Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

nâng cao chất lượng dạy học ở các trường THPT huyện Krông Năng tỉnh Đắk Lắk

5. Giả thuyết khoa học
Chất lượng dạy học ở các trường THPT huyện Krông Năng hiện nay
chưa đồng bộ, chất lương dạy học nhìn chung còn thấp so với mặt bằng
chung của các trường THPT trong tỉnh Đắk Lắk và vẫn còn rất nhiều hạn
chế hạn chế, bất cập. Nếu áp dụng một cách linh hoạt, sáng tạo, đồng bộ các
biện pháp quản lý được đề xuất trong đề tài nghiên cứu thì chất lượng dạy ở
các trường này sẽ từng bước được nâng cao.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc quản lý nhằm nâng cao chất
lượng dạy học.
5.2. Khảo sát đánh giá thực trạng việc quản lý hoạt động dạy học và
chất lượng dạy học ở các trường THPT của huyện Krông Năng tỉnh Đắk Lắk
5.3. Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy
học ở các trường THPT huyện Krông Năng - tỉnh Đắk Lắk
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp phân tích tổng hợp lý thuyết.
- Phương pháp hệ thống hoá lý thuyết.
7.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi.
- Phương pháp phỏng vấn.
- Phương pháp chuyên gia.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm quản lý giáo dục.
7.3. Sử dụng Phương pháp thống kê để xử lý các số liệu thu nhận được.
8. Cấu trúc luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và
phụ lục, luận văn đơực cấu trúc thành 3 chương:
5
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý năng cao chất lượng dạy học ở
trường THPT
Chương 2: Thực trạng chất lượng dạy học và quản lý nâng cao chất
lượng dạy học ở các trường THPT huyện Krông Năng tỉnh Đắk Lắk
Chương 3: Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học
ở các trường THPT huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk
6
NỘI DUNG
Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CAO CHẤT LƯƠNG DẠY HỌC Ở
TRƯỜNG THPT
1.1. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước, việc nâng cao chất
lượng dạy học trong nhà trường nói chung và nhà trường phổ thông nói
riêng từ lâu đã trở thành vấn đề quan tâm của các nước trên thế giới trong đó
có Việt Nam.
Dạy học là hoạt động lao động xã hội xuất hiện từ lúc con người có
nhu cầu truyền lại cho thế hệ sau những kinh nghiệm của thế hệ trước. Quản
lý ra đời khi có sự phân công lao động xã hội. Quản lý DH là một quá trình
xã hội đặc thù. Thực tiễn và lý luận về quản lý DH được hình thành và phát
triển cùng với sự hình thành và phát triển của xã hội loài người.
Ngay từ thời cổ đại, tư tưởng về DH và quản lý DH đã được thể hiện
trong những quan điểm của nhiều nhà triết học đồng thời là nhà giáo dục.
Đức Khổng Tử (551- 479 TCN) đã giúp học trò phát triển bằng cách khuyến
khích sở trường và phê bình sở đoản, phương châm chính của dạy học là
khải phát (gợi mở). Socrates (469 - 399 TCN) đã đề xuất thực hiện phương
pháp dạy học và được sử dụng cho đến ngày nay. J.A.Komenxki (1592 -
1670) đã phân tích các hiện tượng trong tự nhiên và hiện thực để đưa ra các
biện pháp dạy học buộc học sinh phải tìm tòi, suy nghĩ để nắm được bản
chất của sự vật hiện tượng. J.J.Rousseau (1717 - 1778) chủ trương giáo dục
trẻ em một cách tự nhiên và người học sẽ tự khám phá tích luỹ kiến thức
thông qua chính hoạt động của mình.
Nhiều nhà giáo dục tiêu biểu xuất hiện khoảng cuối thế kỷ XIX, đầu
thế kỷ XX như John Dewey (1859 - 1952), A.Macarenco (1888 - 1938),
7
Jean Piaget (1896 - 1980),… cũng có quan điểm hướng đến sự tích cực hóa
hoạt động nhận thức của người học.
Vào nửa đầu thế kỷ XX, T.Makiguchi (Nhật Bản) đã nêu lên quá trình
phát triển của giáo dục tương ứng với nó là sự thay đổi vai trò của người
thầy trong quá trình giáo dục, dạy học. Dạy học phải hướng vào người học,
dạy học tích cực, biến quá trình dạy học thành quá trình tự học. Xu thế dạy
học hiện nay hoàn toàn phù hợp với tư tưởng này.
Ở Liên Xô (cũ), trong những thập kỷ gần đây đã có một số công trình
nghiên cứu hệ thống các vấn đề về PPDH mà tiêu biểu là công trình của các
nhà khoa học: V.V.Davưdop, N.A.Menchinskaia, M.N.Statkin, I.Ia.Lecne,
trong đó việc công nghệ hóa quá trình dạy học của Giáo sư Viện sĩ
V.V.Davưdop đã được tổ chức vận dụng tại Việt Nam.
Trong thời đại ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc
cách mạng khoa học và công nghệ; sự bùng nổ thông tin khoa học và công
nghệ; những tư tưởng trên không những vẫn giữ nguyên giá trị của nó mà
còn được tiếp tục kế thừa và phát triển. Giáo dục của thế giới đã trải qua ba
cuộc cải cách, theo đó là cuộc cải cách về giáo dục. Đặc biệt, cuộc cải cách
lần thứ hai vào những năm 1950 và cuộc cải cách lần thứ ba vào những năm
1980 đã tập trung vào vấn đề đổi mới PPDH theo hướng phát huy tính tích
cực chủ động, sáng tạo của người học.
Ở nước ta, ngay những ngày đầu của nền giáo dục cách mạng Việt
Nam, trong thư gửi cho HS nhân ngày khai trường, Bác Hồ đã viết: “Từ giờ
phút này trở đi, các cháu được hưởng một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam
(…) làm phát triển hoàn toàn năng lực sẵn có của các cháu.” [24, tr.11]. Nội
dung bức thư như là một định hướng cho sự phát triển của PPDH.
Trong sự nghiệp cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến
giáo dục. Định hướng đổi mới PPDH đã được nêu ra trong Nghị quyết Hội
nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tư khoá VII, lần thứ hai khoá
8
VIII, lần thứ sáu khoá IX, được thể chế hoá trong Luật Giáo dục: “Phương
pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng
tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi
dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ
năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm
vui, hứng thú học tập cho học sinh”, [27, tr.22] được cụ thể hoá trong quyết
định 201/2001/QĐ-TTg ngày 28/12/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc
phê duyệt “Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010” và các chỉ thị thực
hiện nhiệm vụ năm học của Bộ GD & ĐT.
Trong những năm gần đây, đứng trước nhiệm vụ đổi mới giáo dục đào
tạo nói chung và đổi mới phương pháp dạy học nói riêng, nhiều nhà nghiên
cứu trong đó có những nhà giáo dục học, tâm lý học như Trần Hồng Quân,
Phạm Minh Hạc, Phan Trọng Luận, Vũ Văn Tảo, Đỗ Đình Hoan, Trịnh
Xuân Vũ, Phạm Viết Vượng, Đặng Thành Hưng đã đi sâu nghiên cứu vấn
đề đổi mới nội dung dạy học theo hướng nâng cao tính hiện đại và gắn khoa
học với thục tiễn sản xuất và đời sống, vấn đề lấy học sinh làm trung tâm
trong hoạt động dạy học.
Xét ở góc độ nghiên cứu lý luận quản lý giáo dục, dựa trên quan điểm
của chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các nhà khoa học
nước ta đã tiếp cận quản lý giáo dục (QLGD) và quản lý (QL) trường học để
đề cập đến việc phát triển công tác QL trường học; các tác phẩm tiêu biểu
như: Phương pháp luận khoa học giáo dục của Phạm Minh Hạc; Khoa học
Quản lý giáo dục - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của Trần Kiểm
Như vậy, vấn đề nâng cao chất lượng dạy học từ lâu đã dược các nhà
nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm. Từ những năm cuối thế kỷ XX
khi xã hội sắp bước vào một giai đoạn phát triển mới thì hơn bao giờ hết,
vấn đề này được quan tâm nhiều hơn và nó trở thành mối quan tâm chung
của toàn xẫ hội, đặc biệt là của những nhà nghiên cứu giáo dục. Ý kiến của
9
các nhà nghiên cứu có thể khác nhau nhưng điểm chung mà chúng ta thấy
trong các công trình nghiên cứu họ là khẳng định: vai trò quan trọng của
công tác quản lý trong việc nâng cao chất lượng dạy và học ở các cấp học và
ở các bậc học. Đây cũng chính là một trong những tư tưởng mang tính
chiến lược về phát triển giáo dục của Đảng ta “ Đổi mơi mạnh mẽ nội dung,
phương pháp và quản lý giáo dục đào tạo”
Giáo dục Đắk Lắk trong nhiều năm gần đây đã quan tâm đến công tác
giảng dạy của giáo viên trên lớp. Ngành giáo dục đã tổ chức các lớp bồi
dưỡng thường xuyên cho giáo viên. Hàng năm có tổ chức các hội thi giáo
viên dạy giỏi ở các cấp học, bậc học. Việc làm này đã kích thích được tinh
thần học hỏi, nâng cao chuyên môn cho giáo viên. Tuy nhiên để nâng cao
chất lượng dạy học cho đại đa số giáo viên thì rất cần có các biện pháp nâng
cao chất lượng giảng dạy của giáo viên.
Quản lý hoạt động dạy học(HĐDH) thực sự là vấn đề bức xúc đã dược
quan tâm nghiên cứu và cần tiếp tục nghiên cứu để đổi mới nhằm nâng cao
chát lượng daỵ học trong nhà trường.
Quản lý HDDH là nội dung hoạt động trung tâm của người hiệu trưởng
ở các nhà trường. Đồng thời cũng là nội dung cơ bản, quan trọng nhất trong
công tác quản lý trường học. Chính vì lẽ đó, vấn đề quản lý HĐDH luôn
được các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý giáo dục đề cập trong các công
trình nghiên cứu khoa học. Giáo trình giảng dạy của trường ĐH sư phạm
Hà Nội, Trường cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo(nay là học viện Quản lý
giáo dục) có các công trình nghiên cứu và giảng dạy về chuyên đề quản lý
HĐDH trong trường phổ thông. Các luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lý
giáo dục cũng đã có một số tác giả viết đè tài: “Biện pháp quản lý HĐDH
của hiệu trưởng” như đề tài: “ Biện pháp quản lý HDDH của hiệu trưởng
trường tiểu học tại thành phố Thanh Hóa của tác giả Viên Thị Dung; đề tài:
“Những biện pháp QL của hiệu trưởng nhằm nâng cao hiệu quả HĐDH ở
10
các trường THPT tại thành phố Đà Nẵng’ của tác giả Nguyễn Hữu Dũng
Các công trình nghiên cứu, các luận văn thạc sỹ này chủ yếu dừng lại ở
những vấn đề lý luận vĩ mô mang tính định hướng, chỉ đạo còn vấn đề
QLHĐDH ở từng khu vực, riêng từng trường THPT thì còn rất ít nghiên
cứu, nhất là ở địa bàn vùng núi Tây nguyên.
Nhìn tổng thể, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu
nào đề cập đến các biện pháp quản lý của HT, nhằm nâng cao chất lượng
dạy học ở các trường THPT một cách có hệ thống và phù hợp với điều kiện
thực tế của huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.
Vì vậy, chúng tôi cho rằng việc nghiên cứu thực trạng, xác lập các
biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở các trường THPT
huyên Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk là cần thiết, nó góp phần nâng cao chất
lượng dạy - học trong nhà trường, đáp ứng được yêu cầu giáo dục của tỉnh
nhà nói riêng và mục tiêu giáo dục THPT nói chung.
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Quản lý
a. Khái niệm
Quản lý hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài
người. Nó bắt nguồn và gắn chặt với sự phân công, hợp tác lao động. QL là
một dạng hoạt động xã hội đặc thù, trở thành một nhân tố của sự phát triển
xã hội, một hoạt động phổ biến, diễn ra ở mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ và liên
quan đến mọi người. Có thể nói QL là một trong những loại hình lao động
có hiệu quả nhất, quan trọng nhất.
Quản lý là một chức năng lao động xã hội bắt nguồn từ tính chất xã
hội của lao động.
Ngay từ khi con người bắt đầu hình thành nhóm đã biết phối hợp các
nỗ lực cá nhân để thực hiện mục tiêu duy trì sự sống. Từ khi xuất hiện nền
sản xuất xã hội, nhu cầu phối hợp các hoạt động riêng lẻ càng tăng lên. Bất
11
cứ một tổ chức, một lĩnh vực nào từ sự hoạt động của nền kinh tế quốc dân,
hoạt động của một doanh nghiệp, một đơn vị hành chính sự nghiệp… đến
một tập thể thu nhỏ như tổ sản xuất, tổ chuyên môn bao giờ cũng có hai
phân hệ: Người quản lý và đối tượng được quản lý, sự cần thiết của quản lý
được C. Mác viết: "Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào
tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ
đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng
chung, phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận
động của những cơ quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm riêng lẻ
tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng".
(C. Mác và Ăngghen - Toàn tập, tập 23 trang 34-NXB Chính trị Quốc gia).
Như vậy C.Mác đã chỉ ra bản chất quản lý là một hoạt động lao
động để điều khiển lao động, một hoạt động tất yếu quan trọng trong quá
trình phát triển của xã hội loài người. Quản lý trở thành một hoạt động
phổ biến, mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và có liên quan đến
mọi người. Đó là một loại hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng
đồng dựa trên sự phân công và hợp tác để làm một công việc nhằm đạt
một mục tiêu chung.
Khi bàn đến Khái niệm quản lý có nhiều cách tiếp cận khác nhau:
Theo giáo sư Hà Sĩ Hồ: Quản lý là một quá trình tác động có định
hướng (có chủ định) có tổ chức, lựa chọn trong số các tác động có thể có,
dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ
cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới
mục đích đã định.
Theo Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lý là tác động có mục
đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói
chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến"
[20,tr35].
12
Như vậy, quản lý phải bao gồm các yếu tố sau: Phải có mục tiêu đặt
ra cho cả đối tượng và chủ thể làm căn cứ định hướng cho mọi hoạt động
của tổ chức, phải có nội dung, phương pháp, phương tiện và kế hoạch hành
động, một môi trường nhất định.
b. Các chức năng quản lý
Có nhiều ý kiến khác nhau về phân loại chức năng quản lý, tuy nhiên tựu
trung lại có 4 chức năng cơ bản: Lập kế hoạch; tổ chức; chỉ đạo; kiểm tra.
- Chức năng kế hoạch: Là một chức năng, một khâu quan trọng nhất
trong hoạt động quản lý, lập kế hoạch là hoạt động nhằm thiết lập các mục
tiêu cần thiết cho sự phấn đấu của một tổ chức, chỉ ra các hoạt động, những
biện pháp cơ bản và các điều kiện cần thiết để thực hiện mục tiêu đó. Kế
hoạch là nền tảng của quản lý, là sự quyết định lựa chọn đường lối hành
động của một tổ chức và các bộ phận của nó phải tuân theo nhằm hoàn
thành các mục tiêu của tổ chức.
- Chức năng tổ chức: Tổ chức là quá trình sắp xếp, phân bổ công việc
quyền hành và các nguồn lực cho các thành viên của tổ chức để họ có thể
đạt được các mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả. Ứng với những mục
tiêu khác nhau đòi hỏi cấu trúc tổ chức đơn vị cũng khác nhau. Nhờ tổ chức
hiệu quả mà người quản lý có thể phối hợp điều phối tốt hơn nguồn nhân lực
và các nguồn lực khác. Một tổ chức được thiết kế phù hợp sẽ phát huy được
năng lực nội sinh và có ý nghĩa quyết định đến việc chuyển hoá kế hoạch
thành hiện thực.
- Chức năng chỉ đạo: Là quá trình nhà quản lý dùng ảnh hưởng của
mình tác động đến con người trong tổ chức làm cho họ nhiệt tình, tự giác, nỗ
lực phấn đấu để đạt được mục tiêu của tổ chức. Vai trò của người chỉ đạo là
phải chuyển được ý tưởng của mình vào nhận thức của người khác, hướng
mọi người trong tổ chức về mục tiêu chung của đơn vị.
13
- Chức năng kiểm tra: Kiểm tra là một chức năng quan trọng của quản
lý, quản lý mà không kiểm tra thì coi như không có quản lý. Nhờ có hoạt
động kiểm tra mà người quản lý đánh giá được kết quả công việc, uốn nắn,
điều chỉnh kịp thời những hạn chế từ đó có biện pháp phù hợp điều chỉnh kế
hoạch, tổ chức, chỉ đạo.
c. Các nguyên tắc quản lý
Các nguyên tắc quản lý là các quy tắc chỉ đạo, những tiêu chuẩn
hành vi mà các cơ quan quản lý, các nhà lãnh đạo phải tuân thủ trong
quá trình quản lý.
Nguyên tắc tập trung dân chủ
Đây là nguyên tắc quan trọng tạo khả năng quản lý một cách khoa học
có sự kết hợp chặt chẽ sức mạnh của cơ quan quyền lực với sức mạnh sáng
tạo của quảng đại quần chúng trong việc thực hiện mục tiêu quản lý. Tập
trung trong quản lý được hiểu là toàn bộ hoạt động của hệ thống được tập
trung vào cơ quan quyền lực cao nhất, cấp này có nhiệm vụ vạch đường lối,
chủ trương, phương hướng mục tiêu tổng quát và đề xuất các giải pháp cơ
bản, chủ yếu để tiến hành thực hiện.
Nguyên tắc tập trung được thể hiện thông qua chế độ một thủ trưởng -
người chịu trách nhiệm trước tập thể cán bộ, công nhân viên về toàn bộ hoạt
động của đơn vị, tổ chức mình. Dân chủ trong quản lý được hiểu là sự huy
động trí lực của mọi thành viên trong tổ chức để tiến hành quản lý. Dân chủ
được thể hiện ở chỗ: Các chỉ tiêu, phương án đều được tập thể tham gia bàn
bạc, kiến nghị các biện pháp thực thi trước khi đi đến quyết định. Các tổ
chức quần chúng, người lao động còn được tham gia thực hiện các chức
năng quản lý: tham gia xây dựng kế hoạch, kiểm tra, giám sát.
Tập trung và dân chủ có quan hệ hữu cơ, gắn bó mật thiết với nhau,
có dân chủ phát huy tốt sức sáng tạo của quần chúng, động viên quần chúng
tích cực lao động và tham gia bàn bạc thống nhất hành động thì tập trung
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét