Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với kinh tế ngoài quốc doanh tại Sở giao dịch I- Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam

*Hợp tác xã là đơn vị kinh tế do nhiều lao động cùng nhau góp vốn
để sản xuất kinh doanh. Hợp tác xã hoạt động theo luật hợp tác xã và trên
nguyên tắc bình đẳng, dân chủ, cùng hởng lợi, cùng chịu rủi ro với mọi thành
viên nhằm kết hợp sức mạnh tập thể để giải quyết có hiệu quả hơn những vấn
đề sản xuất kinh doanh và đời sống. Cơ quan cao nhất là Đại hội xã viên, cơ
quan quản lý các hoạt động của hợp tác xã là ban chủ nhiệm hợp tác xã đợc
xã viên bầu theo luật hợp tác xã.
*Doanh nghiệp t nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự
chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình trong quá trình sản xuất kinh
doanh.
*Hộ kinh doanh cá thể là một thực thể kinh doanh do một cá nhân
hoặc hộ gia đình làm chủ, kinh doanh tại một địa điểm cố định, không thờng
xuyên thuê lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài
sản của mình đối với hoạt động kinh doanh.
Bộ phận kinh tế ngoài quốc doanh ngày càng phát triển và từng bớc
hoàn thịên đã và đang thể hiện vai trò quan trọng trong nền kinh tế.Tuy
nhiên,sự phát triển của kinh tế ngoài quốc doanh cần sự quan tâm rất nhiều
của Đảng và Nhà nớc và sự nỗ lực của mọi ngành, mọi cấp.
1.1.2.Đặc điểm của kinh tế ngoài quốc doanh trong nền kinh tế thị
trờng ở Việt Nam.
- Những đặc điểm về khả năng tài chính
Do sự phát triển của thành phần kinh tế này mới đợc thừa nhận hơn 15
năm và hoạt động trong môi trờng luật pháp đang đợc tạo dựng nên kinh tế
ngoài quốc doanh còn nhiều vớng mắc trong quá trình phát triển. Mặc dù
trong những năm gần đây đợc Đảng và Nhà nớc khuyến khích tạo điều kiện
thuận lợi trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nhng nhìn chung độ tập trung
vốn của thành phần này cha cao. Phần lớn các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh ở nớc ta đều có quy mô nhỏ và chủ yếu thuộc loại hình doanh nghiệp
vừa và nhỏ.
5
Nếu nh kinh tế Nhà nớc vốn phần lớn đợc hỗ trợ từ ngân sách thì kinh
tế ngoài quốc doanh thì không nhận đợc sự hỗ trợ này mà nguồn vốn kinh
doanh chủ yếu đợc khai thác từ các nguồn: vốn tự có, vốn huy động trên thị
trờng bằng cách phát hành cổ phiếu, trái phiếu và các nguồn vốn đi vay. Do
vậy, khả năng tài chính của kinh tế ngoài quốc doanh còn nghèo nàn, vốn tự
có nhỏ bé không thể đáp ứng đợc cho nhu cầu sản xuất kinh doanh.
Điều này thể hiên rõ do nền kinh tế nớc ta còn kém phát triển, sự tích
luỹ t bản không đợc nhiều do đó vốn tự có khi đa vào sản xuất kinh doanh
không đáp ứng đủ. Với cách giải quyết huy động trên thị trờng đòi hỏi doanh
nghiệp phải có quy mô lớn, có uy tín trên thị trờng, hơn nữa cũng yêu cầu có
một thị trờng vốn hoàn chỉnh với một hệ thống các tổ chức trung gian đủ
mạnh để có khả năng đảm đơng việc bảo lãnh, phát hành cổ phiếu, trái phiếu
công ty, nó còn phụ thuộc vào trình độ dân trí và sự sôi động của thị trờng
thứ cấp. ở nớc ta, hình thức này vẫn cha đợc áp dụng rộng rãi mà chỉ dừng ở
việc phát hành cổ phiếu trong nội bộ công ty cổ phần. Kinh tế ngoài quốc
doanh mới hình thành với quy mô còn nhỏ, uy tín còn hạn chế do đó cha đáp
ứng đợc các yêu cầu trên. Vì vậy chỉ còn cách là vay các Ngân hàng thơng
mại, đây là nguồn vốn dồi dào có thể đáp ứng đợc quá trình sản xuất kinh
doanh của kinh tế ngoài quốc doanh.
Mặc dù hạn chế ở khả năng tài chính song họ hoàn toàn có quyền tự
chủ trong kinh doanh và với sự năng động và khả năng nhạy bén,thành phần
kinh tế này lại sử dụng vốn hết sức hiệu quả, do đó có sức cạnh tranh lớn trên
thị trờng.
- Đặc điểm về trình độ, công nghệ sản xuất.
Do hạn chế về vốn nên năng lực sản xuất thấp kéo theo trình độ kỹ
thuật công nghệ của kinh tế ngoài quốc doanh còn lạc hậu, chủ yếu vẫn là kỹ
thuật công nghệ sử dụng nhiều lao động. Theo số liệu điều tra của Viện
nghiên cứu kinh tế Trung ơng năm 2000 thì chỉ có 26% doanh nghiệp và
21% số công ty sử dụng công nghệ tơng đối hiện đại, 39,5% doanh nghiệp và
21,2% công ty sử dụng công nghệ cổ truyền, 36,5% doanh nghiệp và 61,3%
6
công ty kết hợp cả công nghệ hiện đại và cổ truyền. Công nghệ lạc hậu là
một trong những nguyên nhân chính làm cho các sản phẩm kém sức cạnh
tranh và thị phần hàng hoá bị giới hạn trong khuôn khổ chật hẹp. Tuy nhiên
đây cũng là đặc điểm chung của các doanh nghiệp nớc ta, kể cả doanh nghiệp
Nhà nớc phù hợp với đặc điểm của nền kinh tế còn kém phát triển,thiếu năng
động,mang nặng tính thuần nông của nớc ta.
-Đặc điểm về trình độ quản lý, kinh doanh, kỹ năng ngời lao động.
Thành phần xuất thân của các chủ doanh nghiệp thuộc kinh tế ngoài
quốc doanh có từ nhiều nguồn khác nhau: nông dân, thợ thủ công, tầng lớp
trí thức. Hơn nữa, kinh tế nớc ta mới chuyển sang kinh tế thị trờng nên những
kiến thức về kinh tế, những hiểu biết về quy luật kinh doanh không phải ai
cũng có thể nắm bắt đợc. Điều này trớc hết gây khó khăn trong việc điều
hành doanh nghiệp cho chính những ngời làm chủ. Họ gặp nhiều hạn chế, v-
ớng mắc trong công tác tổ chức nhân sự, trong việc hoạch định kế hoạch
cũng nh phân tích dự án, các cơ hội đầu t.Bên cạnh đó,đội ngũ ngời lao động
phần lớn xuất thân từ dân nghèo, nông thôn, trình độ học vấn còn nhều hạn
chế nên kĩ năng cũng nh kỉ luật lao động còn thấp,cha đáp ứng đủ nhu cầu
cho công việc.
Việc thực hiện Pháp lệnh về tài chính và thống kê của Nhà nớc trong
các doanh nghiệp này cha đợc thực hiện nghiêm túc. Phần lớn, các doanh
nghiệp hạch toán kế toán chủ yếu bằng kinh nghiệm bản thân. Do đó, họ gặp
nhiều khó khăn khi tiếp cận nguồn vốn ngân hàng vì không chứng thực đợc
năng lực kinh doanh cũng nh tình hình tài chính của bản thân một cách rõ
ràng.
-Đặc điểm về môi trờng kinh doanh.
Các chính sách chế độ của Nhà nớc còn thiếu đồng bộ, cha đầy đủ,
cha có quy định rõ ràng để các doanh nghiệp có thể yên tâm hơn khi đầu t
vốn vào sản xuất kinh doanh và giảm bớt rủi ro trong hoạt động. Các văn
kiện của Đảng các chủ trơng của Nhà nớc và Chính phủ đã nêu rõ và công
nhận vai trò quan trọng của kinh tế ngoài quốc doanh trong cơ chế thị trờng
7
nhng việc cụ thể hoá thành quy định và hớng dẫn chi tiết thi hành để tạo môi
trờng thuận lợi đối với kinh tế ngoài quốc doanh đến nay vẫn còn nhiều hạn
chế.
Tính ổn định của chính sách kinh tế- tài chính còn thấp, thiếu tính
kích thích mà chủ yếu là chính sách thuế và pháp luật còn nặng tính ràng
buộc về nguyên tắc, chế độ.
Chính sách thuế còn nhiều u đãi, chiếu cố cho thành phần kinh tế
Nhà nớc, cha đảm bảo công bằng, bình đẳng và sự cạnh tranh lành mạnh giữa
các thành phần kinh tế. Tình trạng còn nhiều đơn vị kinh tế ngoài quốc doanh
phải ngụy trang núp bóng dới danh nghĩa kinh tế Nhà nớc hòng mong thu đ-
ợc lợi nhuận cao là bằng chứng rõ ràng về sự bất bình đẳng trong c xử ,thể
hiện ở việc u đãi quá mức đối với kinh tế Nhà nớc.
Các chính sách Nhà nớc cha thực sự khuyến khích kinh tế ngoài
quốc doanh tăng cờng sử dụng công nghệ mới, đào tạo cán bộ quản lý, nâng
cao trình độ khoa học kỹ thuật. Thiếu chính sách bảo hộ quyền lợi chính
đáng của ngời lao động trong các doanh nghiệp t nhân về các chế độ ngời lao
động BHXH, BHYT trong thời gian làm việc, khi về già.
Thủ tục hành chính còn nhiều phiền hà, nhũng nhiễu.Tình trạng quan
liêu, cửa quyền trong quản lý kinh tế nói chung và đối với kinh tế ngoài quốc
doanh nói riêng vẫn đang là nhân tố cản trở không nhỏ đối với sản xuất kinnh
doanh.Mặt khác, môi trờng sản xuất cũng nh tiêu thụ sản phẩm cũng gặp
nhiều khó khăn do sức cạnh tranh còn kém.
Tóm lại, các đặc điểm nói chung và môi trờng kinh doanh của thành
phần kinh tế này nói riêng còn nhiều bất cập, ảnh hởng không nhỏ tới hoạt
động sản xuất kinh doanh của thành phần kinh tế này.Do đó, cần có sự quan
tâm đúng mực của các ngành các cấp và đặc biệt là của ngành ngân hàng tạo
để điều kiện cho họ trong việc tiếp cận vốn ngân hàng phục vụ nhu cầu chính
đáng cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
8
1.1.3.Vai trò của kinh tế ngoài quốc doanh trong nền kinh tế thị tr-
ờng ở Việt nam.
Trong xu thế mở cửa hội nhập khu vực và quốc tế, nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần đợc thừa nhận và tạo điều kiện để phát triển. Kinh tế
ngoài quốc doanh đã và đang chứng tỏ đợc vai trò quan trọng của mình trong
nền kinh tế nớc ta hiện nay.Điều này đợc thể hiện ở:
1.1.3.1. Sự phát triển của kinh tế ngoài quốc doanh đã tạo điều kiện
khai thác tối đa nguồn lực của đất nớc.
Sau hơn 15 năm đổi mới, mặc dù đạt đợc nhiều thành tựu nhng trình
độ nền kinh tế nớc ta vẫn còn thấp trong khi tiềm năng phát triển của nền
kinh tế còn rất lớn, kinh tế Nhà nớc không thể khai thác và tận dụng hết đợc
những tiềm năng này. Vì vậy cần phải phát triển kinh tế ngoài quốc doanh
mới có thể khai thác tốt các nguồn lực của đất nớc. Việc khuyến khích thành
phần kinh tế ngoài quốc doanh phát triển sẽ huy động đợc một lợng vốn lớn
đang nằm trong dân, tạo điều kiện cho năng lực con ngời đợc giải phóng và
phát huy mạnh mẽ. Mọi cá nhân, tổ chức đều cố gắng phát huy tối đa khả
năng của mình, tìm kiếm, khai thác các nguồn lực vì lợi ích của chính bản
thân. Đó là động lực kích thích sự phát triển của lực lợng sản xuất, thúc đẩy
xã hội phát triển.
1.1.3.2. Kinh tế ngoài quốc doanh phát triển tạo điều kiện thu hút lao
động, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp trong xã hội.
Việt nam là một nớc có dân số trẻ, lực lợng lao động đông đảo, kinh tế
Nhà nớc không thể tạo ra đầy đủ công ăn việc làm cho tất cả. Hơn nữa trải
qua một giai đoạn nền kinh tế hoạt động theo cơ chế tập trung, bao cấp đã
bộc lộ rõ những mặt non kém của công tác quản lý và sử dụng lao động cho
nên với chủ trơng giảm biên chế, kinh tế ngoài quốc doanh là đối trọng để
thu hút lao động dôi ra từ các đơn vị, cơ quan Nhà nớc và hành chính sự
nghiệp. Bên cạnh đó, do tính đa dạng trong loại hình của kinh tế ngoài quốc
doanh, nó có mặt trong tất cả mọi nghành nghề lĩnh vực, có mặt ở cả nông
thôn và thành thị, có thể dễ dàng thành lập bởi một cá nhân, một gia đình,
9
hay một số cổ đông liên kết lại dới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn, công
ty cổ phần cùng với việc sử dụng kỹ thuật sản xuất cần tơng đối nhiều lao
động. Do vậy, kinh tế ngoài quốc doanh là nơi tạo việc làm nhanh nhất, dễ
dàng hơn so với kinh tế Nhà nớc.
1.1.3.3. Trong quá trình đổi mới nền kinh tế, kinh tế ngoài quốc
doanh ngày càng phát triển nhanh chóng, đóng góp ngày càng lớn vào tỷ
trọng GDP của quốc gia .
Mặc dù còn lép vế hơn so với kinh tế Nhà nớc song sự đóng góp vào
GDP của kinh tế ngoài quốc doanh trong những năm qua đã chứng tỏ đ-
ợc vai trò cần thiết của thành phần kinh tế này đối với sự phát triển của
đất nớc.Điều này đợc thể hiện qua bảng sau:
10
Bảng 1: Tổng sản phẩm trong nớc phân theo ngành kinh tế
Đơnvị:tỷđồng
Thành phần kinh tế Năm2000 % Năm2001 % Năm2002 %
1. Kinh tế Nhà nớc
2.Kinh tế ngoài quốc
doanh
117.818
176.727
40
60
120.840
224.416
35
65
124.732
267.865
32
68
Tổng số 294.545 100 345.256 100 392.597 100
Nguồn:Niên giám thống kê 2002
Với tỷ trọng GDP tăng dần qua các năm: 60% năm 2000, 65% năm
2001 và 68% năm 2002, hoạt động của kinh tế ngoài quốc doanh đã khẳng
định đợc vị trí của mình trong nền kinh tế thị trờng. Bởi lẽ,khác với kinh tế
Nhà nớc, thành phần kinh này phải tự thân vận dộng để vơn lên mà không hề
có một sự u đãi nào từ phía Nhà nớc, do đó, họ đã cố gắng phát huy mọi nhân
tài vật lực nhằm khẳng định vị trí của mình trên thị trờng.Trong mấy năm
qua, sự phát triển mạnh mẽ loại hình kinh tế này đã góp phần làm tăng GDP,
tăng ngân sách Nhà nớc, qua đó thúc đẩy tái sản xuất mở rộng, tạo điều kiện
cho lực lợng sản xuất phát triển.
1.1.3.4 Kinh tế ngoài quốc doanh tạo ra sự cạnh tranh, góp phần tạo
ra sự phát triển sôi động của nền kinh tế.
Thực tế cho thấy sự phát triển kinh tế ngoài quốc doanh đã làm tăng
sức cạnh tranh trên thị trờng. Bởi vì, kinh tế ngoài quốc doanh phát triển trên
nhiều lĩnh vực, ngành nghề làm cho thị trờng hàng hoá trở nên phong phú, đa
dạng, sôi động, tạo ra sự thu hút. Trớc sự tồn tại và phát triển của kinh tế
ngoài quốc doanh, các doanh nghiệp Nhà nớc buộc phải phân tích, hoạch
định chiến lợc kinh doanh cho phù hợp hơn nhằm nâng cao khả năng cạnh
tranh của mình. Điều này càng khẳng định rằng việc phát triển kinh tế ngoài
quốc doanh không những không làm suy yếu kinh tế Nhà nớc mà còn thúc
11
đẩy thành phần này phát triển mạnh mẽ hơn. Thành phần kinh tế ngoài quốc
doanh đóng vai trò hỗ trợ cho kinh tế Nhà nớc phát triển, giải quyết những
yêu cầu của nền kinh tế đặt ra mà kinh tế quốc doanh không đảm nhận hết.
Kinh tế ngoài quốc doanh vừa là đối thủ cạnh tranh quyết liệt vừa là
đối tác làm ăn trong quá trình cung cấp sản phẩm, hoàn thiện sản phẩm, tiêu
thụ sản phẩm, cung cấp đầu vào cho kinh tế Nhà nớc. Sự kết hợp sản xuất-
tiêu thụ giữa kinh tế Nhà nớc và kinh tế ngoài quốc doanh tạo ra một dây
chuyền sản xuất mới của xã hội, giúp cho thời gian sản xuất tiêu thụ đợc rút
ngắn và sản phẩm sản xuất ra đợc hoàn thiện với chất lợng ngày càng tốt hơn.
Nh vậy, sự phát triển của kinh tế ngoài quốc doanh đã thúc đẩy và tăng
cờng các mối quan hệ trong nớc, đồng thời tạo ra sự cạnh tranh giữa các
thành phần kinh tế buộc các thành phần kinh tế nói chung và các chủ thể nói
riêng phải luôn đổi mới hoàn thiện để tồn tại và phát triển. Kinh tế ngoài
quốc doanh còn là môi trờng thuận lợi để mở rộng hợp tác kinh tế với nớc
ngoài. Trong nền kinh tế mở cửa hiện nay, giao lu kinh tế giữa các nớc phát
triển mạnh, nếu không có một chính sách đúng đắn thì chúng ta sẽ không thể
khai thác hết đợc tiềm năng của thành phần kinh tế này.
1.1.3.5 Sự phát triển kinh tế ngoài quốc doanh góp phần vào quá
trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nớc.
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đa ra mục tiêu đến
năm 2010, nớc ta cơ bản trở thành nớc công nghiệp. Bên cạnh đó cũng đặt ra
mục tiêu đến năm 2005 có khoảng 60% doanh nghiệp Nhà nớc sẽ cổ phần
hoá. Nh vậy với vai trò của mình, trong những năm tới kinh tế ngoài quốc
doanh sẽ đợc mở rộng và là nơi tập trung vốn, nhân lực vào các ngành kinh tế
đòi hỏi nhiều hàm lợng tri thức nh công nghệ thông tin, điện tử cũng nh có
thể lấp đầy những khoảng trống trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh
không cần nhiều vốn, có mức lợi nhuận không cao mà các nhà đầu t lớn ít
quan tâm tới. Đây cũng là quan điểm của Đảng ta trong quá trình Công
nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nớc.
12
1.2.Vai trò của tín dụng ngân hàng trong việc phát triển kinh tế
ngoài quốc doanh.
Trong nền kinh tế thị trờng, hoạt động tín dụng của ngân hàng đợc sử
dụng nh là công cụ khai thác và động viên có hiệu quả nhất lợng tiền nhàn
rỗi vào quá trình sản xuất xã hội,phù hợp với quá trình vận động liên tục của
vốn.
ở nớc ta, tín dụng ngân hàng không chỉ đóng vai trò quan trọng trong
sự phát triển các thành phần kinh tế nói chung mà còn phục vụ cho sự nghiệp
phát triển kinh tế ngoài quốc doanh nói riêng, góp phần vào sự nghiệp CNH-
HĐH đất nớc.
1.2.1 Khái niệm Tín dụng ngân hàng
Tín dụng là một phạm trù kinh tế và cũng là sản phẩm của nền kinh tế
hàng hoá. Nó là động lực thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển lên giai
đoạn cao hơn. Tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế xã hội, ngày
nay tín dụng đợc hiểu theo ngôn ngữ thông thờng là quan hệ vay mợn dựa
trên những nguyên tắc:
- Ngời cho vay chuyển giao cho ngời đi vay một lợng giá trị nhất định.
Giá trị này có thể dới hình thái tiền tệ hoặc dới hình thái hiện vật nh hàng
hoá, máy móc, thiết bị, bất động sản
- Ngời đi vay chỉ sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất định, sau
khi hết thời hạn sử dụng theo thoả thuận, ngời đi vay phải hoàn trả cho ngời
cho vay.
- Giá trị hoàn trả thông thờng lớn hơn giá trị lúc cho vay nói cách khác
ngời đi vay phải trả thêm phần lãi vay.
Trong quá trình phát triển lâu dài của nền sản xuất và lu thông hàng
hoá quan hệ tín dụng đã hình thành và phát triển thông qua các hình thức: tín
dụng Nhà nớc, tín dụng thơng mại và tín dụng ngân hàng.
Tín dụng Ngân hàng là quan hệ kinh tế trong đó có sự chuyển
quyền sử dụng tạm thời một lợng vốn giữa Ngân hàng với khách hàng
13
trong một thời gian nhất định và sau thời gian đó lợng vốn đợc hoàn trả
cộng thêm phần lãi trên lợng vốn theo một lãi suất nhất định.
Tín dụng Ngân hàng đợc biểu hiện qua các quan hệ sau: quan hệ tín
dụng Ngân hàng với kinh tế Nhà nớc, giữa Ngân hàng với kinh tế NQD, với
các cá nhân, quan hệ tín dụng giữa các nớc trên thế giới. Trong nền kinh tế,
Ngân hàng đóng vai trò là một tổ chức tài chính trung gian. Vì vậy, trong
quan hệ tín dụng với các doanh nghiệp và cá nhân, Ngân hàng đồng thời vừa
là ngời đi vay, vừa là ngời cho vay. Với t cách là ngời đi vay, Ngân hàng
nhận tiền gửi của các doanh nghiệp và cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền
gửi, trái phiếu để huy động trong xã hội. Trái lại với t cách là ngời cho vay,
Ngân hàng cung cấp tín dụng cho các doanh nghiệp và các cá nhân. Khác với
tín dụng thơng mại đợc cung cấp dới hình thức hàng hóa, còn tín dụng Ngân
hàng đợc cung cấp dới hình thức tiền tệ bao gồm tiền mặt và bút tệ - chủ yếu
là bút tệ.
1.2.2 Phân loại tín dụng ngân hàng
Có nhiều cách phân loại tín dụng theo những tiêu thức khác nhau tùy
theo yêu cầu của khách hàng và mục tiêu quản lí của ngân hàng, sau đây là
một số cách phân loại phổ biến hiện nay:
Căn cứ vào thời gian cho vay, tín dụng gồm có:
+ Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn cho vay dới 12
tháng, tín dụng ngắn hạn bao gồm các loại: cho vay bổ sung vốn lu động của
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, thơng mại dịch vụ; chiết khấu chứng từ có
giá; cho vay đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh, dịch vụ và đời
sống với hộ t nhân, cá thể.
+ Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn cho vay từ 12 tháng
đến 60 tháng. Loại tín dụng này chủ yếu đợc sử dụng để đầu t mua sắm tài
sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh
doanh, xây dựng các dự án có quy mô vừa và nhỏ có thời gian thu hồi vốn
nhanh.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét