5
- Địa chí Bắc Giang - phần văn hóa - xã hội các tác giả cũng nói về văn
hóa các dân tộc trong tỉnh.
-Sổ tay các dân tộc thiểu số.(Viện dân tộc học)
Thông qua những cuốn sách trên, nội dung của nó cũng đề cập tới nhiều
phong tục tập quán của các dân tộc thiểu số đang c- trú tại tỉnh cũng nh- tại
huyện, trong đó có dân tộc Nùng.
Trong những công trình kể trên, các tác giả chỉ mới liệt kê những vấn đề
chính về thành phần các dân tộc, phong tục tập quán, lời ca ở dạng tổng quát
ch-a đi sâu vào vấn đề cụ thể. Các công trình trên cũng giúp cho ng-ời viết
nhìn vào vấn đề một cách cụ thể hơn.
3. Mục đích nghiên cứu
Khảo sát, điền dã ,tìm hiểu hệ thống các thể loại hát sli ( soonghao) của
ng-ời Nùng Phàn Slình ở huyện Lục Ngạn - Bắc Giang đi sâu vào lời ca,
cách hát, cấu trúc giai điệu, giá trị văn học dân gian nhằm cung cấp cho các
nhà nghiên cứu, những ng-ời làm công tác quản lý có thêm tài liệu về hát
dân ca sli ( soonghao) của ng-ời Nùng Phàn Slình.
Trên cơ sở tìm hiểu phân tích nguồn gốc, lịch sử phát triển, lề lối
tổ chức, quá trình diễn x-ớng, những đặc điểm cơ bản của dân ca sli (
soonghao) trong đời sống văn hóa c- dân vùng Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang.
Nghiên cứu đề tài này, tôi cũng muốn làm rõ thực trạng tồn tại của dân
ca sli ( soonghao) Nùng Phàn Slình trong thời đại hiện nay, tìm ra nguyên
nhân, từ đó làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất ph-ơng h-ớng bảo tồn
và phát huy giá trị, vai trò cuả hát sli ( soonghao) ng-ời Nùng Phàn Slình
trong xã hội.
Và điều quan trọng nhất là tôi muốn đ-a ra những ý kiến của cá nhân
mình nhằm đ-a tục hát sli trở thành một tài nguyên du lịch văn hoá phục
vụ cho hoạt động du lịch văn hóa của ng-ời dân ở Lục Ngạn nói riêng và cho
6
khách du lịch nói chung, và các lợi ích của việc phát triển loại hình du lịch
này.
4. Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu
- Khóa luận chủ yếu đi sâu nghiên cứu sinh hoạt hát sli ( soonghao)
ng-ời Nùng Phàn Slình - một di sản văn hóa đã tồn tại phát triển qua nhiều
thế kỉ.
- Ng-ời Nùng không chỉ c- trú ở huyện Lục Ngạn mà còn con trú ở một
số xã thuộc huyện Lục Nam, Yên Thế, Sơn Động và một số tỉnh lân cận bao
gồm: Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Hà Giang
Vì điều kiện không cho phép và khả năng có hạn nên em đi sâu nghiên
cứu dân ca hát sli ( soonghao) ng-ời Nùng Phàn Slình ở huyện Lục Ngạn -
Bắc Giang. (Chủ yếu là ở xã Kiên Lao)
5. Ph-ơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn đạt kết quả, tôi đã chọn và sử dụng các ph-ơng
pháp sau:
+ Lấy ph-ơng pháp điều tra, khảo sát, điền dã, s-u tầm các tài liệu
về hát sli ( soonghao) ng-ời Nùng Phàn Slình ở huyện Lục Ngạn làm ph-ơng
pháp chủ yếu.
+ Tiến hành ghi âm, kí âm một số bài dân ca tiêu biểu, những bài hát
có tiết tấu giai điệu, cách hát của ng-ời Nùng Phàn Slình huyện Lục Ngạn
tỉnh Bắc Giang.
+ Ph-ơng pháp liên ngành: hát dân ca sli ( soonghao) Nùng Phàn Slình
là hình thức sinh hoạt văn hóa tổng hợp, nhiều vấn đề trong đó có liên quan
đến xã hội học, sử học, dân tộc học, văn hóa học, nghệ thuật học ( văn học,
âm nhạc).
Vì thế ng-ời viết phải sử dụng ph-ơng pháp liên ngành để phân tích hát
sli (soonghao) Nùng Phàn Slình từ nhiều góc độ khác nhau.
7
+ Quá trình phân tích và tổng hợp, so sánh đ-ợc thực hiện để tìm ra
những đặc điểm chung và riêng của dân ca sli ( soonghao) Nùng Phàn Slình.
+Ph-ơng pháp xã hội học: Dùng bảng hỏi xem họ có muốn phát triển
du lịch hay không? Và họ muốn phát triển nh- thế nào?
+Thu thập th- tịch, t- liệu có sẵn đã nghiên cứu về vấn đề mình đang
nghiên cứu, những t- liệu đã công bố.
+ B-ớc đầu phát hiện những nét đặc tr-ng của hát dân ca sli ( soong hao)
từ đó nhận biết đ-ợc giá trị sáng tạo văn hóa của c- dân Nùng Phàn Slình
huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang. Xác lập một hệ thống biện pháp, mô hình
nhằm bảo l-u, phát triển các giá trị của hát dân ca sli ( soong hao) Nùng
Phàn Slình trong đời sống văn hóa hiện nay của dân c- huyện Lục Ngạn,
tỉnh Bắc Giang.
6. Nội dung và bố cục khoá luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, nội dung của khoá luận đ-
-ợc trình bày trong 3 ch-ơng:
Ch-ơng 1: Khái quát về tự nhiên, xã hội và ng-ời Nùng ở Lục Ngạn.
Ch-ơng 2: Tục hát sli của ng-ời Nùng ở Lục Ngạn
Ch-ơng 3: Tiềm năng du lịch của tục hát sli ở Lục Ngạn
8
CHƯƠNG 1
Khái quát về tự nhiên, xã hội
và ng-ời nùng ở lục ngạn
1. Khái quát về tự nhiên, xã hội huyện Lục Ngạn
1.1.1.Vài nét về tỉnh Bắc Giang
Bắc Giang là một tỉnh miền núi đ-ợc tái lập từ ngày 06/11/1996,
nằm ở phía Bắc của đồng bằng Bắc Bộ; phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Lạng
Sơn; phía Tây và Tây Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên; phía Nam và Tây Nam
giáp tỉnh Bắc Ninh, Hải D-ơng; phía Đông giáp tỉnh Quảng Ninh. Lãnh thổ
tỉnh Bắc Giang chạy dài theo h-ớng từ Tây sang Đông. Địa hình dốc,
nghiêng từ Đông Bắc xuống Tây Nam. Vùng núi phía Bắc và phía Đông
chiếm khoảng 3/4 diện tích gồm các huyện: Yên Thế, Sơn Động, Lục Ngạn
và Lục Nam.Vùng đồi thấp gồm thị xã Bắc Giang và một phần huyện Hiệp
Hòa, Việt Yên, Tân Yên, Yên Dũng, Lạng Giang, phần còn lại là những
vùng đất phù sa cổ ven sông Cầu, sông Th-ơng.
Tổng diện tích đất tự nhiên của Bắc Giang là 3282.6 km2 (theo thống
kê năm 1999). Ước điều tra dân số 01/04/2009, dân số Bắc Giang có
1.555.720 ng-ời, với mật độ dân số là 407 ng-ời/ km2, gấp 1,7 lần mật độ
dân số trung bình của cả n-ớc. Trên địa bàn Bắc Giang có 26 dân tộc cùng
sinh sống, trong đó đông nhất là ng-ời Kinh, chiếm 88,1% dân số toàn tỉnh,
tiếp đến là ng-ời Nùng chiếm 4,5%, ng-ời Tày chiếm 2,6%, ng-ời Sán Chay
và ng-ời Sán Dìu mỗi dân tộc chiếm 1,6%, ng-ời Hoa chiếm 1,2%, ng-ời
Dao chiếm 0,5%.
Bắc Giang đứng thứ 32 về diện tích, thứ 16 về dân số và thứ 22 về mật độ
dân số trong 63 tỉnh thành phố của cả n-ớc.
9
Về ph-ơng diện hành chính, từ đầu năm 2004 Bắc Giang có 10 đơn vị cấp
huyện: Thị xã Bắc Giang; huyện vùng cao Sơn Động; huyện vùng núi, vùng
cao gồm: Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, Yên Dũng; huyện trung du miền
núi có Hiệp Hòa, Việt Yên. Tổng số xã ph-ờng thị trấn là 227 đơn vị.
Về ph-ơng diện lịch sử, từ thời các vua Hùng, Bắc Giang thuộc
bộ Vũ Ninh cuả n-ớc Văn Lang. D-ới sự thống trị cuả các v-ơng triều
Trung Hoa, vùng đất Bắc Giang thuộc quận T-ợng. Thời kì phong kiến độc
lập tự chủ, các triều Đinh, Tiền Lê vẫn giữ nguyên sự phân chia c-ơng vực
nh- d-ới thời nhà Đ-ờng. Các triều Lý -Trần đặt lộ Bắc Giang. Thời Hậu
Lê đổi thành Thừa Tuyên - Bắc Giang, sau lại đổi thành trấn Bắc Ninh, năm
1813 đổi thành tỉnh Bắc Ninh, ngày 10/10/1895 toàn quyền Đông D-ơng
kí nghị định thành lập tỉnh Bắc Giang trên cơ sở hai phủ Đa Phúc, Lạng
Giang tách ra từ tỉnh Bắc Ninh gồm 8 huyện. Tỉnh lị đặt tại phủ Lạng Th-
-ơng. Trải qua quá trình biến động của xã hội, đến tháng 10 năm 1959 nhà
n-ớc ta đổi tên thị xã Phủ Lạng Th-ơng thành thị xã Bắc Giang. Ngày
27/10/1962 Quốc hội khóa II kì họp thứ V đã quyết định sát nhập hai tỉnh
Bắc Giang và Bắc Ninh thành tỉnh Hà Bắc. Tỉnh lị đặt tại thị xã Bắc Giang.
Cho đến ngày 06/11/1996 Quốc hội khóa IX kì họp thứ X đã phê chuẩn việc
tách và thành lập hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh. Từ ngày 01/01/1997 bộ
máy hành chính tỉnh Bắc Giang chính thức hoạt động đến nay.
1.1.2. Huyện Lục Ngạn
Huyện Lục Ngạn là một huyện miền núi, nằm về phía Đông Bắc của
tỉnh Bắc Giang, có diện tích tự nhiên là 101 149km
2
, gồm 29 xã và một thị
trấn đ-ợc chia thành hai vùng, vùng cao có 12 xã, vùng thấp có 17 xã và 1 thị
trấn, phía Bắc giáp huyện Chi Lăng và Hữu Lũng ( Lạng Sơn), phía Đông
giáp huyện Sơn Động ( Bắc Giang) và huyện Lộc Bình ( Lạng Sơn), phía
Nam và phía Tây giáp huyện Lục Nam ( Bắc Giang)
10
Lục Ngạn là một bồn địa do hai dải núi lớn là Bảo Đài và Đinh Viền bao
bọc mà thành. Chảy qua giữa bồn địa nay theo h-ớng Đông - Tây là sông
Lục Nam ( tên chữ là Minh Đức Giang). Sông Lục Nam hoà cùng sự trùng
điệp của vùng Đông Bắc tạo nên thắng cảnh hùng vĩ một Trường Giang đẹp
nhất Bắc Kì là đường huyết mạch giao thông quan trọng đặc biệt của vùng
đất này.
Lục Ngạn cũng là điểm hội tụ nhiều tuyến đ-ờng giao thông quan trọng:
đó là con đ-ờng nối Lạng Sơn với vùng Lục Ngạn qua các cửa ngõ Kiên Lao,
Cấm Sơn, Xa Lý, là con đ-ờng bộ cổ, men theo dòng sông Lục, nay là quốc
lộ 31, qua Sơn Động 44 xã ( các tổng là: Vô Chanh, C-ơng Sơn, Kiên Lao,
Hả Hộ, Mỹ N-ơng, Niêm Sơn, Biển Động) thuộc tỉnh Bắc Ninh.Giữa triều
vua Tự Đức(1848-1886), Lục Ngạn đ-ợc nhập thêm 4 tổng: Trạm Điền, Đan
Hội, Bắc Lũng, Bản Đông thành 11 tổng .
Năm Thành Thái Nguyên niên (1889) hai tổng Biển Động, Niêm Sơn đ-
-ợc chuyển sang huyện Yên Bác, tổng Trạm Điền đ-ợc đ-a về huyện
Chí Linh. Thời Pháp thuộc, khu vực này có một số thay đổi về các đơn vị địa
lí hành chính: ngày 05/11/1889, tỉnh Lục Nam đ-ợc thành lập, Lục Ngạn
thuộc tỉnh Lục Nam; ngày 08/09/1891 tỉnh Lục Nam giải thể, Lục Ngạn
trở lại tỉnh Bắc Ninh; ngày10/11/1895, tỉnh Bắc Giang đ-ợc thành lập, Lục
Ngạn thuộc tỉnh Bắc Giang, trừ mấy tổng: Trù Hựu, Kiên Lao, Hả Hộ nằm
trong đạo quan binh Yên Thế. Tháng 2 năm 1909 các tổng Biển Động, Niêm
Sơn, Mỹ N-ơng, Kiên Lao, Hạ Hộ từ huyện Lục Ngạn về huyện Sơn Động.
Thời gian huyện Bảo Lộc ( sau đổi thành Lạng Giang) cắt hai tổng Trù Hựu,
Tam Dị về Lục Ngạn. Tr-ớc Cách mạng Tháng Tám Năm 1945 Lục Ngạn
bao gồm 10 tổng(Bắc Lũng, Chu Diện, C-ơng Sơn, Đan Hội, Kiên Lao,
Mỹ N-ơng, Sơn Đình, Tam Dị, Trù Hựu, Vô Tranh) với 61 xã. Sau cách
mạng Tháng 8, địa giới hành chính Lục Ngạn có nhiều thay đổi. Khi quân
11
Pháp mở rộng chiếm đóng ra vùng Đông Bắc, chia cắt hai huyện Sơn Động
và Lục Ngạn nối hai tỉnh Quảng Ninh và Lạng Sơn với Bắc Giang.
Lục Ngạn với trung tâm thị trấn Chũ - là một điểm hội tụ của cả vùng
Đông Bắc rộng lớn, từ đó mở ra miền đồi gò thấp và tiếp nối với vùng Đông
Bắc Bộ.
Đặc điểm đất đai, khí hậu, thủy văn ở Lục Ngạn đã tạo cho huyện có một
thảm thực vật hết sức phong phú, đa dạng. Ngoài diện tích rừng, Lục Ngạn
có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các cây công nghiệp và các
loại hoa màu. Đặc biệt là tính chất tiểu vùng khí hậu cùng với tính chất
thổ nh-ỡng phù hợp cho trồng cây vải thiều và một số cây ăn quả khác.
*Về lịch sử, địa giới hành chính, thời Hùng V-ơng Lục Ngạn thuộc về bộ
Kê Từ, sau đó huyện Kê Từ thời Bắc thuộc. Thời Lý, Lục Ngạn có tên là Lục
Na thuộc Châu Lạng. Thời kỳ nhà Minh đô hộ ( đầu thế kỷ 15) Lục Ngạn đ-
-ợc chia thành 2 huyện Lục Na và Na Ngạn. Sang thời Lê, địa bàn Lục
Ngạn thuộc về hai huyện Lục Ngạn và Bảo Lộc. Tên gọi Lục Ngạn đ-ợc
xuất hiện từ thời Quang Thuận ( 1460-1469). D-ới triều vua Lê Chính Hòa
(1680-1705), huyện Lục Ngạn đóng tại xã Thủ D-ơng ( nay là xã Nam D
ơng). Đến thời Nguyễn huyện lị đ-ợc chuyển về xã C-ơng Sơn (nay là xã C
ơng Sơn- huyện Lục Nam ). Đầu thế kỷ 19, Lục Ngạn gồm 7 tổng. Tháng
7/1947, Uỷ ban kháng chiến hành chính liên khu 1 đã quyết định tách các xã
phía Tây Sơn Động về Lục Ngạn, sát nhập 10 xã tả ngạn sông Lục Nam
thuộc huyện Lục Ngạn với các xã phía Tây Sơn Động và huyện Hải Chi (
tỉnh Hải Ninh) thành Châu Lục Sơn Hải thuộc liên tỉnh Quảng Hồng.
Năm1955, các xã tr-ớc đây cắt sang Châu Lục Sơn Hải trở về Lục Ngạn.
Ngày 21/7/1957 Thủ t-ớng Chính phủ đã ra nghị định số 24/TTg, chia hai
huyện Sơn Động và Lục Ngạn thành ba huyện Sơn Động, Lục Ngạn, Lục
Nam.
12
Hiện tại Lục Ngạn:
- có 29 xã và một thị trấn đó là : Thị trấn Chũ.
-17 xã vùng thấp: Kiên Lao, Yên Thành, Thanh Hải, Biên Sơn, Tân Hoa,
Qúy Sơn, Trù Hựu, Nghĩa Hồ, Hồng Giang, Giáp Sơn, Phì Điền, Biển Động,
Ph-ợng Sơn, Nam D-ơng, Đồng Cốc, Mỹ An, Tân Quang.
-12 xã vùng cao: Cấm Sơn, Tân Sơn, Sơn Hải, Hộ Đáp, Phong Vân,
Phong Minh, Xa lý, Kim Sơn, Tân Lập, Phú Nhuận, Tân Mộc, Bèo Gia.
* Về mặt dân số, tính đến đầu tháng 1 năm 1997 Lục Ngạn có 175
nghìn ng-ời. Đến năm 2007dân số lên tới 200 nghìn ng-ời. Lục Ngạn có 11
dân tộc anh em chung sống là các dân tộc: Kinh, Nùng, Tàu, Cao Lan, San
Chí, Sán Dìu, Hoa, Dao. Trong đó dân tộc Kinh là 108 nghìn ng-ời, chiếm
54% dân số toàn huyện. Ng-ời Nùng Phàn Slình 37 nghìn ng-ời, chiếm
18%, đông thứ 2 sau người Kinh.
Ngay từ buổi bình minh của lich sử, vùng đất Lục Ngạn có ng-ời Việt cổ
sinh sống. Khảo cổ học đã phát hiện hàng loạt di vật - công cụ sản xuất - đ-
-ợc chế tác bắng đá cuội tại ven bờ sông Lục, với các điểm khai quật
Chũ phố, Chũ làng. Chủ nhân của các di vật này là con ng-ời thuộc văn
hóa Sơn Vi, hậu kỳ thời đại đồ đá cũ, cách đây gần 2 vạn năm. Đến thời đại
bắt đâu dựng n-ớc và giữ nước thời đại các vua Hùng nhóm dân c- này
phát triển khá đông đúc, hợp thành bộ lạc Vi Từ, chiếm lĩnh cả một vùng núi
huyền sông Lục. B-ớc vào thời kỳ đất n-ớc độc lập tự chủ, nơi đây có nhiều
thế tộc lớn xuất hiện, mà tiêu biểu là họ Thân, nhiều đời làm phò mã nhà
Lý [ ].
1.2. Khái quát về ng-ời Nùng ở Lục Ngạn
1.2.1. Lịch sử c- trú
ở Lục Ngạn, ng-ời Nùng là dân tộc có dân số đông sau ng-ời Kinh, là
thành viên trong cộng đồng dân tộc nói ngôn ngữ Tày - Thái, dân tộc Nùng
13
Phàn Slình cũng nh- một số nhánh Nùng khác, đến Lục Ngạn mới chỉ vài ba
trăm năm trở lại đây. Hầu hết đều di c- từ Lạng Sơn xuống, c- trú thành làng
bản rải rác ở những s-ờn đồi, núi thấp theo từng khu, cách nhau bởi những
ngọn đồi, thung lũng nhỏ hay con suối, vạt rừng. Tập trung chủ yếu ở địa bàn
các xã: Hộ Đáp, Cấm Sơn, Sơn Hải, Liên Sơn, Tân Sơn, Tân Hoa, Phong
Minh, Biển Động.
Những kết quả nghiên cứu dân tộc học, sử học cho đến nay đều thống
nhất rằng: Tộc danh Nùng bắt nguồn từ tên của dòng họ Nùng - là một trong
bốn dòng họ có thế lực d-ới thời Đ-ờng ( 618 - 905) ở Quảng Tây ( Trung
Quốc) gồm Nùng Hoàng, Chu, Vi. Tộc họ Nùng ngày càng mở rộng thế lực
và địa bàn c- trú về phía Đông, Tây và Nam, có những tù tr-ởng nổi tiếng
nh- Nùng Tồn Phúc, Nùng Chí Cao. Từ một họ Nùng, dân Nùng đến tộc
danh Nùng cũng là một quá trình phát triển hợp lý của một bộ phận dân c
có nguồn gốc từ khối Tráng - Tày Nùng trong lịch sử. Cho đến nay ở Lục
Ngạn cũng nh- các nơi khác ở các tỉnh Đông Bắc nhiều nhóm Nùng vẫn còn
nhớ đ-ợc nguồn gốc xa x-a từ Trung Quốc nh- Nùng Phàn Slình quê cũ
ở Vạn Thành Châu, Nùng Cháo ở Long Châu. Dân tộc Nùng Phàn Slình
ở Lục Ngạn trong thời chiến cũng nh- trong thời bình luôn kiên c-ờng bất
khuất, đoàn kết với nhau cùng các dân tộc anh em đã có nhiều đóng góp
trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc, góp phần làm phong phú văn
hóa Việt Nam thống nhất mà đa dạng.
1.2.2. Kinh tế, xã hội
-Cũng nh- một số dân tộc khác, ng-ời Nùng Phàn Slình ở Lục Ngạn từ
lâu đời đã lấy nông nghiệp lúa n-ớc làm nguồn sống chính, bên cạnh đó việc
trồng các loại lúa n-ơng và các loại cây l-ơng thực và rau mầu khác nh-:
khoai, sắn, vừng, lạc, đậu, đỗ, cũng không kém phần quan trọng. Hình thức
chăn nuôi trong gia đình rất phát triển, đặc biệt trong những năm gần đây
phát triển trồng cây ăn quả nh-: vải thiều, hồng. Nền kinh tế tự cung tự cấp
14
của ng-ời Nùng Phàn Slình giờ đã chuyển dần sang kinh tế hàng hóa. Nhờ
kinh tế hàng hóa và l-u thông th-ờng xuyên làm cho Lục Ngạn hình thành
các cụm chợ huyện, chợ xã. Tr-ớc đây chợ không chỉ mang tính chất buôn
bán trao đổi mà còn là trung tâm sinh hoạt văn hóa. Ng-ời Nùng Phàn Slình
đi xem chợ để gặp gỡ bạn bè, ng-ời thân qua hát sli, l-ợn. Hiện nay do sự tác
động của nền kinh tế thị tr-ờng việc hát sli, hát l-ợn trong các dịp phiên chợ
không còn nữa. Có lẽ, đây là một điều đáng tiếc trong các phiên chợ miền
núi cũng nh- chợ huyện của huyện Lục Ngạn.
- Gia đình của ng-ời Nùng Phàn Slình chỉ có hai thế hệ cùng sinh sống vì
khi con cái lớn lên xây dựng gia đình th-ờng đ-ợc bố mẹ cho ra ở riêng ngay
để ổn định gia đình và có điều kiện phát triển kinh tế. Mỗi gia đình ng-ời
Nùng Phàn Slình tr-ớc đây sinh từ năm đến bảy con. Đồng bào quan niệm
rằng đẻ nhiều cho có anh có em. Đến nay cùng với sự phát triển của xã hội,
trình độ văn hóa của ng-ời Nùng cũng đã đ-ợc nâng cao, đồng bào đ-ợc tiếp
cận với khoa học, công nghệ hiện đại, cho nên tỉ lệ sinh đã giảm xuống đáng
kể trong các hộ gia đình của ng-ời Nùng Phàn Slình ở Lục Ngạn.
-Gia đình ng-ời Nùng Phàn Slình cũng nh- các đân tộc khác là một đơn
vị kinh tế độc lập, chủ gia đình là ng-ời chồng, ng-ời cha cho nên gia đình
mang tính chất phụ quyền. Ng-ời chủ gia đình có vai trò quyết định trong
tổ chức sản xuất của gia đình, điều hòa các mối quan hệ xã hội. Từ x-a,
nếu ông bà, cha mẹ đã nói thì những nguời nhỏ tuổi phải tuân theo.
-Về quan hệ xã hội, ng-ời Nùng Phàn Slình rất coi trọng quan hệ dòng
họ, nhất là họ gần hay cùng chi họ đều yêu th-ơng đùm bọc lẫn nhau. Trong
cuộc sống của ng-ời Nùng Phàn Slình lập thành bản quần c-, cùng c-
trú mang tính chất cộng đồng sở hữu, cộng cảm văn hóa và tính tự quản cao.
1.2.3. Khái quát về văn hoá
* Văn hóa vật thể
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét