5
1.2. Cổ phần hoá.
* Khái niệm và thực chất của cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc.
Cổ phần hoá là một khái niệm còn khá mới mẻ ở nớc ta. Về thực chất
của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc có ngời cho rằng đó là việc t nhân
hoá doanh nghiệp nhà nớc. ý kiến này chỉ đúng với một số doanh nghiệp nhà
nớc nhất định. Khi mà các doanh nghiệp ấy xét thấy quốc doanh làm không
hiệu quả có thể cho t nhân mua lại và nh vậy là t nhân hoá doanh nghiệp
nhà nớc.
Nhng ý kiến đó không đúng ở nhiều điểm:
Lẫn lộn khái niệm cổ phần hoá với t nhân hoá. T nhân hoá là biến
một tài sản vốn thuộc sở hữu công thành sở hữu t, có thể diễn ra cả đối với
doanh nghiệp nhà nớc và tập thể. Còn cổ phần hoá là đa sở hữu hoá tài sản,
tức là chấp nhận nhiều ngời cùng sở hữu tài sản - sở hữu hỗn hợp.
Phơng pháp t nhân hoá là bán tài sản doanh nghiệp nhà nớc cho t
nhân hoặc thậm chí cho không t nhân tài sản đó. Còn phơng pháp cổ phần
hoá là huy động nhiều chủ thể đầu t thuộc các thành phần khác nhau và cũng
có thể là các chủ thể trong một thành phần kinh tế cùng góp vốn để chuyển từ
một chủ sở hữu sang đa sở hữu. Khi đánh giá phần giá trị tài sản để cổ phần
hoá có thể nhà nớc cũng góp cổ phần vào doanh nghiệp vốn của mình đã cổ
phần hoá.
Hình thức cổ phần hoá rất đa dạng:
- Bán cho các t nhân khác nhau cùng góp cổ phần thành một công ty cổ
phần. Hình thức này đồng dạng với t nhân hơn nhng lại khác là đa số hơn.
- Tất cả các thành phần kinh tế cùng góp cổ phần để mua doanh nghiệp
nhà nớc (kể cả quốc doanh) để chuyển sang công ty cổ phần. Hình thức này
vừa đa sở hữu vừa đa thành phần, nói đúng hơn là đa sở hữu đa thành phần.
Trong hình thức này tuỳ thuộc vào phần trăm cổ phần trong doanh nghiệp để
xác định vai trò của ngời chủ sở hữu chủ yếu.
- Chỉ có nhà nớc và t nhân cùng góp vốn cổ phần để mua lại.
- Tập thể và t nhân cùng góp cổ phần để mua lại.
- Các doanh nghiệp khác cùng nhauu góp cổ phần để mua lại, nhà nớc
cũng có thể tham gia một phần.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
6
- Các doanh nghiệp khác nhau cùng góp cổ phần để mua lại.
- Công nhân vốn của doanh nghiệp ấy đứng ra góp vốn để mua lại doanh
nghiệp để cổ phần hoá, hoặc Nhà nớc cho cán bộ công nhân viên doanh
nghiệp ấy và chia cổ phần cho công nhân.
- Nhà nớc cùng các công ty nớc ngoài cùng góp vốn để cổ phần hoá.
- Bán hẳn cho các công ty nớc ngoài góp vốn mụa để thành công ty cổ
phần
Nh vậy, không thể quan niệm cổ phần hoá thực chất là t nhânhoá. Mà
cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc nên đợc hiểu là quá trình chuyển doanh
nghiệp Nhà nớc thành công ty cổ phần với hai nội dung là chuyển toàn bộ
hay một phần vốn và tài sản thuộc sở hữu Nhà nớc và các lĩnh vực lâu nay
nhà nớc độc quyền cho các cổ đông.
1.3. Những nguyên nhân dẫn đến phải tiến hành cổ phần hoá.
- Tình trạng hoạt động thiếu hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nớc.
Đây là nguyên nhân quan trọng khiến hầu hết các chính phủ đi đến quyết định
cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nớc. Do đâu mà có tình trạng này? Một
điều dễ nhận thấy là ngay cả những điều kiện thuận lợi thì hiệu quả của các xí
nghiệp quốc doanh cũng chỉ đạt mức thấp hơn nhiều so với mức trung bình của
khu vực t nhân. Những doanh nghiệp nhà nớc thờng có vị thế độc quyền,
đợc nhà nớc bảo hộ và không có sự cạnh tranh với hàng nhập khẩu, mặc dù
về quản lý đã đợc điều hành không có hiệu quả của các doanh nghiệp nhà
nớc trong bản thân sở hữu nhà nớc với sự điều tiết trực tiếp của nhà nớc ở
các doanh nghiệp này. Đó là:
+ Hệ thống kế hoạch và tài chính cứng nhắc không có tính chất thích ứng
với cơ chế thị trờng vì đợc quản lý theo hệ thống chính sách từ trên xuống
với nhiều cấp trung gian. Nguồn tài chính đợc sử dụng hoàn toàn theo kế
hoạch đợc duyệt từ đầu năm, không có sự chuyển đổi linh hoạt nhằm sử dụng
hợp lý nguồn vốn và cũng không đợc chuyển sang cho năm sau. Điều này
làm cho các kế hoạch tài chính của doanh nghiệp không có động cơ tiết kiệm
vì vậy không hợp lý hoá đợc sản xuất và giá thành luôn luôn phải cộng nhiều
chi phí so với các doanh nghiệp t nhân.
+ Tính tự chủ trong quản lý và hoạt động sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp nhà nớc bị hạn chế vì nhiều qui chế liên quan đến quyền sở hữu
của nhà nớc, do đó gây ra những yếu tố làm cản trở đến hoạt động có hiệu
quả của doanh nghiệp. Chẳng hạn, việc bổ nhiệm lãnh đạo doanh nghiệp nhà
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
7
nớc đợc quyết định từ cơ quan cấp trên, nên sẽ xuất hiện xu hớng là các
nhà quản lý cao cấp cố gắng thiết lập các mối quan hệ thân thiện với cấp trên
hoặc các nhà hoạt động chính trị và tranh thủ tìm những doanh nghiệp ở những
vị trí béo bở hơn là tìm cách nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
hoặc là vì nhà nớc là chủ sở hữu các doanh nghiệp nên các quyết định kinh
doanh về đầu t, giá cả thị trờng cung ứng và tiêu thụ của doanh nghiệp lại
do hệ thống phức tạp của chủ thể cấp trên điều tiết vừa thiếu thống nhất và
không rõ ràng về trách nhiệm với các quyết định của mình, gây trở ngại tới
hiệu quả công việc của các doanh nghiệp nhà nớc.
+ Tình trạng độc quyền của các doanh nghiệp nhà nớc trên thị trờng
đợc pháp luật của nhà nớc củng cố đã đánh mất những động lực nâng cao
hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp này, đa đến tình trạng xã hội buộc
phải chấp nhận tiêu dùng các hàng hoá và dịch vụ cho chúng sản xuất ra với
chất lợng ít đợc cải tiến nhng giá cả ngày càng tăng không hợp lý và nếu
không tăng giá thì nhà nớc phải chịu những gánh nặng trợ cấp ngày càng lớn.
+ Các doanh nghiệp nhà nớc đợc thành lập nhờ nguồn vốn của nhà
nớc, không đợc phép phá sản và đợc che chắn từ các khoản trợ cấp từ ngân
sách hoặc đợc sử dụng các nguồn vốn nội bộ với lãi suất thấp hoặc đợc u
tiên tiếp cận với các nguồn tài chính nớc ngoài. Vì vậy các doanh nghiệp nhà
nớc không có các yếu tố kích thích phải nâng cao hiệu quả để tồn taị trong
cạnh tranh đối với các doanh nghiệp t nhân.
+ Động cơ hoạt động của các doanh nghiệp nhà nớc chỉ nhằm củng cố
tránh né sự thẩm xét của các cơ quan cấp trên trớc những sản phẩm và dịch
vụ đối với ngời tiêu dùng cũng nh tránh né sự xung đột trong nội bộ, tránh
né những sự cải tổ đổi mới tổ chức quản lý để nâng cao hiệu quả, đảm bảo cho
xí nghiệp có điều kiện hoạt động dễ chịu và ổn định. Do đó, mua sắm trang
thiết bị ngày càng d thừa, biên chế ngày càng phình to dẫn đến chi phí quá
mức so với nguồn thu. Đó là cha kể đến chi phí chính trị to lớn để trốn
tránh những cuộc kiểm tra của các cơ quan cấp trên nh quốc hội hoặc bộ chủ
quản. Tình trạng này đã gây ra những ảnh hởng tiêu cực đến việc tiết kiệm
các nguồn lực và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
8
Chơng II:
Thực trạng cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nớc ở
nớc ta hiện nay.
2.1. Thực trạng các doanh nghiệp nhà nớc trong nền kinh tế nớc
ta.
2.1.1. Sự ra đời của doanh nghiệp nhà nớc và hoạt động của nó trong
cơ chế cũ.
Hệ thống doanh nghiệp nhà nớc ta đã có hơn 40 năm xây dựng và phát
triển. Trong thời kỳ cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nớc ta, các xí
nghiệp quốc doanh (doanh nghiệp nhà nớc) là lực lợng chủ đạo trong nền
kinh tế quốc dân. Chúng đợc hình thành từ 3 nguồn sau:
Thứ nhất, xây dựng bằng nguồn vốn của ngân sách nhà nớc, nguồn viện
trợ hoặc đi vay (của Liên xô cũ, Trung Quốc và các nớc XHCN khác trong
thời kỳ đó).
Thứ hai, quốc hữu hoá xí nghiệp của các nhà t sản mại bản, t sản dân
tộc đã bỏ ra nớc ngoài hoặc xí nghiệp nhà nớc của chế độ cũ. Hình thức này
đợc áp dụng rộng rãi trong những năm 50, 60 đợc tiếp tục trong những năm
70 và đỉnh cao vào năm 1975, 1976.
Thứ ba, biến các xí nghiệp t nhân của các nhà t sản dân tộc thành các
xí nghiệp công t hợp doanh và sau đó thành các xí nghiệp quốc doanh.
Cũng giống các nớc theo nền kinh tế xã hội chủ nghĩa khác Việt Nam đã
vận dụng học thuyết Mác - Lênin để thực hiện chế độ công hữu về t liệu sản
xuất, coi chế độ công hữu là nền tảng kinh tế để xoá bỏ sự phân hoá giàu
nghèo, bất công xã hội do nền kinh tế thị trờng và chế độ t hữu gây ra, để
xây dựng một chế độ công hữu do nhân dân lao động làm chủ. Trong quá trình
xây dựng chủ nghĩa xã hội nớc ta đã nhấn mạnh vào nhiệm vụ và vai trò của
kinh tế nhà nớc, coi đó là hiện thân của chế độ công hữu có sức mạnh toàn
năng trong việc tổ chức mọi hoạt động kinh tế của xã hội đồng thời phủ nhận
vai trò của thị trờng, của kinh tế t nhân.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
9
Vì vậy nền kinh tế quốc dân ở nớc ta không phải là một nền sản xuất
hàng hoá mà là một nền kinh tế hiện vật và xã hội hoá đợc quản lý theo cơ
chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp: Nhà nớc XHCN vừa tập trung
quyền lực chính trị vừa là chủ sở hữu duy nhất và thống nhất đối với tuyệt đại
đa số các t liệu sản xuất của xã hội. Và nhà nớc vừa là ngời chỉ huy, vừa là
ngời tổ chức thực hiện sản xuất kinh doanh.
ở nớc ta, trong thời gian dài trớc đại hội Đảng lần thứ VI (12 - 1986)
doanh nghiệp nhà nớc đã hình thành và phát triển với một cơ cấu tơng đối
hoàn chỉnh, ở tất cả các lĩnh vực, các ngành kinh tế quốc dân nh hàng không,
hàng hải, bu điện, đờng sắt, nông nghiệp, lâm nghiệp, đánh cá đến các dịch
vụ đơn giản. Doanh nghiệp nhà nớc giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế
quốc dân và nắm 100% các ngành then chốt nh điện, khai khoáng, luyện kim,
chế tạo máy công cụ, hoá chất, nhiên liệu, xi măng, bu điện viễn thông, giao
thông đờng sắt, đờng thủy, ngoại thơng, ngân hàng, quốc phòng và an
ninh. Trong công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng nội địa và xuất khẩu, lực
lợng doanh nghiệp nhà nớc cũng chiếm tỉ trọng tuyệt đối lớn hoặc phần lớn
đối với các sản phẩm chủ yếu nh: 100% hàng dệt kim, thuốc chữa bệnh, bia,
90% quạt điện, 85% giấy viết, 85% vải mặc, 70% xe đạp hoàn chỉnh.
Các doanh nghiệp nhà nớc chiếm khoảng 85% vốn cố định của nền kinh
tế, 90% lao động có kỹ thuật, cán bộ khoa học và quản lý đợc đào tạo của cả
nớc. Nhà nớc cũng u tiên dành nhiều nguồn lực để phát triển các doanh
nghiệp nhà nớc. Chỉ tính riêng trong khoảng mời năm, từ 1976 đến 1985,
nhà nớc đã phân bố từ 60 - 70% vốn đầu t của toàn bộ nền kinh tế và trên
90% vốn tín dụng với lãi suất u đãi cho các doanh nghiệp nhà nớc.
Hàng năm các doanh nghiệp nhà nớc đóng góp khoảng 30 - 40% tổng
sản phẩm xã hội và 28 - 30% thu nhập quốc dân. Phần thu của doanh nghiệp
nhà nớc từ doanh nghiệp nhà nớc thông qua doanh nghiệp nhà nớc là phần
thu lớn nhất, dao động hàng năm trong khoảng 60 - 70%.
Do chúng ta duy trì quá lâu cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao
cấp trong khu vực doanh nghiệp nhà nớc nên khu vực kinh tế này đã bộc lộ
những yếu kém nghiêm trọng. Đó là:
- Năng suất, chất lợng và hiệu quả rất thấp. Toàn bộ khu vực doanh
nghiệp nhà nớc không vợt qua ngỡng cửa tái sản xuấta giản đơn. Tính
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
10
chung trong vòng mời năm 1976 - 1985 tỉ lệ chi của nhà nớc và thu của
doanh nghiệp nhà nớc là 3:1.
- Doanh nghiệp nhà nớc hoạt động theo cơ chế thực thanh - thực chi,
giao đủ nộp đủ. Nhà nớc bao cấp và quyết định giá đầu vào, đầu ra, nên
doanh nghiệp không phải tính toán hiệu quả kinh doanh. Hoạt động thua lỗ có
nhà nớc gánh chịu.
- Sự phân phối thu nhập trong doanh nghiệp theo cách bình quân đã làm
suy yếu động lực kích thích lao động, làm việc có năng suất, chất lợng và
hiệu quả.
- Bộ máy doanh nghiệp cồng kềnh, nhiều cấp trung gian với chức năng
chồng chéo. Các cơ quan quản lý thờng can thiệp sâu vào hoạt động sản xuất
kinh doanh ngày ngày của doanh nghiệp.
2.1.2. Vai trò của doanh nghiệp nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng
nớc ta hiện nay.
Trong một thời kỳ dài chúng ta đã mắc sai lầm quá sùng bái kinh tế quốc
doanh, đã thành lập tràn lan các doanh nghiệp nhà nớc. Trong cơ chế cũ các
doanh nghiệp nhà nớc đã bộc lộ các yếu kém nh đã trình bày ở phần trên.
Chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị
trờng có sự quản lý của nhà nớc, hệ thống kinh tế quốc doanh vẫn đợc xác
định vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân cần phải củng cố và phát triển
nhất là trong ngành và lĩnh vực then chốt, quan trọng, có tác dụng mở đờng
và tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác phát triển.
Doanh nghiệp nhà nớc có vai trò chủ đạo theo nghĩa là công cụ điều tiết
vĩ mô nền kinh tế. Vai trò chủ đạo của nó gắn liền với vai trò quản lý của Nhà
nớc đối với nền kinh tế thị trờng. Đây là yêu cầu có tính quy luật chung của
sự phát triển kinh tế xã hội, vì bản thân nền kinh tế thị trờng chứa đựng những
khuyết tật mà muốn khắc phục nhất thiết phải có sự quản lý của nhà nớc.
Các doanh nghiệp nhà nớc bao gồm các các doanh nghiệp hoạt động
hoạt động kinh doanh và các doanh nghiệp hoạt động công ích đợc củng cố
và phát triển trong các ngành và lĩnh vực then chốt, tạo cơ sở hạ tầng và tiền đề
tốt cho sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Thông qua doanh
nghiệp nhà nớc, nhà nớc tạo ra nguồn dự trữ đủ mạnh để có thể can thiệp
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
11
vào thị trờng, thực hiện điều chỉnh các cân đối cơ bản của nền kinh tế. Doanh
nghiệp thực hiện việc đầu t có định hớng để khắc phục bản chất vô chính
phủ của nền kinh tế thị trờng, duy trì môi trờng cạnh tranh lành mạnh,
chống xu hớng độc quyền của tập đoàn t nhân, đi đầu trong đổi mới công
nghệ thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo xu hớng năng suất - chất lợng -
hiệu quả.
Nh vậy, vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nớc xuất phát từ yêu cầu
khách quan của nền kinh tế thị trờng nớc ta và đợc ghi thành chủ trơng,
chính sách và pháp luật của nhà nớc. Vai trò luật định này là yếu tố quan
trọng chi phối sự điều chỉnh pháp lý đối với tổ chức và hoạt động của doanh
nghiệp nhà nớc. Để thực hiện đợc vai trò đó trớc hết phải kiên quyết đổi
mới hệ thống doanh nghiệp này. Việc đổi mới phải đợc đặt trong sự phát triển
tổng thể nền kinh tế quốc dân và phải xuất xứ từ thực trạng doanh nghiệp nhà
nớc ở nớc ta.
2.1.3. Thực trạng hoạt động của doanh nghiệp nhà nớc ta hiện nay.
Trong cơ chế cũ, ở nớc ta doanh nghiệp nhà nớc tồn tại với một số
lợng khổng lồ. Theo số liệu của tổng cục thống kê, tính đến ngày 1 - 9 - 1990
cả nớc có 12.084 doanh nghiệp trong tất cả các ngành các lĩnh vực của nền
kinh tế quốc dân và do nhiều cấp quản lý. Sau khi thực hiện việc tổ chức sắp
xếp lại theo quyết định 315/HĐBT ngày 1 - 9 - 1990 và thành lập lại các doanh
nghiệp nhà nớc theo nghị định 388/ HĐBT và ngày 20 - 11 - 1991 và sau
hàng loạt cải cách, đến nay doanh nghiệp nhà nớc vẫn còn khoảng 5800
doanh nghiệp (theo số liệu của vụ đăng ký kinh doanh - Bộ kế hoạch đầu t).
Trong đó có khoảng 30% là doanh nghiệp nhà nớc do các bộ ngành trung
ơng quản lý và khoảng 70% doanh nghiệp do uỷ ban nhân dân tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ơng quản lý.
Đến năm 1995, số lợng các doanh nghiệp nhà nớc vẫn chiếm tỷ trọng
lớn so với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh: trong lĩnh vực công nghiệp là
78,8%; Xây dựng cơ bản: 49%; tài chính, ngân hàng, bảo hiểm: 99,6%, giao
thông vận tải, bu điện: 54%; thơng nghiệp, vật t: 46,5%.
Sau 5 năm đổi mới và điều hành, số lợng các doanh nghiệp nhà nớc ở
nớc ta giảm gần song nh vậy vẫn còn quá nhiều. Các doanh nghiệp nhà nớc
hiện nay vẫn còn tồn tại ở hầu hết các ngành, các lĩnh vực, điều đó là không
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
12
cần thiết. Hơn nữa với số lợng doanh nghiệp nhà nớc nhiều nh vậy làm
vợt quá khả năng nguồn lực về vốn và cán bộ quản lý của nớc ta hiện có.
Hệ thống doanh nghiệp nhà nớc phân bố còn nhiều bất hợp lý. Các
doanh nghiệp nhà nớc chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn nh Hà Nội, Hải
Phòng, Quảng Ninh, thành phố Hồ Chí Minh. Nhiều vùng của đất nớc có
nguồn tài nguyên phong phú, lao động dồi dào ở miền núi phía Bắc hầu nh
không có doanh nghiệp nhà nớc. Sự phân tán của các doanh nghiệp nhà nớc
ở các ngành các lĩnh vực dẫn đến các tình trạng trên cùng một địa bàn lãnh thổ
doanh nghiệp nhà nớc của Trung ơng, địa phơng hoạt động chồng chéo,
cạnh tranh lẫn nhau một cách vô tổ chức, gây khó khăn cho nhau trong việc
sản xuất kinh doanh.
Hiện nay, phần lớn các doanh nghiệp nhà nớc ta có quy mô nhỏ và hoạt
động kém hiệu quả.
Theo số liệu thống kê của Bộ Tài chính, tổng số vốn Nhà nớc tại các
doanh nghiệp nhà nớc là 70.184 tỷ đồng, bình quân một doanh nghiệp là 11,6
tỷ đồng tơng đơng với vốn một doanh nghiệp loại nhỏ ở các nớc nh Thái
Lan, Inđônêxia, Malaysia.
Đến nay vẫn còn 46,1% doanh nghiệp nhà nớc có số lao động dới 100
ngời và gần 50% doanh nghiệp nhà nớc có mức vốn dới 1 tỷ đồng, trong
đó gần một nửa số vốn dới 500 triệu đồng. Các doanh nghiệp có số vốn lớn từ
100 tỷ trở lên chỉ chiếm 1,5% tổng số doanh nghiệp. Số doanh nghiệp có từ
1000 lao động trở lên chỉ chiếm 4% trong tổng số doanh nghiệp.
Vốn thực tế hoạt động của doanh nghiệp nhà nớc chỉ bằng 80% vốn
hiện có do kinh doanh thua lỗ, công nợ khó đòi, tài sản mất mát, kém phẩm
chất cha đợc xử lý. Riêng vốn lu động có 14.239 tỷ đồng và chỉ có 50%
đợc huy động vào kinh doanh, 50% còn lại nằm ở lỗ, công nợ khó đòi.
Các doanh nghiệp nhà nớc ở nớc ta hiện nay, do quy mô nhỏ, vốn ít
không có khả năng đầu t trang thiết bị hiện đại, mở rộng sản xuất kinh doanh
nên yếu sức cạnh tranh trên thị trờng.
Trình độ kỹ thuật, công nghệ cũng ảnh hởng rất lớn đến hiệu quả hoạt
động của hệ thống doanh nghiệp nhà nớc. Trừ một số rất ít (18%) doanh
nghiệp nhà nớc mới đợc đầu t (sau năm 1986) còn chủ yếu đợc thành lập
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
13
từ lâu có trình độ kỹ thuật thấp, công nghệ lạc hậu. Giá trị còn lại của tài sản
cố định trong doanh nghiệp nhà nớc là 61,4% so với nguyên giá.
Theo đánh giá của Bộ khoa học và công nghệ và môi trờng: máy móc
thiết bị của doanh nghiệp nhà nớc lạc hậu với thế giới từ 10 - 20 năm. Theo
điều tra của Tổng cục thống kê: thiết bị của doanh nghiệp nhà nớc lạc hậu từ
2 - 3 thế hệ. Các doanh nghiệp TW có tới 54,3% trình độ thủ công, 41% trình
độ cơ khí và 3,7% trình độ tự động. Doanh nghiệp địa phơng còn lạc hậu hơn;
chỉ có 2% trình độ tự động, 24% trình độ cơ khí và 74% trình độ thủ công.
Nhiều thiết bị trong các doanh nghiệp nhà nớc sau 14 - 15 năm mới
đợc thay đổi, thậm chí trong một số ngành vẫn sử dụng thiết bị từ năm 1938 -
1940 trong khi đó thời gian đổi mới thiết bị ở các nớc khác trung bình là 5
năm. Các báo cáo về tình hình hoạt động của doanh nghiệp nhà nớc cho thấy
chỉ có khoảng 15% sản phẩm công nghiệp của ta đạt tiêu chuẩn xuất khẩu:
65% số sản phẩm đạt mức dới trung bình để tiêu dùng nội địa, 20% số sản
phẩm kém chất lợng. Hiện tợng hàng hoá ứ đọng với khối lợng lớn và
chiếm hơn 10% số vốn lu động của toàn xã hội. Chính do công nghệ lạc hậu
nên năng suất, chất lợng sản phẩm của doanh nghiệp nhà nớc kém. Theo kết
quả điều tra xét về mặt hiện vật, năng suất lao động của ta về chế biến dầu thực
vật chỉ bằng 10% mức thế giới, về sản xuất các sản phẩm dệt, giấy, may chỉ
bằng 30% đến 40% mức của thế giới, về thi công cầu đờng chỉ bằng 1/20
mức của Pháp.
Hiện nay, việc quản lý của Nhà nớc đối với doanh nghiệp nhà nớc cha
hợp lý. Một mặt các cơ quan chủ quản vẫn can thiệp khá sâu vào hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp, mặt khác trong nhiều lĩnh vực hoạt động
đặc biệt là quản lý tài chính lại bị buông lỏng. Điều này hạn chế quyền tự chủ
trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đồng thời làm cho Nhà nớc mất
vai trò thực sự là ngời chủ sở hữu và tạo cơ hội cho nhiều cá nhân lạm dụng,
chiếm đoạt tài sản công để làm giàu cá nhân, hoặc làm ăn phi pháp. Trong một
số doanh nghiệp nhà nớc, đội ngũ cán bộ chủ chốt có trình độ chuyên môn và
tổ chức quản lý cha đủ tiêu chuẩn vì không đủ sức giải quyết các vấn đề phát
sinh trong sản xuất kinh doanh. Nhiều giám đốc, kế toán trởng đã phải vào tù
vì tham ô tài sản của Nhà nớc, vi phạm chế độ quản lý tài chính.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
14
Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nớc còn thấp. Mấy
năm gần đây, sản xuất trong các doanh nghiệp nhà nớc bắt đầu đợc phục hồi
và phát triển, nhng nhìn chung hiệu quả vẫn còn thấp, thấp nhất là ở các
ngành sản xuất vật chất. Trong các doanh nghiệp nhà nớc đang hoạt động chỉ
có 11,28% doanh nghiệp có tỷ suất lợi nhuận từ 15%/năm trở lên trong ngành
sản xuất vật chất và 4,3% doanh nghiệp nhà nớc có tỷ suất lợi nhuận từ
20%/năm trong các ngành dịch vụ.
Tỷ trọng tiêu hao vật chất trong tổng sản phẩm xã hội của khu vực kinh tế
nhà nớc cao gấp 2 lần so với kinh tế t nhân. Hệ số sinh lời của khu vực
doanh nghiệp nhà nớc rất thấp. Hệ số sinh lời của vốn lu động tính chung
chỉ đạt 7%/năm trong đó ngành giao thông vận tải 2%/năm, ngành công
nghiệp khoảng 3%/năm, ngành thơng nghiệp đạta 22%/năm.
Các doanh nghiệp nhà nớc hoạt động thu lỗ chiếm tỷ trọng lớn. Cụ thể ở
thời điểm 1997 chỉ có 76% hoạt động có lãi ở mức thấp, 22% doanh nghiệp bị
thua lỗ, bình quân mỗi doanh nghiệp lỗ 0,6 tỷ đồng/năm, 2% doanh nghiệp
hoạt động không thua lỗ, nhng không có lãi. Các số liệu đó cho thấy việc làm
ăn thua lỗ của các doanh nghiệp nhà nớc đã gây ra tổn thất lớn cho ngân sách
nhà nớc và là một trong những nguyên nhân đa đến việc bội chi ngân sách.
Từ năm 1989 đến nay, nền kinh tế đã thực sự bớc sang hoạt động theo
cơ chế thị trờng. Các chính sách kinh tế, tài chính đối với doanh nghiệp nhà
nớc đã đợc thay đổi theo hớng tự do hoá giá cả, chi phí ngân sách nhà nớc
cho bù lỗ, bù giá, bổ sung vốn lu động cho khu vực này đã giảm đáng kể.
Nhng t tởng bao cấp trong đầu t vẫn còn nặng nề. Hàng năm 85% vốn tín
dụng với lãi suất u đãi đợc dành cho doanh nghiệp nhà nớc vay. Hầu hết
các doanh nghiệp nhà nớc không bảo toàn đợc nguồn vốn nhà nớc đầu t.
Theo báo cáo của Tổng cục thống kê, nhìn chung các doanh nghiệp nhà nớc
mới chỉ bảo toàn đợc vốn lu động, còn vốn cố định thì mới bảo toàn ở mức
50% so với chỉ số lạm phát. Hai ngành chiếm giữ vốn lớn nhất là công nghiệp
và thơng nghiệp (72,52%) lại là ngành có tỷ lệ thất thoát vốn lớn nhất
(16,41% và 14,95%). Vấn đề nợ nần vòng vo mất khả năng thanh toán còn
diễn ra khá nghiêm trọng do tình trạng quản lý của nhà nớc về tài chính còn
lỏng lẻo, từ đó nạn tham nhũng lãng phí diễn ra mức báo động.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét