hai vị sư Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan
chun về cơng việc phiên dịch Kinh điển. Hai ngài đã phiên dịch bộ Kinh điển
đầu tiên tại chùa Bạch Mã-chùa Phật giáo đầu tiên trên đất Trung Quốc. Bộ kinh
đó là Kinh “Tứ thập nhị chương”. Riêng ngài Trúc Pháp Lan sau đó còn dịch
được một số bộ Kinh như “Thập địa đoạn kết kinh” 8 quyển, “Pháp hải tạng
kinh” 1 quyển, “Phập bản hạnh kinh” 5 quyển, “Phật bản sinh kinh” 1 quyển và
“Nhị bách lục thập giới hợp dị” 2 quyển Dần dần, Phật giáo được triều đình
Trung Quốc thừa nhận, nhà vua cho phép xây chùa, dịch Kinh và truyền Đạo.
Lúc này các nhà truyền đạo từ Tây Vực kéo sang Trung Quốc bắt đầu
đơng dần lên. Trong số đó có các bậc nổi tiếng như ngài An Thế Cao, ngài Chi
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Câu La Sấm. An Thế Cao vốn là thái tử của vua An Tức. Sau khi xuất gia, ngài
đã chun chú học Kinh, luận, thơng hiểu phép thiền qn. Niên hiệu Kiến
Xương năm đầu 147 đời vua Hồn Đế, ngài tới đất Lạc Dương tỉnh Hà Nam. Từ
đó về sau trong khoảng hơn 20 năm, ngài chun lo cơng việc phiên dịch Kinh
điển. Những Kinh điển ngài đã dịch sang chữ Hán có tất cả 34 bộ gồm 40 quyển.

Ngài Chi Câu La Sấm là người nước Đại Nhục Chi, tới Trung Quốc vào
khoảng niên hiệu Quang Hồ (178-183) và Trung Bình (184-189) đời vau Linh
Đế. Trong khoảng 12 năm, ngài đã phiên dịch sang chữ Hán được những bộ
Kinh điển Đại Thừa như: “Kinh thư lăng nghiêm” 2 quyển, “Kinh ban chu tam
muội” 1 quyển, “Kinh vơ lương thanh tịnh Bình Đẳng Giáp”. Tất cả Kinh điển
ngài Chi Câu La Sấm dịch là 10 bộ gồm 20 quyển. Có thể nói rằng: Sự nghiệp
phiên dịch Kinh điển của ngài An Thế Cao và ngài Chi Câu La Sấm đã khai nền
đắp móng cho Phật giáo Trung Quốc.

Ngồi ngài An Thế Cao, Chi Câu La Sấm còn có ngài Trúc Phật Sóc
người nước Thiên Trúc (Ấn Độ), Ưu Bà Tắc An Huyền (người nước An Tức),
ngài Nghiêm Phật Điều người nước Hán. Trong số ấy, có ngài Nghiêm Phật
Điều là người Trung Quốc. Nghiêm Phật Điều là người đất Lâm Hồi (tỉnh An
Huy) là vị Sa mơn Trung Quốc đầu tiên và cũng là người Trung Quốc đầu tiên
tham gia vào cơng việc phiên dịch Kinh điển.

Bước sang thời Tam Quốc, tuy đất nước bị phân chia thành 3 nước Ngụy,
Thục, Ngơ song từ vua chúa cho đến thứ dân các nước đề tu theo đạo Phật và
mỗi nước đều có các vị cao tăng từ Tây Vực sang truyền Đạo.

Phật giáo ở nước Ngụy lấy dịch kinh là chủ yếu nhưng do các Phạm tăng
từ Ấn Độ tới Trung Quốc ngày một nhiều nên phong trào hoằng pháp đã sơi nổi
hơn. Tiêu biểu cho phong trào này là hai ngài Đàm Ma Ca La và Đàm Đế. Đó là
hai vị dịch giả và cũng là thuỷ tổ của tơng phái Luật tơng Trung Quốc. Trong
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
thời gian này đã có người Trung Quốc được thụ giới Luật đầu tiên đó là Chu
Sinh Hành.

Phật giáo được truyền tới nước Ngơ có sớm hơn nước Ngụy. Các bậc dịch
Kinh điển ở nước Ngơ gồm có ngài Chi Khiêm, ngài Chi Khương Lương và
ngài Khương Tăng Hội

Ngài Chi Khiêm đã dịch bộ “Đại A Di Đà kinh”, “Duy Ma Kinh” "chú
thích bộ “Liểu Bản Sinh Tử kinh” và trước tác bộ “Tán Bồ Tát liên cú”.

Những kinh điển mà ngài Khương Tăng Hội đã dịch gồm: “Lục Độ Tập
kinh”, “Tạp Thí Dụ kinh” và chú thích bộ “Pháp Kính kinh”, “Đạo Thụ Vương
kinh”.

Ở nước Thục Phật giáo đến tuy có chậm hơn nhưng đặc biệt có ngài Châu
Tử Hồng là một cao tăng Trung Quốc đã qua Tây Vực học chữ Phạn và tìm
ngun bản kinh chữ Phạn để dịch lại góp phần làm giàu thêm kho tàng kinh
điển Trung Quốc.

Có thể kết luận lại rằng Phật giáo Trung Quốc thời kỳ du nhập chỉ lấy
việc phiên dịch kinh điển và truyền bá kinh điển làm chính. Sự truyền bá giáo lý
cũng đã phát triển rộng rãi đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển của Phật
giáo thời kỳ tiếp theo. Kinh điển từ chữ Phạn dịch sang chữ Hán trong thời kỳ sơ
khai đã lên đến 300 quyển.

Phải từ sau thời kỳ du nhập thì giáo đồn Phật giáo Trung Quốc mới thể
hiện rõ q trình phát triển của nó. Trên nền tảng chung ấy em chia ra thành bốn
thời kỳ tiêu biểu.

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
2. Bốn thời kỳ tiêu biểu cho sự hình thành và phát triển của giáo đồn
Phật giáo Trung Quốc.

a. Thời Tấn (265- 317).

Từ khi Phật giáo truyền vào Trung Quốc đến thời đại Tây Tấn đã có hơn
300 năm nên Phật giáo đã được phổ cập rộng rãi. Vua Huệ Đế cho dựng chùa
Hưng Thành ở Lạc Dương, đặt tiệc trai cúng dàng 100 vị tăng. Còn vua Mẫn Đế
dựng chùa Linh Thơng và Bạch Mã ở kinh thành Tràng An, hết sức bảo hộ Phật
giáo. Vào thời Tây Tấn, số chùa ở Trung Quốc có 108 chùa, số tăng ni có hơn
3.700 người. Tuy vậy, trạng thái Phật giáo đời Tây Tấn cũng khơng ngồi cơng
việc phiên dịch kinh điển mà người dịch kinh điển tiêu biểu là Đàm Ma La Sát
và Trúc Pháp Hộ.

Đến thời Đơng Tấn, ngài Cưu Ma La Thập tiếp nối sự nghiệp hoằng
dương chính pháp của các bậc tiền bối và đưa Phật giáo Trung Quốc đến một vị
trí vơ cùng rực rỡ. Trong thời Đơng Tấn, ngồi việc dịch kinh điển ra đã bắt đầu
có sự hình thành tổ chức giáo đồn Phật giáo.

Giáo đồn Phật giáo Ấn Độ có tứ chứng, đó là Tỳ khiêu, Tỳ khiêu ni, Ưu
bà tắc, Ưu bà di. Tỳ khiêu và Tỳ khiêu ni thuộc phía xuất gia. Còn Ưu bà tắc,
Ưu bà di thuộc phía tại gia. Vào thời Đơng Tấn, số tăng ni ở Trung Quốc đã lên
tới 24.000 người với 1.708 ngơi chùa. Chính lý do tăng ni ngày càng đơng, chùa
cảnh ngày một nhiều mà vấn đề giáo đồn được chú ý, quan tâm nhiều hơn.

Giáo đồn Phật giáo thời kỳ phơi thai nhất phải kể đến là giáo đồn của
ngài Phật Đồ Trừng rồi đến giáo đồn của ngài Thích Đạo An và ngài Cưu Ma
La Thập. Song giáo đồn được hồn chỉnh hơn cả là giáo đồn của ngài Tuệ
Viễn với hình thức tổ chức “Bạch Liên Xã”. Sau đó ngài Đạo An đã lập ra pháp
chế cho giáo đồn này gồm 3 điều. Điều thứ nhất là phép “Hành hương, Đình
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
tọa”, điều thứ hai là phép “Sáu thói hành đạo”, điều thứ ba là phép “Bồ tát, sám
hối”. Bên cạnh đó ngài Tuệ Viễn cũng nêu ra một số qui định như “Pháp xã tiệt
độ tự”, “Ngoại tự tăng tiết độ tự”, “Tỳ khiêu ni tiết độ tự”. Ngồi ra còn đặt các
chức vụ để quản lý các cơng việc trong giáo đồn như đệ tử ngài La Thập là
Tăng Lược làm chức Tăng chính, ngài Tăng Tiên làm chức Duyệt chúng, ngài
Pháp Khâm làm chức Tăng lục

Trong sự hình thành tổ chức giáo đồn, Phật giáo Đơng Tấn khơng chỉ
chú trọng đến cơng việc phiên dịch kinh điển mà còn chú trọng đến việc nghiên
cứu để phát triển tư tưởng của Phật giáo. Cụ thể thời đại Đơng Tấn, Phật giáo
lấy tư tưởng “Khơng” trong kinh Bát Nhã làm trọng yếu, đã tách tư tưởng Lão
Trang ra ngồi. Ngài Đạo Sinh sáng tạo ra phương pháp chia khoa mục để chú
thích kinh điển. Ngài Tuệ Qn khi sửa chữa bản dịch của kinh Niết Bàn đã đem
giáo lý của Đức Phật trong một đời thuyết giảng chia ra thành Đốn giáo, Tiệm
giáo. Trong Tiệm giáo lại chia ra làm Ngũ thời giáo. Vì ở thời kỳ này, kinh A
Hàm và Tiểu Thừa A Tỳ đã được dịch ra chữ Hán nên có phong trào nghiên cứu
A tỳ đàm học, sau này hình thành “A tỳ đàm tơng”. Từ chỗ ngài Cưu Ma La
Thập dịch các bộ luận Đại thừa như “Trung luận”, “Bách luận”, “Thập nhị mơn
luận” mà thành lập “Tam luận tơng”. Từ thành thực luận lập ra “Thành thực
tơng”, tư tưởng kinh Niết Bàn trở thành cơ sở của “Niết bàn tơng”, tư tưởng
kinh Hoa nghiêm trở thành cơ sở của “Hoa Nghiêm tơng” sau này.

b. Thời Nam Bắc Triều (420-588).

Có thể nói, giáo đồn Phật giáo được hình thành từ thời Tây Tấn và Đơng
Tấn, đến thời Nam Bắc Triều thì phát triển nhanh chóng. Điều đó được thể hiện
qua bảng thống kê sau đây:

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Thời đại Tự Viện
(ngơi)
Số tăng, ni
(người)
Tây Tấn 108 3.700
Đơng Tấn 1.768 23.000
Tống 1.913 36.000
Tề 2.015 32.000
Lương 2.815 82.000
Trần 2.846 32.000
Ngụy (kể cả
cơng, tư)
30.896 2.000.000
Bắc Tề 40.000 3.000.000

Theo bảng thống kê trên ta thấy rõ ràng tăng ni và số tự viện tăng lên rất
nhiều. Việc này được lý giải là do thời kỳ này các triều vua đều bảo hộ cho Phật
giáo, cho xây dựng nhiều chùa, tháp. Mặt khác các Vương cơng, Bách quan,
Q tộc cũng thi nhau xây dựng chùa tư, tạc tượng. Trong số các ngơi chùa thời
Nam Bắc Triều có nhiều ngơi chùa nguy nga tráng lệ như chùa Vĩnh Minh ở
thành Lạc Dương do Linh Thái Hậu phát nguyện xây cất vào niên hiệu Hy Bình
(516) đời vua Hiếu Minh Đế Bắc Ngụy. Trong chùa có Phật điện lộng lẫy nguy
nga với 3.000 pho tượng. Chùa Vĩnh Minh có hơn 1.000 gian phòng và nhiều
lầu qn. Ngồi ra còn có chính điện tới tam quan dài 7 dặm, gồm 36 viện trong
nội tự, trong đó có cảnh suối nước, rừng cây như động thiên cung. Nơi đây có
tới hàng nghìn tăng chúng tu trì học đạo. Vào thời dỳ này nhà vua thường tổ
chức nhiều lễ hội như Võ giá đại hội, Bát qn trai hội hay tổ chức những buổi
cầu phúc.

Thời Nam Bắc Triều ở Trung Quốc ngồi sự phát triển của giáo đồn tăng
còn xuất hiện giáo đồn ni. Trung tâm của giáo đồn ni được thành lập ở chùa
Đạo Quang (Lạc Dương). Chùa Đại Trí Độ Do vua Lương Võ Đế dựng mỗi
ngày có hơn 500 ni chúng tu học.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Hệ thống tổ chức của giáo đồn Phật giáo thời Nam Bắc Triều đã chặt
chẽ, hồn thiện hơn thời kỳ trước. Trong giáo đồn đứng đầu là Đại thống, Tăng
chính, rồi đến các chức Quận thống, Huyện thống Ngồi ra còn xuất hiện chức
Duy Na - người trơng nom mọi việc vặt trong chùa. Tóm lại là sự quản lý của
giáo đồn đã khá chặt chẽ.

Tổ chức của giáo đồn thời kỳ này dựa vào giới luật của Đạo Phật Ấn Độ
mà chế ra chứ khơng dựa vào luật pháp của triều đình Trung Quốc như những
thời trước.

Giáo đồn Phật giáo lúc này đã có tài sản riêng. Tài sản có được là do các
thí chủ cúng dâng và sự đóng góp của vua chúa cho nhà chùa. Vua thường
xun miễn giảm thuế cho nhà chùa, lại cấp cho đất đai nên giáo đồn Phật
giáo trở nên giàu có và giúp đỡ được nhiều người nghèo.

Giáo đồn Phật giáo thời Nam Bắc Triều đã có những bước phát triển về
tổ chức cũng như tài sản so với thời Tây Tấn và Đơng Tấn. Có thể nói thời kỳ
này giáo đồn Phật giáo đã bước vào giai đoạn thuần thục.

Phật giáo lúc này hơn hẳn giai đoạn trước bởi đã bắt đầu chú ý tới cơng
tác xã hội. Các ngơi chùa trở thành trung tâm truyền bá giáo lý, nhân dân được
phép tự do đi lại vãn cảnh chùa. Vua cho phép lập ra các kho thóc dự trữ để cứu
giúp dân những khi hạn hán, mất mùa gọi là Tăng kỳ túc. Riêng vua Võ Đế còn
cho lập kho Vơ tận tạng. Các tăng ni cũng tham gia nhiều hơn vào các cơng việc
xã hội như làm đường, bắc cầu, lập nhà trọ khơng thu tiền

Thời Đường (618-907).


THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Sau thời Nam Bắc Triều, Phật giáo bước vào một thời kỳ phát triển rực rỡ
nhất của mình đó là thời nhà Đường. Chúng ta có thể nhận xét rằng Phật giáo
Trung Quốc đời Đường đã phát triển tới chỗ hồn bị và tồn thịnh. Để thống chế
giáo đồn, tăng già vẫn giữ chức Tăng quan như đời Tuỳ nhưng đứng đầu tất cả
là chức Tăng Lục. Sau chức Tăng lục có các Tăng chính ở các châu, quận để
quản hạt giáo đồn từng địa phương. Ở các chùa lớn đặt ra chức “Tam Cương”
là thượng tọa, Tự chủ và Điển tọa để trơng nom mọi cơng việc trong chùa. Đặc
biệt Phật giáo ở Ngũ Đài Sơn có đặt chức riêng gọi là “Ngũ Đài Sơn thập tự đơ
kiểm hiệu thú” để thống lĩnh Phật giáo riêng ở núi đó.

Giáo học Phật giáo nhà Đường là những tư tưởng triết học cao siêu thích
hợp với việc nghiên cứu. Có rất nhiều tư tưởng Giáo học làm cơ sở cho các tơng
phái đã xuất hiện ở thời kỳ này (xuất hiện 10 tơng phái lớn: Câu Xá Tơng,
Thành Thực Tơng, Duy Đức Tơng, Tam Luận Tơng, Hoa Nghiêm, Thiên Thai
Tơng, Mật Tơng, Thiền Tơng, Tịnh Độ Tơng, Luật Tơng).

Về phương diện dịch kinh điển thì thời nhà Đường bước sang giai đoạn
cải cách mới nên được gọi là "Tân dịch thời đại". Các nhà phiên dịch kinh điển
tiêu biểu nhất trong thời kỳ này hay còn gọi là những nhà đại phiên dịch gồm có:
ngài Nghĩa Tịnh, ngài Huyền Trang, ngài Bất Khơng, Thiệu Vơ Hý, Kim Cương
Trí

Ngài Huyền Trang người Lạc Châu (tỉnh Hà Nam) thường được gọi là
Đường Tam Tạng. Do nhận thấy kinh điển ở nước nhà hoặc bị thiêu huỷ, thất lạc
vì giặc giã, hoặc bị sai lạc ngun bản vì dịch sai hay chép lộn nên đã tự phát
nguyện sang đất Phật-Ấn Độ để tìm học đạo với những bậc minh sư. Vào năm
Trinh Qn thứ 19 (645), Huyền Trang về tới Tràng An. Vua Thái Tơn liền mời
ngài về chùa Đại Từ Ân để ngài dịch kinh.

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét