Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

thực tiễn áp dụng pháp luật thuế GTGT hiện nay

Trường Đại học Luật Hà Nội
MỤC LỤC
I. LỜI MỞ ĐẦU……………………………………………………………….
II. NỘI DUNG………………………………………………………………….
I. Một số vấn đề cơ bản của Luật thuế GTGT…………………………………
1. Khái niệm thuế GTGT:……………………………………………………
2. Vai trò của Thuế GTGT:……………………………………………………
II. Thực trạng áp dụng luật thuế giá trị gia tăng………………………………
1.Những thành tựu cơ bản trong quá trình áp dụng thuế giá trị gia tăng………
2.Một số đánh giá cơ bản về những tồn tại của hệ thống pháp luật thuế GTGT ở
Việt
Nam………………………………………………………………………………
2.1:Những hạn chế của hệ thống pháp luật thuế GTGT hiện hành……………
2.2: Một số đánh giá cụ thể về những tồn tại của pháp luật thuế GTGT
a. Về phạm vi áp dụng thuế GTGT………………………………………………
b. Về căn cứ tính thuế……………………………………………………………
c. Về phương pháp tính thuế GTGT…………………………………………….
d. Về quản lý hoàn thuế GTGT………………………………………………….
e. Quy định về địa điểm cung cấp hàng hóa, dịch vụ……………………………
g. Cơ chế quản lý và thực hiện công tác quản lý của các cơ quan thuế:………
3.Nguyên nhân của thực trạng trên:……………………………………………
II. Một số giải pháp hoàn thiện luật thuế GTGT ở nước ta……………………
1. Bối cảnh quốc tế và định hướng kinh tế – xã hội tác động đến xu hướng hoàn
thiện thuế GTGT ở nước ta ……………………………………………………
2. Một số biện pháp chủ yếu nhằm tiếp tục hoàn thiện Luật thuế GTGT ………
2.1: Sửa đổi Luật Thuế GTGT phải phù hợp với xu hướng cải cách hệ thống thuế
trên thế giới……………………………………………………………………….
2.2: Sửa đổi trên cơ sở các bất cập của pháp luật thuế hiện hành và phải phù hợp
với thông lệ quốc tế……………………………………………………………….
III. KẾT LUẬN
Lớp NO6 –TL2- Nhóm 3 Page 1
Trường Đại học Luật Hà Nội
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm qua, hệ thống pháp luật thuế từng bước đã được ban hành,
bổ sung và sửa đổi phù hợp với công cuộc cải cách kinh tế và đổi mới quản lý nhà
nước. Việc thực hiện các chính sách thuế thống nhất và bình đẳng giữa các thành
phần kinh tế đã động viên hợp lý các nguồn thu quan trọng từ nội bộ nền kinh tế,
đáp ứng nhu cầu chi NSNN góp phần thúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hóa phát
triển cũng như đẩy mạnh sản xuất và hoạt động đầu tư…
Thuế GTGT là một loại thuế mới xuất hiện và áp dụng vào thực tiễn ở Việt
Nam từ tháng 01/01/1999 nhưng môi trường đầu tư thuận lợi cho các đơn vị kinh
tế, bảo hộ hợp lý và khuyến khích sản xuất trong nước, đặc biệt đối với hàng hóa
xuất khẩu, tăng cường hoạch toán trong các doanh nghiệp và góp phần làm cho hệ
thống luật pháp Việt Nam nói chung và hệ thống luật thuế nói riêng phù hợp với
luật pháp và thông lệ thế giới. Tuy nhiên thuế GTGT là một loại thuế mới, nên
trong quá trình áp dụng không tránh khỏi những khó khăn và còn nhiều thiếu sót,
dẫn đến việc thực hiện không đúng, không đầy đủ Luật thuế GTGT mà còn tạo ra
nhiều kẽ hở cho các doanh nghiệp lợi dụng rút tiền của NSNN. Thực tế này không
những làm cho mục đích chính của Thuế GTGT– nguồn thu quan trọng thường
xuyên cho NSNN - không được đảm bảo mà còn gây ra sự mất bình đẳng giữa các
doanh nghiệp làm ăn chân chính, thực hiện tốt cho chế độ hóa đơn chứng từ với các
doanh nghiệp đang lợi dụng chính sách thuế của Nhà nước để bòn rút của công làm
lợi cho mình thì chưa được phát hiện kịp thời và xử lý thích đáng. Chính vì lẽ đó
nên chúng em đã chọn đề tài “thực tiễn áp dụng pháp luật thuế GTGT hiện nay”.
Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và làm bài, dù đã có cố gắng hết sức
nhưng vẫn không tránh khỏi được những thiếu sót, nên chúng em rất mong quý
thầy cô đưa ra những nhận xét và đánh giá quí báu giúp cho bài làm được hoàn
thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!!!
Lớp NO6 –TL2- Nhóm 3 Page 2
Trường Đại học Luật Hà Nội
II. NỘI DUNG.
I. Một số vấn đề cơ bản của Luật thuế GTGT
1. Khái niệm thuế GTGT:
Luật thuế GTGT đầu tiên được thông qua ngày 10 tháng 5 năm 1997 tại kỳ
họp thứ 11 Quốc hội khoá IX và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm
1999. Việc ban hành Luật thuế GTGT để thay thế cho Luật thuế doanh thu theo
Chương trình cải cách thuế bước II đã được Bộ chính trị, Quốc hội và Chính phủ
thông qua. Trong quá trình triển khai thực hiện, Luật thuế GTGT được sửa đổi, bổ
sung nhiều lần nhằm tháo gỡ kịp thời những vướng mắc phát sinh, phù hợp với
điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật thuế giá trị gia tăng năm 2003, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế giá trị gia tăng năm 2005). Luật thuế GTGT sau
9 năm thực hiện đã đi vào cuộc sống, tác động tích cực đến nhiều mặt kinh tế - xã
hội của đất nước và đã đạt được những mục tiêu đề ra của cải cách thuế bước II.
Tuy nhiên, trước bối cảnh nền kinh tế đang tiếp tục chuyển đổi mạnh mẽ, hội nhập
ngày càng sâu hơn, rộng hơn, Luật thuế GTGT năm 1997 và các Luật sửa đổi, bổ
sung Luật thuế GTGT vẫn còn bộc lộ một số vấn đề cần phải xem xét để tiếp tục
hoàn thiện. Theo đó, tại kỳ họp khoá XII, kỳ họp thứ 3, ngày 03 tháng 6 năm 2008
Quốc hội đã thông qua Luật thuế GTGT 2008. Thuế GTGT là thuế tiêu dùng nhằm
động viên một bộ phận thu nhập của người chịu thuế đã sử dụng để mua hàng hóa,
nhận dịch vụ.
Điều 2 Luật Thuế GTGT năm 2008 qui định: “Thuế GTGT là thuế thu trên
phần giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất,
lưu thông đến tiêu dùng”. Vì chỉ tính trên khoảng GTGT thêm của hàng hóa, dịch
vụ ở từng khâu bán hàng, không đánh vào phần giá trị đã chịu thuế ở khâu trước,
cho nên cách tính thuế GTGT là rất khoa học và cần thiết đối với phát triển sản
xuất theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa và phù hợp với yêu cầu hội nhập
quốc tế hiện nay ở nước ta.
2. Vai trò của Thuế GTGT:
Thuế GTGT không thu trùng lặp cho nên góp phần khuyến khích chuyên
môn hóa, hợp tác hóa để nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản phẩm,
góp phần khuyến khích mạnh mẽ việc sản xuất hàng xuất khẩu,vì hàng hóa xuất
khẩu chẳng những không chịu thuế GTGT ở khâu xuất khẩu mà còn được thoái trả
toàn bộ số thuế GTGT đã thu ở các khâu trước. Thuế GTGT được thực hiện thống
nhất và chặt chẽ theo nguyên tắc căn cứ vào hóa đơn mua, bán hàng để khấu trừ số
thuế đã nộp ở khâu trước Vì chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm, không tính vào
vốn, nên Thuế GTGT đã góp phần khuyến khích các tổ chức, cá nhân bỏ vốn ra để
đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế ở
nước ta trong thời gian tới. Ngoài ra Thuế GTGT được thu tập trung ngay ở khâu
Lớp NO6 –TL2- Nhóm 3 Page 3
Trường Đại học Luật Hà Nội
đầu tiên là khâu sản xuất hoặc khâu nhập khẩu hàng hóa và thu ở mỗi khâu đều có
thể kiểm tra được việc thu nộp thuế ở khâu trước, cho nên hạn chế được thất thu
hơn so với thuế doanh thu .
II. Thực tiễn áp dụng luật thuế giá trị gia tăng theo pháp luật hiện hành.
1. Những thành tựu cơ bản trong quá trình áp dụng thuế giá trị gia tăng.
Có thể thấy rằng, mặc dù ra đời muộn và còn khá mới mẻ so với các loại
thuế khác song pháp luật thuế GTGT ở Việt Nam hiện nay cơ bản đã đáp ứng được
những yêu cầu về lý luận của pháp luật thuế GTGT cả cấu trúc bên trong lẫn hình
thức biểu hiện bên ngoài. Cụ thể, các bộ phận hợp thành của pháp luật thuế GTGT
là tương đối đầy đủ và các nhóm quy phạm pháp luật này được biểu hiện dưới các
hình thức: Luật, Nghị quyết, Nghị định, Thông tư của các Cơ quan nhà nước có
thẩm quyền
Do điều kiện kinh tế xã hội ở nước ta đang trong giai đoạn quá độ nên các
quy định cuả pháp luật thuế GTGT luôn tính đến các giải pháp cho phù hợp với
tình hình cụ thể của đất nước nhằm áp dụng tốt nhất thuế GTGT như quy định hai
phương pháp tính thuế, mở rộng diện miễn giảm thuế…Chính vì lẽ đó, qua nhiều
năm triển khai thực hiện Luật thuế GTGT đã đạt được một số thành tựu đáng kể mà
thành tựu bao trùm nhất là đạt được những mục tiêu yêu cầu đặt ra trong Luật thuế
GTGT. Cụ thể là:
Thứ nhất, Luật thuế GTGT đã thể hiện được thái độ của nhà nước đối với tính
trung lập của thuế. Điều này được thể hiện ở chỗ những quy định của pháp luật
thuế GTGT đã tạo ra sự công bằng và bình đẳng giữa các đối tượng chịu thuế và
đối tượng chịu thuế. Các nhóm hàng hóa, dịch vụ chịu thuế đã được phân chia một
cách hợp lý và chịu mức thuế suất như nhau giữa các hàng hóa, dịch vụ có cùng
mục đích sử dụng. Cụ thể, mức thuế suất phổ biến là 10% áp dụng đối với hàng
hóa, dịch vụ thông thường, mức thuế suất 5% đối với các loại hàng hóa, dịch vụ ưu
đãi, khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất, các sản phẩm thiết yếu, sản phẩm
công nghiệp nặng, công nghiệp phục vụ nông nghiệp, dịch vụ công cộng, thuế suất
0% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu.
Thứ hai, Luật thuế GTGT đã đảm bảo ở mức độ nhất định nguyên tắc công
bằng và tính hiệu quả của hệ thống pháp luật. Tính công bằng có biểu hiện rất rõ
ràng thông qua nhưng quy định mang tính phổ biến về đối tượng nộp thuế, cơ sở
tính thuế. Việc quy định mức thuế suất thấp đối với các mặt hàng thiết yếu tạo cho
mọi đối tượng đều có khả năng tiêu dùng. Đối với những hàng hóa xa xỉ, Nhà nước
không khuyến khích tiêu dùng đã chịu thuế tiêu thụ đặc biệt lại vẫn tiếp tục phải
chịu thuế GTGT, đây đồng thời cũng là nhóm hàng hóa, dịch vụ có đối tượng tiêu
dùng là những người có thu nhập cao. Quy định như vậy là nhằm điều tiết thu nhập
của các tầng lớp trong xã hội theo nguyên tắc người có thu nhập thấp điều tiết thuế
thấp, người có thu nhập cao điều tiết thuế cao, góp phần đảm bảo công bằng xã hội.
Lớp NO6 –TL2- Nhóm 3 Page 4
Trường Đại học Luật Hà Nội
Với việc thực hiện tiêu chí công bằng, thực tiễn cho thấy sự chấp nhận ngày càng
rõ ràng của xã hội đối với loại thuế tiên tiến này.
Thứ ba, hệ thống pháp luật thuế GTGT đã tạo cơ sở pháp lý hình thành nguồn
thu ổn định, chiếm tỉ trọng ngày càng cao trong tổng thu từ thuế, phí và lệ phí. Việc
triển khai thực hiện Luật thuế GTGT bảo đảm động viên số thu cho NSNN không
giảm hơn so với thuế doanh thu, không làm ảnh hưởng lớn đến kế hoạch thu
NSNN.
Thứ tư, pháp luật thuế GTGT hiện hành mở rộng lưu thông hàng hóa và đẩy
mạnh xuất khẩu, bảo hộ sản xuất trong nước, sắp xếp, cơ cấu lại nền kinh tế. Theo
quy định của Luật thuế GTGT hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu được hưởng thuế suất
0% tức là được hoàn lại toàn bộ số thuế GTGT đã nộp ở đầu vào. Điều này giúp
cho doanh nghiệp xuất khẩu, tập trung được nguồn hàng trong nước để xuất khẩu
và có điều kiện cạnh tranh được với hàng hóa trên thị trường quốc tế .
Đặc biệt, luật thuế GTGT đã bước đầu tác động đến công tác quản lý của doanh
nghiệp, tăng cường công tác hạch toán kế toán và thúc đẩy việc mua bản hàng hóa
có hóa đơn chứng từ ở các doanh nghiệp. Thông qua việc chấp hành công tác kế
toán, hóa đơn chứng từ của các doanh nghiệp, qua việc kê khai thuế, hoàn thuế,
quyết toán thuế đã giúp cho cơ quan chức năng của Nhà nước và cơ quan thuế từng
bước nắm được sát hơn tình hình sản xuất kinh doanh cũng như tăng cường việc
kiểm trá giám sát đối với doanh nghiệp.
Như vậy, việc ban hành luật thuế GTGT thay cho thuế doanh thu là điều hết
sức cần thiết và hợp lý. Việc đưa thuế GTGT vào áp dụng tại Việt Nam là định
hướng đúng đắn của Đảng và Nhà nước, là bước đột phá lớn trong công cuộc cải
cách tài chính công. Sau hơn 11 năm thực hiện cho thấy thuế GTGT đã đi vào thực
tiễn cuộc sống, bước đầu việc điều chỉnh của pháp luật thuế GTGT đã đạt được
những hiệu quả nhất định. Đặc biệt, việc thực hiện luật thuế GTGT đã có những tác
động lớn đến đời sống kinh tế - xã hội nước ta, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp
luật thuế, phù hợp với kinh tế thị trường, tạo điều kiện mở rộng hợp tác kinh tế với
các nước trong khu vực và trên thế giới.
2. Những đánh giá về hệ thống pháp luật thuế GTGT ở Việt Nam
2.1: Những hạn chế của hệ thống pháp luật thuế GTGT sửa đổi năm 2003
Luật thuế GTGT năm 1997, trong quá trình triển khai thực hiện đã được sửa
đổi, bổ sung vào những năm đầu nhằm tháo gỡ kịp thời những vướng mắc phát
sinh, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của nước ta. Luật thuế GTGT đã đi vào
cuộc sống, tác động tích cực đến nhiều mặt kinh tế, xã hội của đất nước và đạt được
mục tiêu đề ra. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, Luật thuế GTGT còn
bộc lộ một số hạn chế cần được tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong tình hình mới:
Lớp NO6 –TL2- Nhóm 3 Page 5
Trường Đại học Luật Hà Nội
Thứ nhất, về diện hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế GTGT : Luật quy định
28 nhóm hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế GTGT . Quy định này là phù hợp với
điều kiện thực tiễn của nước ta thời gian qua, tuy nhiên trong quá trình thực hiện và
cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, một số hàng hoá, dịch
vụ nếu tiếp tục áp dụng không chịu thuế giá trị gia tăng sẽ không còn phù hợp, gây
bất lợi cho sản xuất kinh doanh, bởi vì doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh các hàng
hoá, dịch vụ không chịu thuế GTGT sẽ không được tính thuế GTGT cho người
mua, như vậy, toàn bộ số thuế GTGT đã trả khi mua các yếu tố đầu vào phục vụ
cho sản xuất kinh doanh sẽ không được khấu trừ mà phải tính vào giá thành sản
phẩm, từ đó làm tăng chi phí, giảm khả năng cạnh tranh của những hàng hoá, dịch
vụ này trên thị trường trong nước và quốc tế. Do đó, cần rà soát để chuyển sang đối
tượng chịu thuế nhằm đảm bảo tính liên hoàn của thuế GTGT và tạo thuận lợi hơn
cho cơ sở sản xuất, kinh doanh.
Để phù hợp với thông lệ quốc tế, Luật thuế GTGT quy định một số dịch vụ
tài chính cụ thể thuộc diện không chịu thuế GTGT nên trong thực tiễn thi hành,
cùng với quá trình hội nhập và sự phát triển của thị trường tài chính đã xuất hiện
ngày càng nhiều các dịch vụ tài chính mới chưa được quy định trong Luật, như:
dịch vụ hoán đổi lãi suất, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, quyền chọn mua,
bán ngoại tệ, (gọi chung là các dịch vụ tài chính phái sinh) và các giao dịch
chuyển nhượng vốn. Vì vậy, các dịch vụ tài chính mới này cần được bổ sung vào
Luật để đảm bảo cơ sở pháp lý trong quá trình thực hiện và phù hợp với thông lệ
quốc tế.
Thứ hai, về thuế suất thuế GTGT: Năm 1997, khi ban hành Luật thuế GTGT
, mức thuế suất 5% là mức thuế suất ưu đãi, được áp dụng đối với hàng hoá, dịch
vụ là đầu vào của sản xuất nông nghiệp hoặc phục vụ nhu cầu thiết yếu của người
dân. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, trước những khó khăn của nền kinh tế,
Luật thuế GTGT đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần để đáp ứng yêu cầu của thực
tiễn trong từng thời kỳ, theo đó, diện áp dụng mức thuế suất 5% cũng được mở
rộng và chưa theo đúng nguyên tắc nêu trên. Từ đó dẫn đến doanh nghiệp sản xuất,
kinh doanh một số hàng hoá, dịch vụ ở mức thuế suất này không những không phải
nộp thuế mà còn được hoàn thuế từ ngân sách Nhà nước, do đó, cần thiết rà soát lại
diện áp dụng mức thuế suất 5% để phù hợp với thực tiễn. Luật thuế GTGT vừa quy
định chi tiết danh mục hàng hoá, dịch vụ áp dụng mức thuế suất 5%, vừa quy định
chi tiết danh mục hàng hoá, dịch vụ áp dụng mức thuế suất 10%. Trong thực tế,
nhiều hàng hoá, dịch vụ mới phát sinh nhưng chưa có trong danh mục; mặt khác,
tiêu chí phân định ranh giới áp dụng mức thuế suất chưa rõ ràng: vừa theo tên hàng
hoá, dịch vụ, vừa theo công dụng hàng hoá, dịch vụ, vừa theo tính chất của hàng
hoá, dịch vụ, dẫn đến việc áp dụng mức thuế suất không thống nhất, nảy sinh
vướng mắc trong quá trình thực hiện. Ví dụ, sản phẩm cơ khí tiêu dùng áp dụng
mức thuế suất 10%, sản phẩm cơ khí là tư liệu sản xuất áp dụng mức thuế suất 5%,
trên thực tế có những sản phẩm cơ khí không thể phân định được rõ ràng là dùng
cho tiêu dùng hay dùng cho sản xuất.
Lớp NO6 –TL2- Nhóm 3 Page 6
Trường Đại học Luật Hà Nội
Thứ ba, về điều kiện được khấu trừ, được hoàn thuế. Khấu trừ, hoàn thuế là
việc doanh nghiệp được trừ hoặc được hoàn lại số thuế đã trả khi mua hàng hoá,
dịch vụ phục vụ cho sản xuất, kinh doanh. Đây là một nội dung cơ bản, đặc thù
riêng có, thể hiện tính ưu việt của thuế GTGT, từ đó đã khắc phục việc thu trùng
của thuế doanh thu trước đây, khuyến khích xuất khẩu. Luật thuế GTGT năm 1997
và sửa đổi, bổ sung quy định căn cứ khấu trừ, hoàn thuế GTGT đầu vào là hoá đơn
GTGT mua hàng hoá, dịch vụ. Thực tiễn quản lý thuế thời gian qua cho thấy quy
định nêu trên chưa đầy đủ, chưa chặt chẽ, dễ bị lợi dụng khấu trừ khống hoặc hoàn
thuế khống thông qua việc sử dụng hoá đơn ghi chép không trung thực với thực tế
giao dịch và các loại hoá đơn bất hợp pháp khác để gian lận trong khấu trừ, làm
giảm số thuế GTGT phải nộp hoặc tăng số thuế GTGT được hoàn khống rút tiền
ngân sách, gây bất bình đẳng về nghĩa vụ thuế giữa các đối tượng nộp thuế, ảnh
hưởng đến môi trường đầu tư. Trong thời gian vừa qua đã xuất hiện một loại tội
phạm kinh tế mới - tội phạm mua, bán, sử dụng hoá đơn bất hợp pháp để chiếm
đoạt tiền thuế giá trị gia tăng của Nhà nước như một số đối tượng đã lợi dụng sự
thông thoáng của Luật doanh nghiệp và quy định về điều kiện được khấu trừ thuế,
được hoàn thuế nêu trên để thành lập doanh nghiệp nhằm mục đích mua, bán hoá
đơn kiếm lời bất chính (doanh nghiệp ma) Để ngăn chặn tình trạng này, thời gian
qua các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan bảo vệ pháp luật, cơ quan thuế đã phối
hợp để tăng cường các biện pháp quản lý, như: phối hợp trong việc cung cấp thông
tin, điều tra, xử lý các vụ vi phạm,…; riêng cơ quan thuế đã áp dụng nhiều biện
pháp quản lý hóa đơn, như yêu cầu doanh nghiệp đóng dấu, mã số thuế trên hoá
đơn, kiểm tra đối chiếu hoá đơn giữa doanh nghiệp bán với các doanh nghiệp mua
và ngược lại, gây tốn kém nhiều thời gian và chi phí, nhưng mới chỉ hạn chế được
phần nào mà chưa thể chặn đứng được tình trạng gian lận nêu trên.
Thứ tư, về hình thức văn bản. Thuế GTGT được thể hiện tại 3 văn bản Luật
khác nhau là Luật thuế giá trị gia tăng năm 1997, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật thuế giá trị gia tăng năm 2003, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế giá trị gia tăng năm 2005. Mặt khác, năm
2006, Luật quản lý thuế (đã được Quốc hội thông qua, có hiệu lực từ 01 tháng 7
năm 2007) đã quy định các nội dung về quản lý thuế như đăng ký, kê khai, nộp
thuế, xử lý vi phạm để thay thế cho các quy định về quản lý thuế trong các luật,
pháp lệnh thuế đã được ban hành trước đây, trong đó có Luật thuế giá trị gia tăng.
Với nhiều văn bản Luật cùng quy định về thuế GTGT nên chưa tạo thuận lợi cho
việc tra cứu, áp dụng pháp luật.
Luật thuế giá trị gia tăng năm 2008 được xây dựng dựa trên các nguyên tắc, quan
điểm chỉ đạo như sau:
1. Đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phù hợp với thông lệ quốc tế và đáp ứng yêu cầu hội
nhập của Việt Nam trong những năm tới;
Lớp NO6 –TL2- Nhóm 3 Page 7
Trường Đại học Luật Hà Nội
2. Đảm bảo cho chính sách thuế đơn giản, rõ ràng, minh bạch, khắc phục những
hạn chế của Luật hiện hành, nhất là trong việc kê khai khấu trừ, hoàn thuế GTGT
đầu vào, góp phần thúc đẩy cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả công tác quản
lý thu thuế, tính tuân thủ pháp luật về thuế và đồng bộ với Luật quản lý thuế;
3. Từng bước thực hiện chương trình cải cách thuế; không gây biến động cho sản
xuất, kinh doanh;
4. Luật hoá những nội dung đã thực hiện ổn định sau 9 năm thi hành; trên cơ sở đó,
đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước
3. NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT THUẾ GTGT NĂM 2008.
1. Về kết cấu
Luật thuế giá trị gia tăng năm 2008 gồm 4 Chương và 16 Điều. Như vậy, so với
Luật thuế giá trị gia tăng năm 1997 (gồm 7 Chương và 30 Điều) thì Luật thuế giá
trị gia tăng năm 2008 đã giảm 14 Điều, tập trung vào các nội dung về thủ tục quản
lý thuế (đăng ký, kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế, nhiệm vụ, quyền hạn và trách
nhiệm của cơ quan thuế, quyền ấn định thuế, các quy định về xử lý vi phạm về
thuế, khen thưởng, quyền và trách nhiệm của đối tượng nộp thuế trong khiếu nại về
thuế, trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan thuế trong việc giải quyết khiếu nại về
thuế) và một số Điều về tổ chức thực hiện do đã được quy định tại Luật quản lý
thuế năm 2006.
Điều 1 Luật thuế giá trị gia tăng quy định về đối tượng chịu thuế, đối tượng
không chịu thuế, người nộp thuế, căn cứ và phương pháp tính thuế, khấu trừ và
hoàn thuế giá trị gia tăng. Đây là điều mới được quy định so với Luật thuế giá trị
gia tăng năm 1997. Trong đó, Luật đưa ra phạm vi điều chỉnh tương đối rõ ràng,
tập trung vào các quy định về chính sách thuế giá trị gia tăng, các quy định về thủ
tục quản lý thuế giá trị gia tăng do đã được quy định thống nhất tại Luật quản lý
thuế năm 2006 như các sắc thuế khác nên không đưa vào quy định tại Luật.
2.2. Về người nộp thuế
Luật quy định người nộp thuế giá trị gia tăng là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh
doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng (gọi chung là cơ sở kinh doanh)
và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hoá chịu thuế giá trị gia tăng (gọi chung là
người nhập khẩu). So với Luật thuế giá trị gia tăng năm 1997 thì khái niệm “người
nộp thuế” đã được thay thế cho khái niệm “đối tượng nộp thuế” để thống nhất với
quy định của Luật Quản lý thuế và phù hợp với xu hướng của quản lý thuế hiện đại.
2.3. Về đối tượng chịu thuế
Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng theo quy định tại Điều 3 của Luật là hàng hoá,
dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam, trừ các đối
tượng không chịu thuế quy định tại Điều 5 của Luật.
Lớp NO6 –TL2- Nhóm 3 Page 8
Trường Đại học Luật Hà Nội
2.4. Về đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng
So với 28 nhóm hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế giá trị gia quy định tại Luật
thuế giá trị gia tăng năm 1997 và sửa đổi, bổ sung thì tại Luật thuế GTGT năm
2008, đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng đã được rà soát, sửa đổi, bổ sung,
chuyển sang đối tượng chịu thuế nhằm đảm bảo tính liên hoàn của thuế GTGT và
tạo thuận lợi hơn cho cơ sở sản xuất, kinh doanh. Theo đó, quy định 25 nhóm hàng
hoá, dịch vụ không chịu thuế. Một số nội dung sửa đổi cơ bản như sau:
2.4.1. Đối với nhóm hàng hoá là máy móc, thiết bị, vật tư thuộc loại trong nước
chưa sản xuất được cần nhập khẩu để sử dụng trực tiếp cho hoạt động nghiên cứu
khoa học, phát triển công nghệ; máy móc, thiết bị, phụ tùng thay thế, phương tiện
vận tải chuyên dùng và vật tư thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cần nhập
khẩu để tiến hành hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển mỏ dầu, khí đốt; tàu bay,
dàn khoan, tàu thuỷ thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu tạo tài
sản cố định của doanh nghiệp, thuê của nước ngoài sử dụng cho sản xuất, kinh
doanh và để cho thuê:
Tại Khoản 4 Điều 4, Luật thuế giá trị gia tăng năm 1997 và sửa đổi, bổ sung quy
định: “Thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng trong dây chuyền công
nghệ và vật tư xây dựng thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu
để tạo tài sản cố định của doanh nghiệp; Thiết bị, máy móc, vật tư thuộc loại trong
nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu để sử dụng trực tiếp vào hoạt động nghiên
cứu khoa học và phát triển công nghệ; máy bay, dàn khoan, tàu thuỷ thuê của nước
ngoài thuộc loại trong nước chưa sản xuất được dùng cho sản xuất, kinh doanh;
thiết bị, máy móc, phụ tùng thay thế, phương tiện vận tải chuyên dùng và vật tư
thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu để tiến hành hoạt động tìm
kiếm thăm dò, phát triển mỏ dầu khí”; Tại thời điểm khi ban hành Luật thuế giá trị
gia tăng năm 1997 thì quy định này là phù hợp với điều kiện của nước ta. Tuy
nhiên, trong những năm gần đây, đã có nhiều dự án đầu tư có công nghệ mới vào
sản xuất máy móc, thiết bị, vật tư thay thế hàng nhập khẩu. Trên thực tế việc xác
định máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, vật tư loại trong nước chưa sản xuất
được để làm căn cứ xác định đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng ở khâu
nhập khẩu thường không kịp thời. Để đảm bảo công bằng, tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp trong nước chú trọng đầu tư vào hoạt động nghiên cứu - phát triển,
sản xuất ra những máy móc, thiết bị, vật tư mới cung cấp cho nền kinh tế và từng
bước chiếm lĩnh thị trường trong, ngoài nước, về nguyên tắc cần thiết chuyển nhóm
hàng hoá này sang đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng . Mặc dù vậy, đối với hoạt
động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ vẫn cần phải có cơ chế khuyến
khích, hỗ trợ thông qua không thu thuế giá trị gia tăng khâu nhập khẩu đối với
nhóm hàng hoá nêu trên sử dụng trực tiếp cho hoạt động này. Đối với hoạt động
tìm kiếm, thăm dò phát triển mỏ dầu khí do sử dụng máy móc, thiết bị, phụ tùng
thay thế, phương tiện vận tải chuyên dùng có giá trị lớn, trong nước chưa có khả
năng sản xuất được, trong khi sản phẩm đầu ra là dầu thô xuất khẩu thuộc đối
Lớp NO6 –TL2- Nhóm 3 Page 9
Trường Đại học Luật Hà Nội
tượng không chịu thuế, doanh nghiệp không được khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia
tăng đầu vào nên cần thiết tiếp tục duy trì ở diện không chịu thuế.
Vì vậy, tại khoản 17, Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng năm 2008 đã đưa ra nội
dung sửa đổi như sau:
“ Máy móc, thiết bị, vật tư thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu
để sử dụng trực tiếp cho hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ; máy
móc, thiết bị, phụ tùng thay thế, phương tiện vận tải chuyên dùng và vật tư thuộc
loại trong nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu để tiến hành hoạt động tìm kiếm,
thăm dò, phát triển mỏ dầu, khí đốt; tàu bay, dàn khoan, tàu thuỷ thuộc loại trong
nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu tạo tài sản cố định của doanh nghiệp, thuê
của nước ngoài sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và để cho thuê.”
2.4.2. Đối với nhóm hàng hoá, dịch vụ là hoạt động văn hoá, triển lãm và thể dục,
thể thao; biểu diễn nghệ thuật; sản xuất phim; nhập khẩu, phát hành và chiếu phim
nhựa, phim vi-đi-ô tài liệu; điều tra, thăm dò địa chất, đo đạc, lập bản đồ thuộc loại
điều tra cơ bản của Nhà nước:
Tại Khoản 10, Khoản 17, Điều 4, Luật thuế giá trị gia tăng năm 1997 và sửa đổi, bổ
sung quy định: “Hoạt động văn hoá, triển lãm và thể dục, thể thao; biểu diễn nghệ
thuật; sản xuất phim; nhập khẩu, phát hành và chiếu phim nhựa, phim vi-đi-ô tài
liệu”; “Điều tra, thăm dò địa chất, đo đạc, lập bản đồ thuộc loại điều tra cơ bản của
Nhà nước” thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng . Quy định này là phù
hợp với thực tiễn thời gian qua vì các hoạt động này chủ yếu do các đơn vị sự
nghiệp thực hiện bằng nguồn kinh phí ngân sách nhà nước. Đến nay, thực hiện chủ
trương xã hội hoá, Nhà nước khuyến khích các đơn vị sự nghiệp chuyển sang hoạt
động theo mô hình doanh nghiệp, thực hiện cung cấp hàng hoá, dịch vụ theo
phương thức Nhà nước đặt hàng, đồng thời khuyến khích và tạo điều kiện để các
doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia bỏ vốn đầu tư. Việc tiếp tục
áp dụng không chịu thuế đối với những hàng hoá, dịch vụ này sẽ không còn phù
hợp, không khuyến khích doanh nghiệp bỏ vốn đầu tư, ảnh hưởng đến chủ trương
xã hội hoá.
Do đó, tại Luật thuế giá trị gia tăng năm 2008 hai nhóm hàng hoá, dịch vụ nêu trên
đã được chuyển vào diện chịu thuế để đảm bảo tính liên hoàn của thuế giá trị gia
tăng, doanh nghiệp kinh doanh các hàng hoá, dịch vụ này được khấu trừ thuế giá trị
gia tăng đầu vào, giảm chi phí, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh. Trường hợp
cung cấp hàng hoá, dịch vụ theo phương thức Nhà nước đặt hàng thì Nhà nước bố
trí đủ kinh phí để doanh nghiệp nộp thuế.
2.4.3. Đối với nhóm hàng hoá, dịch vụ là vận tải quốc tế; hàng hóa, dịch vụ cung
ứng trực tiếp cho vận tải quốc tế:
Tại Khoản 22 Điều 4, Luật thuế giá trị gia tăng năm 1997 và sửa đổi, bổ sung quy
định: “Vận tải quốc tế; hàng hóa, dịch vụ cung ứng trực tiếp cho vận tải quốc tế”
Lớp NO6 –TL2- Nhóm 3 Page 10
Trường Đại học Luật Hà Nội
thuộc diện không chịu thuế. Quy định này là phù hợp với thực tiễn thời gian qua do
năng lực vận tải quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế. Đến nay, đội
tàu vận tải quốc tế của Việt Nam đã phát triển, nếu tiếp tục áp dụng không chịu
thuế thì doanh nghiệp không được khấu trừ thuế đầu vào mà phải tính vào chi phí
làm tăng giá cước vận tải, từ đó, hạn chế khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp vận
tải Việt Nam với các hãng vận tải nước ngoài.
Vì vậy, tại Luật thuế giá trị gia tăng năm 2008 đã chuyển “Vận tải quốc tế” sang
đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng với thuế suất 0% (quy định tại khoản 1, Điều 8
của Luật); hàng hoá, dịch vụ cung cấp trực tiếp cho vận tải quốc tế sang đối tượng
chịu thuế giá trị gia tăng với thuế suất tương ứng của từng hàng hoá, dịch vụ.
2.4.4. Đối với nhóm dịch vụ là chuyển nhượng vốn và các dịch vụ tài chính phái
sinh:
Để phù hợp với thông lệ quốc tế, Luật thuế giá trị gia tăng năm 1997 và sửa đổi,
bổ sung đã quy định một số dịch vụ tài chính cụ thể thuộc diện không chịu thuế giá
trị gia tăng . Tuy nhiên, trong thực tiễn thi hành, cùng với quá trình hội nhập và sự
phát triển của thị trường tài chính đã xuất hiện nhiều các dịch vụ tài chính mới chưa
được quy định trong Luật, như: dịch vụ hoán đổi lãi suất, hợp đồng kỳ hạn, hợp
đồng tương lai, quyền chọn mua, bán ngoại tệ, (gọi chung là các dịch vụ tài chính
phái sinh) và các giao dịch chuyển nhượng vốn. Vì vậy, tại Luật thuế giá trị gia
tăng năm 2008 đã có quy định bổ sung Chuyển nhượng vốn và các dịch vụ tài
chính phái sinh vào diện không chịu thuế giá trị gia tăng để đảm bảo bao quát được
các dịch vụ mới phát sinh, phù hợp với thông lệ quốc tế. Cụ thể tại khoản 8, Điều 5
Luật thuế giá trị gia tăng năm 2008 có quy định:
“8. Dịch vụ cấp tín dụng; kinh doanh chứng khoán; chuyển nhượng vốn; dịch vụ tài
chính phái sinh, bao gồm hoán đổi lãi suất, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai,
quyền chọn mua, bán ngoại tệ và các dịch vụ tài chính phái sinh khác theo quy định
của pháp luật”.
Các dịch vụ chuyển nhượng vốn, dịch vụ tài chính phái sinh khi cung cấp ra nước
ngoài cũng không được áp dụng thuế suất 0% (quy định tại khoản 1, Điều 8 Luật
thuế giá trị gia tăng năm 2008).
2.5. Về thuế suất
2.5.1. Mức thuế suất 0%:
Dịch vụ vận tải quốc tế được bổ sung vào đối tượng áp dụng thuế suất 0% để
khuyến khích phát triển hoạt động vận tải quốc tế của doanh nghiệp Việt Nam và
phù hợp với thông lệ quốc tế.
Nội dung sửa đổi được thể hiện tại khoản 1, Điều 8 Luật thuế giá trị gia tăng năm
2008:
Lớp NO6 –TL2- Nhóm 3 Page 11
Trường Đại học Luật Hà Nội
“1. Mức thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, vận tải quốc tế
và hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế giá trị gia tăng quy định tại Điều 5 của Luật
này khi xuất khẩu, trừ các trường hợp chuyển giao công nghệ, chuyển nhượng quyền
sở hữu trí tuệ ra nước ngoài; dịch vụ tái bảo hiểm ra nước ngoài; dịch vụ cấp tín
dụng, chuyển nhượng vốn, dịch vụ tài chính phái sinh; dịch vụ bưu chính, viễn
thông; sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa qua chế biến
quy định tại khoản 23 Điều 5 của Luật này.”
2.5.2. Mức thuế suất 5%:
Khi ban hành Luật thuế giá trị gia tăng mức thuế suất 5% chỉ áp dụng đối với các
hàng hoá, dịch vụ phục vụ nhu cầu thiết yếu của người dân hoặc là đầu vào của sản
xuất nông nghiệp, như: nước sạch, thuốc chữa bệnh, dụng cụ y tế, giáo cụ phục vụ
giảng dạy và học tập; các mặt hàng sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản chưa qua chế
biến ở khâu thương mại; phân bón, thuốc trừ sâu và chất kích thích tăng trưởng vật
nuôi, cây trồng, thức ăn gia súc và dịch vụ trực tiếp phục vụ sản xuất nông nghiệp.
Trong quá trình thực hiện do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ
Châu Á, một số doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh những mặt hàng đang áp dụng
mức thuế suất 10% gặp khó khăn về tiêu thụ hàng hoá do sức mua xã hội giảm sút.
Để tháo gỡ khó khăn, Chính phủ đã trình Quốc hội điều chỉnh một số hàng hoá,
dịch vụ từ mức thuế suất 10% xuống mức 5%, như: xây dựng lắp đặt; que hàn, dây
cáp điện dùng cho điện áp từ 600V trở lên; sản phẩm cơ khí là tư liệu sản xuất;
khuôn đúc các loại; ván ép nhân tạo; sản phẩm bê tông công nghiệp gồm dầm cầu
bê tông, dầm và khung nhà bê tông, cọc bê tông, cột điện bê tông, ống cống tròn bê
tông, hộp bê tông các loại, pa-nen và các loại cấu kiện bê tông cốt thép đúc sẵn phi
tiêu chuẩn, bê tông thương phẩm; lốp và bộ săm lốp cỡ từ 900-20 trở lên, ). Đến
năm 2003, tình hình kinh tế đã phục hồi và phát triển ổn định, theo đề nghị của
Chính phủ, Quốc hội đã quyết định đưa một số hàng hoá, dịch vụ ở mức thuế suất
5% trở lại mức thuế suất 10%, như: xây dựng lắp đặt; que hàn, dây cáp điện dùng
cho điện áp từ 600V trở lên. Việc điều chỉnh này là từng bước thực hiện Chương
trình cải cách thuế và phù hợp với thực tiễn nước ta.
Thực tiễn những năm qua cho thấy: các doanh nghiệp sản xuất hàng hoá, dịch vụ
đã được điều chỉnh thuế suất từ 5% sang 10% có tình hình sản xuất, kinh doanh
phát triển, hiệu quả kinh doanh tốt, một số hàng hoá, dịch vụ hiện đang áp dụng
thuế suất 5% cũng có kết quả sản xuất, kinh doanh tốt và cần xem xét để chuyển
sang mức thuế suất 10%. Việc chuyển trở lại mức thuế suất 10% đối với những
hàng hoá, dịch vụ này nhằm đảm bảo tính liên hoàn của thuế giá trị gia tăng, hạn
chế các trường hợp phải hoàn thuế do có mức thuế suất đầu vào lớn hơn mức thuế
suất đầu ra.
Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế - xã hội nước ta hiện nay cần thiết tiếp tục duy
trì mức thuế suất 5% đối với hàng hoá, dịch vụ là đầu vào của sản xuất nông nghiệp
hoặc hàng hoá, dịch vụ phục vụ nhu cầu thiết yếu của người dân bởi các lý do sau:
Lớp NO6 –TL2- Nhóm 3 Page 12
Trường Đại học Luật Hà Nội
Thứ nhất, sản phẩm nông nghiệp do cơ sở trực tiếp sản xuất bán ra thuộc diện
không chịu thuế giá trị gia tăng nên không được khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng
đầu vào, vì vậy, cần tiếp tục duy trì ở mức thuế suất 5% đối với một số hàng hoá,
dịch vụ đầu vào phục vụ cho sản xuất nông nghiệp trong một thời gian nữa để góp
phần giảm giá thành, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp trên thị
trường;
Thứ hai, trong giai đoạn đầu hội nhập lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn theo dự báo
sẽ bị tác động mạnh, đặc biệt trong điều kiện hiệu quả sản xuất nông nghiệp ở nước
ta chưa cao, thu nhập và mức sống của người dân, nhất là nông dân còn thấp. Mặt
khác, theo cam kết với Tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì nhiều sản phẩm
nông nghiệp được tiếp tục duy trì chính sách bảo hộ trong thời hạn 5 năm kể từ
ngày gia nhập WTO;
Thứ ba, hiện nay mặt bằng giá thế giới một số vật tư nguyên liệu là đầu vào của
sản xuất , nhất là đầu vào của sản xuất nông nghiệp tăng mạnh, từ đó ảnh hưởng
lớn đến giá thành sản phẩm sản xuất trong nước, đời sống của người dân.
Việc điều chỉnh thuế suất từ mức 5% sang 10% chủ yếu là đối với hàng hoá, dịch
vụ là đầu vào của sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp sẽ được kê khai khấu trừ,
hoàn thuế đầu vào khi xác định số thuế phải nộp, do đó, không tác động lớn đến
hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Nội dung sửa đổi được thể hiện tại khoản 2, Điều 8 Luật thuế giá trị gia tăng năm
2008, cụ thể như sau:
“2. Mức thuế suất 5% áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ sau đây:
a) Nước sạch phục vụ sản xuất và sinh hoạt;
b) Phân bón; quặng để sản xuất phân bón; thuốc phòng trừ sâu bệnh và chất kích
thích tăng trưởng vật nuôi, cây trồng;
c) Thức ăn gia súc, gia cầm và thức ăn cho vật nuôi khác;
d) Dịch vụ đào đắp, nạo vét kênh, mương, ao hồ phục vụ sản xuất nông nghiệp; nuôi
trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh cho cây trồng; sơ chế, bảo quản sản phẩm
nông nghiệp;
đ) Sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản chưa qua chế biến, trừ sản phẩm quy
định tại khoản 1 Điều 5 của Luật này;
e) Mủ cao su sơ chế; nhựa thông sơ chế; lưới, dây giềng và sợi để đan lưới đánh cá;
g) Thực phẩm tươi sống; lâm sản chưa qua chế biến, trừ gỗ, măng và sản phẩm quy
định tại khoản 1 Điều 5 của Luật này;
h) Đường; phụ phẩm trong sản xuất đường, bao gồm gỉ đường, bã mía, bã bùn;
Lớp NO6 –TL2- Nhóm 3 Page 13
Trường Đại học Luật Hà Nội
i) Sản phẩm bằng đay, cói, tre, nứa, lá, rơm, vỏ dừa, sọ dừa, bèo tây và các sản
phẩm thủ công khác sản xuất bằng nguyên liệu tận dụng từ nông nghiệp; bông sơ
chế; giấy in báo;
k) Máy móc, thiết bị chuyên dùng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, bao gồm máy
cày, máy bừa, máy cấy, máy gieo hạt, máy tuốt lúa, máy gặt, máy gặt đập liên hợp,
máy thu hoạch sản phẩm nông nghiệp, máy hoặc bình bơm thuốc trừ sâu;
l) Thiết bị, dụng cụ y tế; bông, băng vệ sinh y tế; thuốc phòng bệnh, chữa bệnh; sản
phẩm hóa dược, dược liệu là nguyên liệu sản xuất thuốc chữa bệnh, thuốc phòng
bệnh;
m) Giáo cụ dùng để giảng dạy và học tập, bao gồm các loại mô hình, hình vẽ, bảng,
phấn, thước kẻ, com-pa và các loại thiết bị, dụng cụ chuyên dùng cho giảng dạy,
nghiên cứu, thí nghiệm khoa học;
n) Hoạt động văn hoá, triển lãm, thể dục, thể thao; biểu diễn nghệ thuật; sản xuất
phim; nhập khẩu, phát hành và chiếu phim;
o) Đồ chơi cho trẻ em; sách các loại, trừ sách quy định tại khoản 15 Điều 5 của
Luật này;
p) Dịch vụ khoa học, công nghệ theo quy định của Luật khoa học và công nghệ.”
2.5.3. Mức thuế suất 10%:
Để đảm bảo đơn giản, dễ áp dụng, khắc phục được những tồn tại của Luật thuế giá
trị gia tăng năm 1997 và sửa đổi, bố sung do ở mức thuế suất nào cũng quy định
danh mục hàng hoá, dịch vụ cụ thể, khi phát sinh hàng hoá, dịch vụ mới chưa có
tên trong danh mục thì doanh nghiệp lúng túng trong việc áp dụng thuế suất, đề
nghị không liệt kê các nhóm hàng hoá, dịch vụ áp dụng mức thuế suất 10% mà sử
dụng phương pháp loại trừ, theo đó, hàng hoá, dịch vụ áp dụng thuế suất 10% là
các hàng hoá, dịch vụ còn lại không thuộc diện áp dụng các mức thuế suất 0%, 5%.
Nội dung sửa đổi được thể hiện tại khoản 3, Điều 8 Luật thuế giá trị gia tăng năm
2008, cụ thể như sau: “3. Mức thuế suất 10% áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ
không quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.”
2.6. Về khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào quy định tại Điều 12 Luật thuế giá trị
gia tăng năm 2008
- Bỏ quy định thời hạn tối đa được kê khai thuế giá trị gia tăng đầu vào 3 tháng kể
từ tháng phát sinh để phù hợp với nội dung tại khoản 1, Điều 34 Luật quản lý thuế
là: “Trước khi cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế tại trụ
sở người nộp thuế, người nộp thuế phát hiện hồ sơ khai thuế đã nộp có sai sót gây
ảnh hưởng đến số thuế phải nộp thì được khai bổ sung hồ sơ khai thuế”. Quy định
Lớp NO6 –TL2- Nhóm 3 Page 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét