Đây là một loại hình đầu tư, trong đó các bên tham gia hợp đồng ký kết
thoả thuận để tiến hành một hoặc nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước
nhận đầu tư trên cơ sở quy định rõ đối tượng, nội dung kinh doanh, nghĩa vụ,
trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho các bên tham gia.
Theo Luật khuyến khích đầu tư nước ngoài tại nước CHDCND Lào,
hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh là hợp tác kinh
doanh giữa pháp nhân trong nước với pháp nhân nước ngoài mà không thành
lập một pháp nhân mới tại nước CHCDND Lào
Mục đích, hình thức hợp tác, điều khoản kinh doanh, quyền , nghĩa vụ,
trách nhiệm và lợi ích của mỗi bên phải được quy định trong hợp đồng.
Ưu điểm:
- Đây là hình thức phổ biến trong đầu tư nước ngoài.
- Trên cơ sở cùng sở hữu về vốn góp, cùng quản lý, cùng phân phối
lợi nhuận, cùng gánh chịu rủi ro. Do đó các bên tận dụng được lợi thế của
nhau. Nước tiếp nhận đầu tư có điều kiện tiếp thu các công nghệ tiên tiếnhiện
đại, học gỏi kinh nghiệm quản lý, trình độ quản lý kinh tế, kỹ thuật của nước
ngoài để nâng cao trình độ cho đọi ngũ cán bộ quản lý, công nhân kỹ thuật
của nước mình nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ giá thành sản
phẩm, từ đó góp phàn thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước, hội nhập vào kinh
tế khu vực và thế giới.
- Đối với nước nhận đầu tư hình thức này đảmbảo được vai trò kinh
tế của nhà nước đó là quản lý, kiểm soát đối với hoạt động đầu tư.
Nhược điểm:
- Thông thường thì đối tác nước ngoài có công nghệ hiện đại, kỹ thuật
tiên tiến và kinh nghiệm quản lý hơn nước sở tại mặt khác quá trình hoạt động
được tiến hành giữa các bên có sự bất đồng về ngôn ngữ, khác nhau về văn
hoá, về chế độ chính trị, về hệ thống luật pháp….Nên nếu không có sự thống
5
nhất sẽ dễ xảy ra mâu thuẫn trong quá trình điều hành sản xuất kinh doanh,
tranh chấp quyền lợi và nước sở tại dễ bị thua thiệt do trình độ cán bộ tham
gia liên doanh, năng lục cán bộ quản lý.
1.3.2 Doanh nghiệp có vốn hỗn hợp (công ty cổ phần, công ty liên doanh):
Đây là hình thức doanh nghiệp có các bên nước ngoài và nước chủ nhà
cùng góp vốn, cùng kinh doanh, cùng thưởng lợi và chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ
vốn góp. Thông thường nhà đầu tư không được góp ít hơn một tỷ lệ đã được
trong luật của nước nhận đầu tư.
Theo Luật khuyến khích đầu tư nước ngoài tại CHDCND Lào, doanh
nghiệp có vốn hỗn hợp là liên doanh đã thành lập và lập biên bản đăng ký
theo luật của nước CHDCND Lào có sự hoạt động kinh doanh và uỷ quyền
chung giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đàu tư trong nước. Tổ chức, quản
lý, hoạt động và hợp tác giữa nhà đầu tư trong liên doanh có giới hạn hợp
đồng giữa hai bên và nội quy của liên doanh đó.
Riêng nhà đầu tư nước ngoài đầu tư trong liên doanh cần góp vốn tối
thiểu 30% của tổng vốn đăng ký.
Góp vốn ngoại tệ phải thanh toán bằng tiền Kíp theo tỷ giá ngân hàng
CHDCND Lào trong ngày góp vốn.
Ưu điểm:
- Vì đây là hình thức liên kết kinh doanh giữa đối tác trong nước với nhà
đầu tư nước ngoài, trong đó các bên giữ nguyên tư cách pháp nhân nên hình
thức này có tính khả năng độc lập cao giữa các bên, phát huy thế mạnh của
mỗi bên, các bên không phải chịu trách nhiệm liên đới, nâng cao trình độ
chuyên môn và trình độ quản lý cho cán bộ, tạo them việc làm cho người lao
động.
Nhược điểm:
6
- Do có tính độc lập giữa các bên nên khó quản lý, điều phối công việc,
máy móc thường được đầu tư ở mức lạc hậu.
1.3.3 Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài:
Đây là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài (tổ chức
hoặc cá nhân nước ngoài) do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại nước chủ
nhà, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh.
Theo luật về khuyến khích ĐTNN tại CHDCND Lào doanh nghiệp 100%
vốn nước ngoài là doanh nghiệp của người nước ngoài đầu tư tại CHDCND
Lào. Sự thành lập doanh nghiệp có thể thành lập pháp nhân mới hoặc thành
lập chi nhánh của doanh nghiệp nước ngoài.
Vốn đăng ký của doanh nghiệp ĐTNN tối thiểu phải bằng 30% tổng vốn hoạt
động. Trong toàn bộ thời gian hoạt động, giá trị tài sản của doanh nghiệp
không được nhỏ hơn vốn đăng ký.
Ưu điểm:
- Hình thức này đảm bảo tính độc lập tự chủ của nhà đầu tư. Họ không bị
lệ thuộc, chia sẻ quyền lợi với một bên nào khác, do đó dự án được triển khai
nhanh, hoạt động có hiệu quả, nhanh thu hồi vốn và có lãi.
- Đây là hình thức mà nhà đầu tư nước ngoài bỏ 100% vốn, nước sở tại
không pgải bỏ vốn, không tham gia trực tiếp quản lý mà NSNN vẫn có được
nguồn thu từ hoạt động của doanh nghiệp này đồng thời giải quyết được việc
làm cho người lao động.
Nhược điểm:
- Đối với nước đầu tư thì lĩnh vực kinh doanh bị hạn chế hơn do nước sở
tại không cho phép và nếu nhà đầu tư không hiểu rõ về chính sách – pháp
luật, văn hoá, chính trị, nguồn lao động, thị trường của nước sở tại thì rất dễ bị
thiệt hại, gặp nhiều trắc trở trong kinh doanh.
7
- Đối với nước nhận đầu tư: Sẽ phải đối phó với một những hiện tượng
tiêu cực do nhà đầu tư nước ngoài mang lại, một số ngành nghề, lĩnh vực bị
chi phối vì mục tiêu của nhà đầu tư là lợi nhuận tối đa. Do nước sở tại không
được tham gia hoạt động kinh doanh nên các nhà quản lý rất khó kiểm tra,
kiểm soát mọi hoạt động của doanh nghiệp này. Nếu hình thức này được thực
hiện tràn lan nó sẽ kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp trong nước vì các
doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài có tiềm lực vốn lớn, có nhiều kinh
nghiệm trong chiến lược kinh doanh.
1.4. Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò hết sức quan trọng đối với
phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia, nó tác động trực tiếp đến mọi mặt
của đời sống, kinh tế - xã hội và chính trị của nước tiếp nhận đầu tư. Về mặt
kinh tế, vốn FDI tác động đến tốc độ tăng của GDP, cán cân thanh toán, phúc
lợi xã hội, thu nhập người lao động và các chỉ tiêu kinh tế khác. Về mặt xã
hội, vốn FDI có tác động đến văn hoá, đạo đức của nước nhận vốn.
1.4.1. Đối với nước đi đầu tư
- Thông qua FDI, chủ đầu tư có thể khai thác lợi thế so sánh của nước tiếp
nhận đầu tư, nhờ việc giảm giá nhân công, chi phí vận chuyển, chi phí sản
xuất khác và thuế… chủ đầu tư có thể giảm được giá thành sản phẩm, nâng
cao sức cạnh tranh quốc tế, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng như lợi
nhuận của vốn đầu tư, đồng thời giảm bớt rủi ro đã đầu tư so với chỉ tập trung
vào sản xuất trong nước.
- Thông qua FDI, chủ đầu tư có thể kéo dài chu kỳ sống của máy móc,
thiết bị trong nước, bằng cách di chuyển những máy móc thiết bị đã lạc hậu,
đã khấi hao sang các quốc gia khác để tiếp tuck sử dụng.
- FDI giúp bên đầu tư tạo lập nguồn nguyên liệu dồi dào, ổn định, đáp
ứng nhu cầu đầu vào của sản xuất và giá giả phải chăng.
8
- FDI giúp các nước chủ đầu tư tăng them sức mạnh vè kinh tế và nâng
cao uy tín chính trị trên trường quốc tế. Thông qua xây dựng nhà máy sản
xuất vào thị trường tiêu thụ ở nước ngoài, thâm nhập vào các quốc gia tiếp
nhận đầu tư, tránh được hàng rào thuế quan và phi thuế quan.
Tuy nhiên, nhà đầu tư cần phải nắm vững chính sách- luật pháp, điều
kiện kinh tế - xã hội, nhạy bén với tình hình chính trị và văn hoá của nước
nhận vốn nếu không muốn gặp trắc trở trong hoạt động đầu tư và để có thể
thu được lợi ích tối đa trong kinh doanh
1.4.2. Đối với nước nhận đầu tư
- Xét về nhu cầu vốn, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được coi là một
nguồn vốn bổ sung quan trọng cho vốn đầu tư trong nước, nhằm đáp ứng nhu
cầu đầu tư cho phát triển.
Tình trạng thiếu hụt vốn đầu tư là phổ biến và ở nhiều lĩnh vực, là một
vấn đề nan giải trong quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia nghèo và
đang phát triển. Trong khi đó, vốn là cơ sở để tạo ra việc làm trong nước, đổi
mới công nghệ, kỹ thuật, tăng năng suất lao động…từ đó tiền đề tăng thu
nhập, tăng tích luỹ cho sự phát triển của xã hội.
Bên cạnh việc bổ sung vốn, đầu tư trực tiếp nước ngoài còn tác động
tích cực đến thi trường tài chính của nước nhận đầu tư, thúc đẩy sự hình thành
các thể chế tài chính mới như ngân hàng, thị trường chứng khoán…để tạo
nguồn cho hoạt động đầu tư.
- Việc tiếp nhận vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại một lợi ích lâu
dài cho nước sở tại như các công nghệ kỹ thuật hiện đại, kỹ xảo chuyên môn
và học tập kinh nghiệm quản lý tiên tiến.
Các nước đang phát triển do điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, khoa
học, kỹ thuật và công nghệ vẫn chưa phát triển dẫn đến năng suất lao động
thấp, chất lượng sản phẩm kém. Phần lớn công nghệ mới, hiện đại có được ở
9
các nước này đều bắt nguồn từ nước ngoài bằng các con đường khác nhau.
Trong đó đầu tư trực tiếp nước ngoài được coi là một kênh quan trọng để có
được công nghệ cao từ bên ngoài. Nhà đầu tư nước ngoài còn đưa chuyên gia
hoặc đào tạo cán bộ bản xứ về các lĩnh vực cần thiết phục vụ cho hoạt động
của dự án. Điều đó giúp nước nhận vốn vừa nhận được vốn bằng tiền vừa
nhận được cả máy móc, công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến của nước
ngoài. Điều đó sẽ giúp cho người lao động bản địa học tập được kỹ năng, tích
luỹ được kinh nghiệm, nâng cao kiến thức thực hành trong quá trình sản xuất,
vận hành công nghệ và các hoạt động quản lý, tiếp cận thị trường. Thu hút
FDI từ các công ty đa quốc gia sẽ giúp một nước có cơ hội tiếp thu công nghệ
và bí quyết quản lý kinh doanh mà các công ty này đã tích lũy và phát triển
qua nhiều năm và bằng những khoản chi phí lớn. Tuy nhiên, việc phổ biến các
công nghệ và bí quyết quản lý đó ra cả nước thu hút đầu tư còn phụ thuộc rất
nhiều vào năng lực tiếp thu của đất nước.
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần không ít vào việc thúc đẩy quá
trình tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư,
đặc biệt là đối với nước đang phát triển: tăng năng lực sản xuất, thúc đẩy xuất
khẩu, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, tránh được nợ nước ngoài so với
các loại hình đầu tư từ các nguồn vốn khác như tín dụng quốc tế, hỗ trợ chính
thức(ODA)…, nhiều ngành nghề mới được xuất hiện, tỷ trọng vốn đầu tư vào
tài sản cố định ngày càng tăng
- FDI tạo cơ hội cho các doanh nghiệp và người tiêu dùng trong nước có
thể tiếp cận được với thị trường quốc tế thông qua các liên doanh với nước
ngoài và thị trường rộng lớn của họ.
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động đến lĩnh vực giáo dục, đào tạo của
đội ngũ lao động, góp phần tạo công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng
thu nhập cho người lao động, qua đó nâng cao đời sống nhân dân. Vì một
10
trong những mục đích của FDI là khai thác các điều kiện để đạt được chi phí
sản xuất thấp, nên xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ thuê mướn nhiều lao
động địa phương. Thu nhập của một bộ phận dân cư địa phương được cải
thiện sẽ đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của địa phương. Trong quá
trình thuê mướn đó, đào tạo các kỹ năng nghề nghiệp, mà trong nhiều trường
hợp là mới mẻ và tiến bộ ở các nước đang phát triển thu hút FDI, sẽ được xí
nghiệp cung cấp. Điều này tạo ra một đội ngũ lao động có kỹ năng cho nước
thu hút FDI. Không chỉ có lao động thông thường, mà cả các nhà chuyên môn
địa phương cũng có cơ hội làm việc và được bồi dưỡng nghiệp vụ ở các xí
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Tuy nhiên, ngoài những vai trò tích cực mà FDI mang lại, nước tiếp
nhận đầu tư cũng gặp phải không ít khó khăn, đó là:
- Chi phí của việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài thường cao hơn so với
các nguồn vốn đầu tư khác từ nước ngoài.
- Nếu không có quy hoạch cụ thể và khoa học, sẽ có thể dẫn tới đầu tư
tràn lan, khai thác không có hiệu quả nguồn tài nguyên, gây ô nhiễm môi
trường.
- Với mong muốn thu hút được nhiều vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
hơn, nước tiếp nhận đầu tư thường áp dụng nhũng ưu đãi với các nhà đầu tư
như giảm hoặc miễn một số loại thuế, phí trong nước. Điều này dẫn tới lợi ích
của nước tiếp nhận đầu tư đôi khi bị thất thoát, lợi ích của nhà đầu tư đôi khi
vượt quá lợi ích của nước tiếp nhận đầu tư.
- Nhà đầu tư, với xu hướng đưa công nghệ lạc hậu vào các nước tiếp nhận
đầu tư với đơn giá cao là một trong những nguyên nhân chi phí sản xuất cao,
chất lượng sản phẩm không đạt tiêu chuẩn mục tiêu, làm mất đi khả năng
cạnh tranh, giảm hiệu quả sản xuất, kìm hãm phát triển nền kinh tế và nguy cơ
biến nước tiếp nhận đầu tư trở thành bãi thải công nghệ của quốc gia khác.
11
- Nước tiếp nhận đầu tư còn thiếu đội ngũ cán bộ có kinh nghiệm quản lý
dẫn đến thua thiệt trong dự án liên doanh, hợp tác. Điều đó có thể gây sức ép
về kinh tế thậm chí về chính trị cho nước tiếp nhận đầu tư.
1.5 Các yếu tố tác động đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.5.1. Sự ổn định về chính trị
Yếu tố hấp dẫn hàng đầu đối với các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài là
yếu tố môi trường chính trị ổn định. Bởi đây là điều kiện ảnh hưởng đến mức
độ rủi ro của đồng vốn mà nhà đầu tư nước ngoài bỏ ra, những bất đồng về
chính trị - xã hội sẽ ảnh hưởng lớn đến khả năng sản xuất và tiêu thụ trên thị
trường trong nước, gây tác động không nhỏ đến các nhà đầu tư, thậm chí có
thể dẫn cho nhà đầu tư bị phá sản. Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động
kinh doanh trong môi trường xa lạ, vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài
nên các nhà đầu tư nước ngoài rất sợ tài sản của họ bị nước chủ nhà tịch thu
quốc hữu hoá. Vậy, chính trị ổn định sẽ dẫn đến nền kinh tế- xã hội ổn định
có nghĩa là vốn đầu tư cũng được đảm bảo an toàn, giảm được khả năng rủi ro
đầu tư…điều đó sẽ khuyến khích được các nhà đầu tư nước ngoài đến đầu tư
ở nước nhận đầu tư hơn.
1.5.2. Chính sách – pháp luật
Mỗi một quốc gia muốn xây dựng được môi trường đầu tư lành mạnh
thì bộ phận quan trọng mà không thể thiếu được là hệ thống luật pháp, bao
gồm các văn bản luật, các quy định liên quan đến hoạt động đầu tư, thương
mại, chính sách xuất nhập khẩu, thuế xuất, lao động…tất cả phải đảm bảo sự
nhất quán, không mâu thuẫn, chồng chéo nhau, có hiệu lực trong thực tiễn và
đảm bảo tính bình đẳng giữa doanh nghiệp trong nước và nước ngoài, phù
hợp với thong lệ quốc tế…nếu không thì sẽ dẫn đến hiện tượng gây trắc trở
trong quá trình hoạt động đầu tư, làm các nhà đầu tư cảm thấy lung túng dễ
12
rơi vào cảnh vi phạm pháp luật và làm ăn thua lỗ. Vì thế họ sẽ không yên tâm
làm ăn lâu dài ở nước nhận đầu tư.
Ngoài hệ thống các văn bản pháp luật, mỗi quốc gia còn phải ban hành
các chính sách ưu đãi về thương mại, thuế xuất, tiền tệ…để tăng cường thu
hút đầu tư. Các chính sách phải rõ ràng, dễ hiểu và dễ áp dụng và đảm bảo
tính bình đẳng.
1.5.3. Hệ thống cơ sở hạ tầng
Hệ thống cơ sở hạ tầng luôn được đề ra như một yêu cầu hàng đầu của
thu hút vosn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Hệ thống cơ sở hạ tầng bao gồm hệ
thống giao thông vận tải, hệ thống thông tin liên lạc, bưu chính, viễn thông,
hệ thống điện, nước đáp ứng được nhu cầu sản xuất và hệ thống mạng lưới y
tế, giáo dục Hệ thống cơ sở hạ tầng phát triển sẽ giúp các hoạt động sản,
xuất kinh doanh được diễn ra thuận lợi hơn, có ảnh hưởng rất lớn đến quá
trình triển khai và thực hiên dự án của nhà đầu tư. Một nước sẽ không thể thu
hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài nếu không có kết cấu cơ sở hạ tầng đủ
tốt và dảm bảo chất lượng dịch vụ cho nhà đầu tư (như nước Lào).
1.5.4. Trình độ phát trển kinh tế
Các nhà đâu tư nước ngoài thường mong muốn được bỏ vốn đầu tư của
mình vào nước có trình độ quản lý kinh tế tốt vì những nước có trình độ quản
lý tốt sẽ không có tình trạng lạm phát cao, nợ nước ngoài lớn, tốc độ tăng
trưởng thấp, thủ tục hành chính rườm rà, tham ô tham nhũng, nguy cơ tụt
hậu…vì đây là những nguy cơ dẫn đến khủng hoảng kinh tế, không an toàn
cho vốn đầu tư của họ.
1.5.5 Đặc điểm văn hoá – xã hội
Đặc điểm văn hoá xã hội có ảnh hưởng không nhỏ đến các hoạt động
đầu tư nước ngoài. Nó bao gồm các yếu tố chủ yếu là ngôn ngữ, tôn giáo, giá
trị đạo đức và tinh thần dân tộc phong tục tâkp quán, thị hiếu thẩm mỹ và giáo
13
dục. Các yếu tố này có thể gây trắc trở,khó khăn hoặc đẩy nhanh quá trình
đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Tôn giáo phản ánh tín ngưỡng của con người vào một đắng siêu nhiên,
có tác động mạnh đến các quan niệm sống của con người về các giá trị cá
nhân và xã hội, làm ảnh hưởng đến thái độ đối với các nhà kinh doanh, tập
quán tiêu dung và thuần phong mỹ tục.
Giá trị đạo đức và tin thần dân tộc của nước sở tại cũng ảnh hưởng
tương đối lớn đến việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Nếu một xã hội không
phân biệt đối xử, coi trọng long tin, yêu thương lẫn nhau thì sẽ giảm được tình
trạng tệ nạn xã hội.
Nói đến thị hiếu thẩm mỹ thì mỗi nước mỗi nền văn hoá đều có các
nhìn nhận riêng biệt, có cách nhìn riêng về cái đẹp trong màu sắc, hình khối,
âm nhạc…Các đặc điểm này có ảnh hưởng tới thiết kế nhãn hiệu, quảng cáo
và kiểu dáng của sản phẩm, ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh của
nhà đầu tư.
Trình độ phát triển giáo dục tốt và các cơ cấu đào tạo hợp lý đóng vai
trò quan trọng đối với hoạt động đầu tư nước ngoài, là cơ sở quan trọng để
cung cấp cho các nhà đầu tư nước ngoài đội ngũ lao động có tay nghề cao.
Nhờ đó giảm được chi phí đào tạo nhân lực và đáp ứng yêu cầu sản xuất của
nhà đầu tư.
1.6. Vai trò của vốn FDI trong ngành công nghiệp Lào
Đâu tư trực tiếp nước ngoài là một trong dòng vốn chảy vào công
nghiệp Lào và ngày càng thể hiện rõ vai trò quan trọng trong tiến trình CNH,
HĐH. Trong điều kiện của Lào hiện nay, những công trình lớn và quan trọng
cho tiến trình CNH, HĐH như nhà máy thuỷ điện, nhà máy sản xuất xi măng,
nhà máy khai thác khoáng sản…nếu không có FDI thì chúng tôi không thể
làm được.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét