Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

Vấn đề tính chân thực trong phản ánh hiện thực của văn học

I. PHẦN MỞ ĐẦU.
1. Lý do chọn đề tài.
Chúng ta luôn luôn nghe nhắc đi nhắc lại mệnh đề: Văn học là sự phản ánh hiện
thực, nhiệm vụ chủ yếu của văn học là phản ánh hiện thực, vinh dự lớn lao nhất của
nhà văn là phản ánh cho được đời sống chiến đấu và sản xuất của nhân dân.
Vâng! Mọi hình thái ý thức đều là sự phản ánh của thế giới khách quan thông
qua chủ thể con người. Trong ý nghĩa ấy thì sáng tác văn học vừa mang tính chủ
quan, vừa mang tính khách quan. Nó không đơn thuần chỉ là một hoạt động phản ánh
mà còn là hoạt động sáng tạo – sự sáng tạo vừa mang tính trực tiếp vừa mang tính
gián tiếp độc đáo để cuối cùng tác phẩm ra đời như là nảy sinh trong cuộc sống một
hiện tượng thẩm mỹ hoàn toàn mới mẻ. Tác phẩm ra đời là kết quả của một quá trình
tích lũy, thai nghén “mang nặng đẻ đau”. Nhà văn đưa tác phẩm tới tay bạn đọc cũng
như đặt đứa con vào cuộc đời với bao lo toan hy vọng. Liệu những điều mình nghiền
ngẫm trăn trở và thể hiện bằng hình tượng nghệ thuật này có tìm được sự trân trọng,
đồng cảm của người đọc như là sự gặp gỡ tri kỷ, tri âm? Rõ ràng là dù muốn hay
không, tác phẩm văn học giữ vai trò là điểm tiếp xúc giữa thế giới bên trong của
người nghệ sỹ với thế giới quan bên ngoài hay nói cách khác một tác phẩm văn học
không đứng im trong suốt quá trình tồn tại của nó, nhờ sự tiếp nhận của người đọc mà
nó có sức sống trường cửu, bất chấp thời gian và không gian. Tác phẩm hóa thành
một sinh thể nghệ thuật chân chính.Cũng bởi vì vậy mà ta nói rằng : văn học, nghệ
thuật, tự thân nó không thể xa rời hiện thực đời sống. Nhưng phản ánh hiện thực như
thế nào, thì không phải là câu hỏi dễ trả lời. Không đơn giản chỉ là sự tả chân một
cách cơ học, chưa nói rằng, tả chân đôi lúc cũng chưa hẳn là thấu đáo; và thực tiễn
văn học, nghệ thuật cho thấy, thành tựu văn học, nghệ thuật phụ thuộc vào tài năng,
quan niệm thẩm mỹ và sự thăng hoa cảm xúc của người nghệ sĩ.
Mọi người hãy cùng nhau tìm hiểu về vấn đề tính chân thực trong phản ánh
hiện thực của văn học cùng tôi nhé!
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Đây thực chất là một thuật ngữ của chủ nghĩa hiện thực hiểu theo nghĩa phương
pháp sáng tác. Nó có nhiều dạng: Chủ nghĩa hiện thực thời Phục Hưng, Chủ nghĩa
hiện thực thời Khai sáng, chủ nghĩa hiện thực thời phong kiến mạt kì ở phương Đông.
Nhưng chủ nghĩa hiện thực thế kỉ XIX ở Tâu Âu phát triển đỉnh cao nhất nên người ta
gọi là chủ nghĩa hiện thực cổ điển, và cì cảm hứng chủ đạo của nó là cảm hứng phê
phán nên theo ý kiến của M. Goocki, người ta thường gọi là chủ nghĩa hiện thực phê
phán. Chủ nghĩa hiện thực phê phán còn có nghĩa là một trào lưu văn học, đối tượng
1
của bộ môn lịch sử văn học. Khác với chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa cổ điển
thường bị chi phối bởi một vài nguồn ý thưc tư tưởng, chủ nghĩa hiện thực cóa tham
vọng phải khơi nguồn ở nhiều phương diện khác nhau và tất cả phải cuối cùng phải
được kết tinh lại thành một nguyên tắc nhất quán là phản ánh chân thực cuộc sống ở
những phương diện khác nhau của nó.Những hình mẫu trung tâm của chủ nghĩa hiện
thực phê phán là những những nhân vật phản diện tư sản hóa. Đó là những con người
xuất thân từ những giai tầng khác nhau: quý tộc, tiểu tư sản, v.v vốn có những thái
độ khác nhau về chế độ tư bản, nhưng khi đã lăn vào đó thì đêu thấm nhuần đạo đức
và triết lí "con bê vàng" (Banzăc). Tuy vậy không phải là không có nhân vật chính
diện. Các nhân vật này được tác giả xây dựng nhằm đối lập lại với xã hôi đang dần
mất đi những điều tốt đẹp.Cảm hứng phê phán, lên án những thói sống xa hoa và sự
suy đồi nghiêm trọng của con người về đạo đức.
3. Phương pháp nghiên cứu.
Vận dụng kiến thức có sẵn và phương pháp so sánh đối chiếu, tìm kiếm tài liệu
sau đó tổng hợp.
4. Đối tượng nghiên cứu.
Tìm hiểu và làm rõ về nền văn học hiện thực và làm sáng tỏ quan điểm tính
chân thật trong phản ánh hiện thưc của văn học.
5. Bố cục.
Ngoài phần Mở đầu và phần kết luận thì bài tiểu luận còn có 3 chương:
Chương1.Tìm hiểu về văn học và chức năng, nhiệm vụ của văn học.
Chương 2 Tìm hiểu về vấn đề tính chân thực trong văn học hiện thực.
Chương 3: Mối quan hệ giữa văn học và hiện thực.
2
PHẦN NỘI DUNG
Chương1.Tìm hiểu về văn học và chức năng, nhiệm vụ của văn học.
1.1 Khái niệm văn học
Một loại sáng tác tái hiện những vấn đề của cuộc sống xã hội và con người thông
qua sự hư cấu được dùng làm phương thức sáng tạo và thông qua một ngôn ngữ thẩm
mĩ được dùng làm chất liệu biểu hiện. VH có nhiều thể loại và mỗi thể loại đều có đối
tượng và cách sáng tác riêng (tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ, kịch bản sân khấu, kịch
bản phim, lí luận phê bình). Trong lịch sử văn học các nước, cũng có lúc người ta chia
VH thành từng dòng, khuynh hướng, trường phái. Các dòng VH vừa xâm nhập vào
nhau vừa bổ sung cho nhau, nhằm đáp ứng nhu cầu tiếp nhận và thưởng thức hết sức đa
dạng của người đọc. Người ta cũng dùng thuật ngữ VH để nói toàn bộ những sáng tác
văn học của một thời kì hoặc một nước: VH Việt Nam thế kỉ 18, VH Trung Quốc, VH
Pháp. Khi nói "văn chương", về căn bản cũng là nói VH nhưng người ta muốn nhấn
mạnh đến tính thẩm mĩ, tính sáng tạo của VH về phương diện ngôn ngữ. Thuật ngữ "mĩ
văn" cũng đã được dùng trong trường hợp này
1.2 Chức năng của văn học
Văn hóa là tổng thể các giá trị do con người tạo ra, trước hết là những giá trị
tinh thần. Trong đó, văn học là một thành tố rất quan trọng của văn hóa. Ở phương
Đông, hai khái niệm này rất gần gũi nhau. Khổng Tử đã từng hiểu "Văn" theo nghĩa
rộng, đồng nghĩa với yếu tố văn hóa trong con người."Đối với người Việt Nam, văn
học gần như đồng nghĩa với văn hóa".Tuy nhiên cũng cần phân biệt rạch ròi hai khái
niệm đó để xác định đối tượng nghiên cứu và chức năng riêng của mỗi ngành. Người
ta thường nói đến các chức năng của văn học như: nhận thức - dự báo, giáo dục - giao
tiếp, thẩm mỹ - giải trí Đứng từ góc độ nghệ thuật và ở cấp độ hệ thống, nhiều
người cho rằng, chức năng bao trùm nhất của văn học là tình cảm - thẩm mỹ. Nhưng
nếu đứng từ góc độ văn hóa - xã hội, ta sẽ thấy văn học có một chức năng bao trùm
khác, thống nhất nhưng không đồng nhất với các chức năng trên, tạm gọi đó là "chức
năng văn hóa" của văn học.
Chức năng văn hóa của văn học cũng có yếu tố nhận thức nhưng không phải tất
cả những gì được phản ánh trong tác phẩm cũng đem đến cho ta những nhận thức về
văn hóa. Nhiều đoạn văn tả sự vật hiện tượng trong tự nhiên hoặc những hành động
đơn giản của con người thì thường không thể hiện rõ những yếu tố văn hóa. Thậm chí
nếu hiểu văn hóa là những gì tốt đẹp thì những tác phẩm đồi trụy, khiêu dâm, khích
động bạo lực càng thiếu tính văn hóa. Ngay cả trong vô vàn biểu hiện văn hoá ngoài
đời, nhà văn cũng chỉ chú trọng tới những giá trị văn hoá tiêu biểu nhất, góp phần
3
định hướng phát triển văn hoá. Chẳng hạn, viết về đề tài nông thôn, cần phải nói đến
tính cộng đồng, tình làng nghĩa xóm. Văn học còn là công cụ chuyển tải văn hóa và
lưu giữ bóng dáng con người qua các thời đại. Nhiều bộ sử thi cổ đại được coi là các
bộ bách khoa toàn thư lưu giữ toàn bộ văn hóa và những giờ phút vàng son trong lịch
sử dân tộc. Mỗi nhà văn hiện đại cũng cần phải có ý thức lưu giữ những giá trị đặc sắc
của văn hóa dân tộc. Ngoài ra, trong khi thực hiện chức năng phản ánh văn hóa, nhà
văn còn giúp cho người đọc phát triển năng lực nhận thức thế giới bằng tình cảm, cảm
tính và trực giác. Để làm tốt chức năng văn hóa của văn học, đòi hỏi nhà văn cũng
phải là một nhà văn hóa, giáo dục. Nhà văn cần có kiến thức sâu rộng, có lương tâm
và tài năng nghệ thuật để tạo ra những giá trị văn hóa cao đẹp.
Nói tóm lại, một tác phẩm văn học có giá trị là phải hướng tới xây dựng những giá
trị văn hóa tốt đẹp. Nghị quyết của Trung ương Đảng khóa VIII đã chỉ rõ vai trò của
văn học đối với văn hóa như sau: "Phấn đấu sáng tạo nhiều tác phẩm văn học nghệ
thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, thấm nhuần tinh thần nhân văn dân chủ, có
tác dụng sâu sắc xây dựng con người". Đó cũng là mục tiêu cao cả mà nhiều nhà văn -
nhà văn hóa cần phấn đấu đạt tới.
1.3. Nhiệm vụ của văn học là gì?
Văn học là sự trao đổi thông tin giữa người phát và người nhận bằng một loại
ngôn ngữ đặc biệt, một sự trao thông điệp giữa nhà văn và độc giả. Nhà văn muốn nói
lên một tư tưởng nào đấy mới mẻ, "nhắn nhủ' một điều gì với người đọc nói như
Nguyễn Đình Thi, hay truyền đạt một "tấm nhiệt thành" nào đó như cách nói của
Nguyễn Văn Siêu. Thế nhưng tại sao mà lại phải "nói" với nhau bằng cách cầu kì như
vậy, một cách nói rất dễ bị hiểu sai, thay vì cách nói của ngôn ngữ hằng ngày. Chẳng
hạn nếu quả thật trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh nhà văn chỉ muốn nói với độc
giả rằng chiến tranh thật tàn khốc vì thế không có kẻ thắng tuyệt đối trong cuộc chiến
này thì cần gì phải tổ chức ra một cơ cấu nghệ thuật tự sự phức tạp như thế, sao không
nói trực tiếp" luôn? Vấn đề là ở chỗ tư tưởng mà tác giả muốn nói, nội dung mà tác
phẩm trình bày không phải là một luận điểm logic, một kiến thức kiểu khoa học xã
hội như vậy về phương diện cung cấp kiến thức kiểu này thì nghệ thuật chỉ cung cấp
những tri thức rất bình thường. Có người hỏi L.Tolstoi về tư tưởng của tiểu thuyết
Anna Karenina là gì, Tolstoi nói rằng để trả lời được câu hỏi đó ông chỉ có cách viết
lại cuốn sách từ dòng đầu đến dòng cuối. Thông điệp mà nhà văn muốn gửi người đọc
là một cách nhìn, một cách nghe, một cảm giác, cảm xúc yêu ghét, suy nghĩ riêng,
mới mẻ và mang tính tổng hợp, tổng hợp như một cách sống.
Văn học như vậy không phải nhằm mô tả hiện thực nếu thế nó chỉ chạy theo
hiện thực, không phải là "nghiền ngẫm về hiện thực" nếu thế nó chỉ là sự nhận thức
thuần lí không khác gì khoa học, văn học đó là một cách sống với hiện thực.
4
Mỗi nghệ sĩ, đúng hơn, mỗi lối viết đề nghị một cách sống với hiện thực riêng.
ý muốn nêu lên tư tưởng chủ đạo" của tác phẩm chỉ với một vài câu nhận định tóm
lược là bất khả. Một điều quan trọng nữa ở tác phẩm văn học là nội dung không tách
biệt với hình thức, hình thức cũng là thành phần của nội dung: một cách diễn đạt, một
cách tổ chức ngôn ngữ khác biệt thơ của nhóm Lê Đạt…, những lối cấu trúc tiểu
thuyết phi truyền thống các thử nghiệm của các nhà tiểu thuyết trẻ: Tạ Duy Anh,
Nguyễn Bình Phương… cũng chính là một cách nghe, cách nhìn mới của nhà văn nội
dung), giống như trong hội họa, một sự phối màu mới, một tổ chức không gian mới là
một cách cảm nhận mới của họa sĩ. Theo quan điểm đó thì ngày hôm nay chúng ta rất
cần lưu tâm tới các sáng tạo hình thức mới và độc đáo.
Chương 2 Tìm hiểu về vấn đề tính chân thực trong văn học hiện thực.
2.1 Thực trạng của văn học hiện nay.
Việc đề cao quá mức đặc tính phản ánh và nhiệm vụ mô tả hiện thực của văn
học đã dẫn đến chỗ hiểu lệch bản chất của hoạt động sáng tạo nghệ thuật, coi nhẹ sự
tìm tòi tư tưởng và thể hiện những suy nghĩ của cá nhân nghệ sĩ trong tác phẩm.
Không phải những người khuyếch đại nhiệm vụ phản ánh hiện thực của văn học
không nói đến sáng tạo của nghệ sĩ, đến tính tích cực chủ quan của nhà văn. Nhưng
đây vẫn chỉ là cái nằm trong khuôn khổ tính tích cực của sự phản ánh, nghĩa là phản
ánh có suy nghĩ, có đánh giá lựa chọn v.v chứ chưa phải tính tích cực như nguyên lý
tổng quát của sáng tạo nghệ thuật. Trên bình diện lý luận nghệ thuật, văn học trước
hết không phải là phản ánh hiện thực mà là sự nghiền ngẫm về hiện thực. Tác phẩm
nghệ thuật thể hiện cách nhìn của nhà văn về cuộc sống, sự khao khát công lý xã hội:
nó là lời tâm sự hay sám hối, là tiếng nói của tình yêu cái đẹp không đạt được, là gánh
nặng ưu tư về lẽ đời, lẽ còn mất của nhân sinh và vũ trụ. Văn học chủ yếu không phải
là ghi chép, mô tả hiện thực mà là hành động tự nhận thức của nhà văn, nhờ đó tác
phẩm nghệ thuật trở thành mảnh đất nuôi dưỡng tình cảm con người, thành khu vườn
nơi tâm hồn con người đến đơm hoa kết trái, như hình thức tồn tại và phát triển độc
đáo của đời sống tinh thần nhân loại.
Văn học không phải không phản ánh, mô tả hiện thực, nhưng đừng nên xem
đây là nhiệm vụ quan trọng nhất, nhiệm vụ hàng đầu và bao trùm của nó. Nội dung
của tác phẩm văn học vì vậy cũng chứa đựng trước hết không phải hiện thực được
phản ánh, mà là tư tưởng, tình cảm của nhà văn. Điều này ngay Lê Quý Đôn cũng đã
nói từ hai trăm năm trước: "Ta thường cho làm thơ có ba điều chính: một là tình, hai
là cảnh, ba là sự lấy tình tham cảnh, lấy cảnh hội việc, gặp việc thì nói ra lời, thành
tiếng". Rõ ràng sẽ là không đúng nếu để mặt "tình" trong nghệ thuật xuống hàng thứ
hai. Đó là một bước thụt lùi so với cách nghĩ của cha ông ta xưa.
Do không chú ý đến mặt chủ quan của nội dung nghệ thuật, tư tưởng của tác
phẩm văn học thường chỉ được xem xét chủ yếu trong giới hạn của tính khuynh
hướng và trước hết là tính nhân dân, tính đảng. Vì vậy, mặc dù tính tư tưởng có vẻ
5
như vẫn được nhắc đến, thậm chí được đề cao, nhưng thực chất nó chỉ còn lại như
một thứ tư tưởng chung chung, tư tưởng của Đảng, của tất cả mọi người, một thứ
quan điểm lập trường dùng làm chỗ dựa để phản ánh cho "đúng", cho "hùng hồn" mà
thôi. Còn bao nhiêu suy nghĩ tâm huyết của nhà văn, những điều mình nghiền ngẫm,
giày vò, cho là phải trái, những niềm vui nỗi buồn hết sức đơn giản của đời người thì
ít khi được thể hiện trong tác phẩm. Sáng tác nghệ thuật mất dần tính chất của một
cuộc hành hương đi tìm chân lý. Lâu ngày rồi chính bản thân nhà văn, từ chỗ ban đầu
e ngại, giữ cho "an toàn" cũng đi dần đến chỗ lười suy nghĩ, học hỏi, nên khi có dịp
được nói, "cho nói" thì khá đông người lại chẳng có gì để nói, đâm ra nói như cũ,
giống như chú gà nuôi trong ống lâu ngày, khi thả ra ngoài vẫn không quen, cứ đi
ngật ngưỡng.
Văn học rất cần sự thật, nhưng sự thật trong văn học không phải chỉ là sự thật
của các tính cách và sự kiện được mô tả mà còn là sự thật của cách nhìn, của thái độ,
cách đánh giá của nhà văn đối với những hiện tượng được phản ánh, tức là tính chân
thực lịch sử của tư tưởng - tình cảm tác phẩm. Yêu ghét cũng có công lý, tính khách
quan của nó. Yêu cái đáng yêu, ghét cái đáng ghét cũng là một biểu hiện quan trọng
của sự thật trong văn học, của chân lý nghệ thuật.
Muốn phản ánh hiện thực cho chân thực, nói chung cái yêu ghét của nhà văn
phải đúng. Nhưng đồng thời nghệ sĩ cũng phải biết và dám nói thật. Văn học là lương
tâm của xã hội, vì vậy tự nó đã xa lạ với những gì phi đạo đức. Những tình cảm xa lạ
với lương tri con người, dù thành thật đến đâu, cũng đều có hại cho nghệ thuật. Song
văn học lại thường rất rộng lượng với những lầm lạc về nhận thức, với sự vấp ngã của
con người trên con đường đi tìm chân lý. Chân lý càng phức tạp và vĩ đại, lầm lạc của
nhà văn càng lớn, nhưng nếu nghệ sĩ thực sự chân thành thì tác phẩm của anh ta sẽ
toát lên hào quang và sự hấp dẫn của cái chết tử vì đạo. Bởi vậy trong nghệ thuật,
quan trọng không phải chỉ là chuyện đúng sai mà là vấn đề thật giả. Nói thật một cách
sai lầm thường vẫn không đáng ghét như là nói dối một cách đúng đắn.
Mặt khác phải thấy rằng nói thật và nói sự thật không phải bao giờ cũng là một.
Có khi anh chân thành đấy, nhưng vì nói một chiều, định hướng của anh sai, nên
thành ra chỉ mới nói được một nửa sự thật. Chẳng phải mấy chục năm qua phần đông
nhà văn chúng ta cũng tin mình nói thật đó sao? Mà có lẽ đúng như vậy. Nhưng bây
giờ thì trừ những người "yêu quá khứ" vì quá yêu mình ra, mấy ai nghĩ rằng văn học
ta đã nói hết được sự thật?
Như vậy rõ ràng mối quan hệ giữa văn học và hiện thực rất phức tạp. Một mặt
đó là tiếng nói, cái nhìn của nhà văn về hiện thực, mặt khác là bản thân hiện thực
được phản ánh, ghi lại trong tác phẩm. Tính chân thực trong văn học, do đó, cũng
không phải chỉ là tính chân thực của sự phản ánh, mà còn là tính chân thực lịch sử của
thái độ, cách đánh giá và sự trung thực của nhà văn.
6
Nhà văn không thể không phản ánh trong sáng tác của mình những sự kiện,
những vấn đề nóng bỏng của xã hội. Nhất là trong tình hình khi đời sống còn nhiều
điều bất công, không hợp lý, khi sự thật về quá khứ còn nằm bí mật trong các kho lưu
trữ và ký ức con người; nhiều việc còn bị bưng bít; xã hội thiếu thông tin, tác phẩm
văn học đúng là còn nhiều lúc vẫn phải đóng vai một thứ "nói bóng nói gió" chính trị
hoặc can dự trực tiếp vào chính trị, làm công việc của chính luận. Nhưng nhiệm vụ
chủ yếu và lâu dài của văn học trong việc phản ánh hiện thực vẫn là mô tả số phận
con người, khắc họa các tính cách con người.
Để khắc họa chân thực bức tranh về con người và xã hội, ngoài việc "được
phép" mô tả, ngoài thái độ dũng cảm ra, nhà văn còn phải có cách nhìn đời từng trải,
đa dạng. L. Tolstoi có lần nói: "Một trong những lầm lẫn vĩ đại nhất khi xét đoán về
con người là chúng ta hay gọi và xác định người này thông minh, người kia ngu xuẩn,
người này tốt, người kia ác, người thì mạnh mẽ, người thì yếu đuối, trong khi con
người là tất cả: tất cả các khả năng đó, là cái gì luôn luôn biến đổi".
Trong cuộc sống, cái tốt và cái xấu, cái được và cái mất tồn tại cạnh nhau, gắn
chặt với nhau, vì vậy nếu chỉ nói cái tốt hoặc cái được là chỉ mới nói một phần sự
thật. Chúng ta ngại nói đến cái bi vì lẫn lộn cái bi trong đời và trong nghệ thuật. Khi
tự mình nhìn thấy đau thương chết chóc, người ta có thể yếu đuối và bi quan, nhưng
khi tiếp xúc với cái bi trong nghệ thuật, con người trở nên từng trải hơn, hiểu sâu sắc
hơn tính chất phong phú, phức tạp của cuộc sống, tập đối mặt với sức mạnh của cái
ác. Lúc xem phim, đọc sách mà buồn và khóc là lúc người ta trong sáng, cao thượng.
Cứ thế tác phẩm nghệ thuật chân chính mỗi lần làm rơi nước mắt con người lại làm họ
trở nên trong sạch hơn, hoàn thiện hơn.
Với cái xấu cũng vậy. Phải chăng trên đời cũng có nhiều điều ác thì lại càng có
thêm nhiều cớ để viết văn? Lòng tự trọng chân chính, công lý và tình yêu cái đẹp bị
xúc phạm nhiều khi thúc đẩy người ta cầm bút không kém gì cảm hứng lãng mạn về
chính nghĩa và cái đẹp. Không nên xem hễ viết về cái xấu là "bôi xấu", "bôi đen". Hãy
để cho nhà văn nói thật về cái xấu, cái ác trong xã hội và bằng cách đó hỗ trợ cho
cuộc đấu tranh không ngang sức giữa thiện và ác, bởi vì trong đời cái đẹp thì mong
manh, dễ vỡ, lòng tốt thì vụng dại, ngây thơ, còn cái ác, cái đểu cáng thì dạn dĩ, liều
lĩnh, thông minh - phải nham hiểm và khôn ngoan thế nào mới có thể ác và xấu được.
Đã thế sức tàn phá của cái xấu lại lớn hơn gấp trăm lần sức mạnh của cái đẹp. Tà áo
trắng chỉ cần một vết mực nhỏ cũng mất giá trị, một gam chất độc cũng đủ giết chết
bao nhiêu mạng người. Phá bao giờ cũng dễ hơn xây là vì vậy. Văn học cần miêu tả
cái xấu để người ta nhận diện nó, lên án nó, chống lại nó.
Thời gian gần đây không khí xã hội ta đã bắt đầu cởi mở hơn, dù mới chỉ là đôi
chút. Quả bóng có vẻ như đang trả về sân giới sáng tác. Mọi người đang chờ xem nhà
văn có dám nói thật không và có thể nói sự thật đến mức nào. Nhưng rõ ràng là cứ
phải nói đi mới được. Cứ nói thì mới biết "được phép" nói đến chừng nào là vừa, còn
7
cứ chờ xem thử "được nói" đến đâu mới viết thì không khéo cái quyền thiêng liêng
kia lại sẽ thu hẹp chỉ vừa đúng với sự dè dặt của anh thôi.
Như vậy xét theo một khía cạnh nào đó, vấn đề văn học phản ánh hiện thực
cũng là vấn đề tính công khai của xã hội và sự thành thật của nhà văn. Thành thật và
công khai là một trong những bí quyết và sức mạnh của sự sống, sự phát triển. Che
đậy, khép kín, đóng cửa là dấu hiệu của sự yếu ớt, sẽ dẫn đến tự tiêu diệt. Khi đã già,
L. Tolstoi vẫn chép vào vở câu nói của nhà văn Anh John Ruskin: "Hãy sống cho
công khai cởi mở. Ở đâu còn bưng bít là ở đó còn tội ác và hiểm họa. Những gì tốt
đẹp và an lành của đời sống con người đều trực tiếp phụ thuộc vào thái độ công khai
cởi mở ấy".
Văn học hôm nay sẽ còn lại với mai sau không chỉ là bức tranh hiện thực về số
phận con người mà còn là ký ức về bộ mặt tinh thần của xã hội chúng ta, là nhân
chứng về bản lĩnh và nhân cách của con người cầm bút.
2.2. Văn học là tấm gương phản ánh hiện thực và thời đại.
“Văn học phản ảnh hiện thực” đây là quan điểm mà các nhà lí luận văn học thường
nhắc đến và quan điểm ấy được xem là đúng và được xem là vấn đề trung tâm của lí
luận văn học. Bởi muốn phản ánh hiện thực của thời đại thì ta phải đi in cái "dấu ấn"
vào văn học hay vào lích sử. Không chỉ vậy việc phản ánh hiện thực còn đúng đối với
toàn bộ các thành phần của văn hóa: các tư tưởng, học thuật, nghệ thuật và bản thân
văn hóa như một chỉnh thể độc lập, đơn nhất đều phản ảnh hiện thực.Từ khi mỗi con
người sinh ra tuy không phải ngay lập tức đã có thể sáng tạo ra sản phẩm văn hóa,
nhưng phải có một quá trình học cách tư duy và sự trải nghiệm văn hóa đến mức độ
trưởng thành nhất định. Hơn nữa, tư duy không phải là suy nghĩ trong tình trạng trống
không, không phải là khoắng tay trong thùng rỗng, tư duy là suy nghĩ bằng vật liệu:
chất liệu đời sống đương thời, kiến thức truyền miệng, sách vở. Nói riêng trong văn
học, vật liệu là ngôn ngữ, ngôn ngữ luôn luôn mang thông tin về hiện tại.cả lối tư duy,
cả vật liệu tư duy và kết quả là cả sản phẩm của nó đều mang dấu ấn của hiện thực
một thời đại nhất định.Bởi vậy phản ảnh hiện thực do đó là bản tính tự nhiên của văn
hóa, trong đó có văn học. Xét trên bình diện triết học “văn học phản ảnh hiện thực” ấy
là điều hiển nhiên, không cần phải bàn cãi. Mọi thứ trong hiện thực cuộc sống đã
được các nhà văn phản ánh chân thục trong tác phẩm văn học của mình, dưới ngòi bút
đó tất cả những gì đang có trong hiện thực cuộc sống đều được ghi lại độc đáo. Chính
vì điều đó văn học phản ánh hiện thực là Văn học và hiện thực là một trong những
vấn đề trung tâm của lí luận văn học, và là một việc cần thiết cho nền văn học của
chúng ta Văn học là tấm gương phản chiếu đời sống xã hội nhà văn là thư kí của thời
đại nếu là nhà văn vĩ đại thì tác phẩm của anh ta phản ánh ít ra vài ba khía cạnh chủ
yếu của cuộc cách mạng. Đối với các bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực, phản ánh hiện
thực có nghĩa là tìm kiếm các giá trị nhận thức, đạo đức, thẩm mĩ của đời sống, lột
trần các dối trá, phơi bày mọi ung nhọt, xé toạc mọi mặt nạ, là dấn thân vào tiến trình
8
tiến bộ của xã hội. Các tư tưởng đó đã diễn đạt khá đúng và hay về mối quan hệ giữa
văn học và đời sống lịch sử trên tầm vĩ mô, nghĩa là toàn bộ các sự kiện, nhân vật, tư
tưởng, tình cảm thể hiện trong văn học nghệ thuật đều là sự phản ánh của đời sống xã
hội. Cho dù quan niệm phương Đông xưa xem văn học là dùng để nói chí, hoặc chủ
nghĩa lãng mạn phương Tây xem văn học “biểu hiện tình cảm, khát vọng chủ quan
của con người” thì cái chí ấy, tình cảm ấy cũng đều là phản ánh đời sống xã hội. Tuy
vậy, coi phản ánh luận là lí thuyết duy nhất để giải thích văn học nghệ thuật là chưa
đủ, vì với tư cách là nhận thức luận, phản ánh luận chưa thể đi vào các quy luật sáng
tạo của văn học nghệ thuật cũng như quy luật tiếp nhận của người đọc. Để hiểu nghệ
thuật người ta phải nghiên cứu quy luật sáng tạo, tâm lí học sáng tạo, kí hiệu học, tiếp
nhận nghệ thuật nhưng không vì thế mà phủ nhận văn học phản ánh hiện thực, tức là
phản ánh sự kiện, kinh nghiệm, tư tưởng, tình cảm của con người trong văn học.
2.3. Hiện thực của văn học bắt nguồn từ thực tiễn.
Quan niệm hiện thực như là tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý thức
con người đã trở nên siêu hình, không phù hợp thực tế. Hiện thực là thực tại trong mối
quan tâm của con người. Từ đó, mỗi hình thái ý thức xã hội có một đối tượng hiện
thực tương ứng với nó. Hiện thực của văn học không giống với hiện thực của khoa
học xã hội, khoa học tự nhiên và chính trị. Một thời gian rất dài chúng ta hiểu “hiện
thực” của văn học là cái thực tế hiểu theo một định hướng hẹp (hiện thực đấu tranh
thống nhất nước nhà, hiện thực đấu tranh hai con đường, hiện thực phong trào thi
đua mà thực chất đó là hiện thực đã được chính trị hoá). Hiện thực của văn học
không tách rời với chính trị, nhưng không đồng nhất với hiện thực của chính trị.
Chẳng hạn, hiện thực chính trị không nhất thiết bao gồm hiện tượng vô cảm của cá
nhân đối với số phận của đồng loại, sự rung cảm trước thiên nhiên nhưng đó là điều
không thể bỏ qua đối với hiện thực của văn học. Điều này L. Tolstoi đã nói rất hay
trong tác phẩm Luserne. Có thể hiểu, hiện thực của văn học là thế giới ý nghĩa mà con
người sống trong đó. Vũ trụ, thiên nhiên, con người, xã hội, văn hoá, đồ vật chỉ khi
có ý nghĩa đối với con người mới là hiện thực. Tất cả những gì mà con người tìm thấy
có ý nghĩa đối với cuộc sống và từ đó khám phá những con đường để đi tới cuộc sống
có ý nghĩa tốt đẹp hơn, thú vị hơn trong nghệ thuật đều là hiện thực. Thực tiễn cho
phép người ta càng ngày càng phát hiện ra nhiều ý nghĩa của thế giới đối với đời sống
và do đó mà cả đối với nghệ thuật. Ý nghĩa của sự vật thay đổi theo quá trình thực
tiễn. Không có hiện thực bất biến, muôn thuở. Văn học phản ánh hiện thực đó trong
tính đa diện, toàn vẹn và tính thời đại.
Thực tiễn là tính chất quan trọng nhất của hiện thực con người. Thực tiễn là
hoạt động của con người để vượt qua hữu hạn nhằm hướng tới lí tưởng vô hạn và tự
do. Con người là giống vật luôn ý thức sự hữu hạn của chính mình từ trong mọi hoạt
động sống như cô đơn, tuổi thọ, khả năng chinh phục thế giới và bản thân, hữu hạn
trong sản xuất, trong tình yêu, trong sáng tạo, nhận thức, cảm nhận. Trong hoạt động
9
vượt lên chính mình con người nếm trải mọi tình cảm từ vui sướng, tự hào, cao cả,
đến bất lực, bi đát, khôi hài, nhục nhã, cay đắng Vì vậy hiện thực con người rất
phong phú, phức tạp, muôn màu.
2.4. Phương pháp sáng tạo phản ánh hiện thực.
Theo cách hiểu nêu trên, mọi sáng tác nghệ thuật đều phản ánh hiện thực theo
những cái khả nhiên mà nghệ sĩ lựa chọn để nêu lên những vấn đề bức xúc của nhân
sinh, hướng tới tạo lập một nhãn quan mới về thế giới cho người đọc. Sự khác nhau
của sáng tác nằm ở phương pháp sáng tác với tư cách là ngôn ngữ phản ánh khác
nhau. Do đó để phản ánh hiện thực sâu sắc, rộng lớn, không phải chỉ độc tôn một chủ
nghĩa hiện thực như trước đây mà có thể sử dụng nhiều phương pháp - ngôn ngữ nghệ
thuật khác. Dòng ý thức, theo tôi hiểu cũng là một ngôn ngữ hiện thực, bởi nhà văn sử
dụng ngôn ngữ chiêm nghiệm bên trong của dòng ý thức của mỗi con người mà do
một thời chúng ta chỉ quen với ngôn ngữ khách quan bên ngoài mà bỏ quên nó đi.
Ngôn ngữ huyền thoại, hoang tưởng, nghịch dị, xáo trộn không gian thời gian cũng
không xa lạ với tư duy kì ảo dân gian và sáng tác của các tác giả lớn như Bồ Tùng
Linh, Kafka, Marquez đều có giá trị trong việc sáng tạo ra những hình tượng văn
học có tầm cỡ dân tộc và nhân loại. Như thế để khái quát hiện thực hôm nay chúng ta
có thể sử dụng các loại ngôn ngữ nghệ thuật đa dạng nhất.
Chương 3: Mối quan hệ giữa văn học và hiện thực.
3.1. Văn học trong phản ánh cuộc sống thường ngày.
Mỗi con người sinh ra không phải ngay lập tức đã có thể sáng tạo ra sản phẩm
văn hóa, phải có một quá trình học cách tư duy và sự trải nghiệm văn hóa đến mức độ
trưởng thành nhất định. Thêm nữa, tư duy không phải là suy nghĩ trong tình trạng
trống không, không phải là khoắng tay trong thùng rỗng, tư duy là suy nghĩ bằng vật
liệu: chất liệu đời sống đương thời, kiến thức truyền miệng, sách vở. Nói riêng trong
văn học, vật liệu là ngôn ngữ, ngôn ngữ luôn luôn mang thông tin về hiện tại, chẳng
hạn cách sử dụng ngôn ngữ của giới trẻ hiện nay mang dấu ấn của thời đại internet và
điện thoại di động. Ngôn ngữ còn hàm chứa kí ức truyền thống
Bất kì một tác phẩm cách tân táo bạo nào cũng dựa trên truyền thống: lệch
chuẩn, phá cách, "phủ định truyền thống" cũng đều dựa trên truyền thống. Không
bảo lưu kí ức về truyền thống, sự cách tân không thể tiếp nhận được. Nói chung, cả
lối tư duy, cả vật liệu tư duy và kết quả là cả sản phẩm của nó đều mang dấu ấn của
hiện thực một thời đại nhất định, xác nhận một tọa độ không - thời gian nhất định,
nghĩa là phản ảnh hiện thực thời đại ấy. Phản ảnh hiện thực do đó là bản tính tự nhiên
của văn hóa, trong đó có văn học. Xét trên bình diện triết học “văn học phản ảnh hiện
10
thực” ấy là điều hiển nhiên, không cần phải bàn cãi. Thế nhưng trên bình diện nghệ
thuật, việc coi “phản ảnh hiện thực” là nhiệm vụ chính của văn học, là nội dung và giá
trị chủ yếu của tác phẩm văn học, rồi sau đó đưa chủ nghĩa hiện thực lên vị trí độc tôn
thì lại cần phải tiếp tục trao đổi.
Việc đề cao văn học tả thực theo nghĩa trình bày đời sống bằng những hình
thức của bản thân nó là sản phẩm của quan điểm mĩ học mac -xit. Nhưng quan điểm
này cũng biến đổi trong lịch sử lí luận, phê bình. Một bài viết rất đáng chú ý của nhà
thơ Nguyễn Đình Thi cho thấy quan điểm về hiện thực nghệ thuật và chủ nghĩa hiện
thực ở thời kì đầu của nền văn nghệ Cách mạng còn chưa đến mức khô cứng. Đấy là
bài Hiện thực mới đăng trên Tạp chí Văn nghệ số 10, tháng 3/1949. Xuyên suốt bài
viết là sự lí giải mối quan hệ giữa văn nghệ với đời sống và cái gọi là hiện thực của
văn nghệ thực chất là gì. Có lẽ đây là bài đầu tiên của văn nghệ Cách mạng bàn một
cách tương đối có hệ thống về hiện thực nghệ thuật và chủ nghĩa hiện thực. Nó được
chấp bút bởi một "nhà tư tưởng" của giới văn nghệ kháng chiến bấy giờ và được đăng
ở vị trí quan trọng của tờ Tạp chí. Ngay dòng mở đầu, tác giả viết: "Trước hết chúng
ta hãy cùng nhau thanh toán hai chữ tả thực ". Tác giả nói rõ: "Văn nghệ không phải
chỉ tả lại cái đời thực, sáng tác không phải ghi chép lại những việc có thực, như một
cái máy chụp ảnh
Nhưng cuộc sống thay đổi, tư tưởng văn học cũng biến đổi! Sáu năm sau, trong
một loạt bài phát biểu về văn học của Nguyễn Đình Thi, đã thấy rõ cái xu hướng đòi
hỏi văn học phải "áp sát" đời sống, vật liệu giờ đây có vẻ đã được coi trọng hơn tư
tưởng của nhà văn. Trong cuộc tranh luận về tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu từ khoảng
tháng 11/1954 đến tháng 3/1956, Nguyễn Đình Thi viết 3 bài, xu hướng chung là ủng
hộ Tố Hữu và coi Việt Bắc là tập thơ có giá trị. Tuy nhiên, ông cũng chỉ ra "nhược
điểm" của tập thơ là thiếu "cái phần "tươi mới", cái tính chất còn "ròng ròng sự sống",
do "nhà thơ không có điều kiện hay là anh chưa cố gắng tạo cho mình thêm điều kiện
sống hằng ngày giữa thực tế quần chúng, ở những nơi đấu tranh điển hình nhất " Nơi
đấu tranh điển hình nhất lúc này đã được xem là nơi diễn ra cuộc đấu tranh giai cấp
gay gắt: "Nhưng cái ảnh hưởng rõ ràng và thiệt thòi nhất của sự thiếu thực tế đó là
nhà thơ chưa sáng tác được về cải cách ruộng đất vì thực tế cải cách ruộng đất là thực
tế vĩ đại và mới mẻ " Lúc này ở ông đã thấy nhiều nhận định đại loại: "Tôi nghĩ
nhiệm vụ thứ nhất của mọi ngành nghệ thuật, kể cả thơ ca vẫn là biểu hiện thực tế
cuộc sống, biểu hiện những con người, nhất là những con người lao động là những
anh hùng của thời đại chúng ta. Dù là một nghệ sĩ tài năng, một trí thức lớn có suy
nghĩ độc lập, nhưng ông cũng không thể không bị giới hạn bởi môi trường tư tưởng
và học thuật giữa thập niên 50, khi mà cơn giông tố của cuộc đấu tranh tư tưởng quyết
liệt trong văn nghệ đã bắt đầu nổi lên trên đường chân trời.
Theo tôi, nhiệm vụ của văn học không phải là trình bày đời sống, nói đúng hơn,
trình bày đời sống chỉ là cách tổ chức "trò chơi" của riêng văn học hiện thực và một
11
số kiểu gần gũi với nó. Văn học hoàn toàn có thể trình bày giấc mơ hoặc cái bóng của
sự vật như Nguyễn Văn Siêu đã nói. Cuộc sống, con người trong tác phẩm cũng như
"bông hoa trong gương, bóng trăng dưới nước", nói chung đó chỉ là ảo ảnh về đời
sống có thực. Độc giả tham dự vào cuộc sống trong tác phẩm hiện thực về bản chất
cũng không khác mấy một đứa trẻ chơi với thế giới búp bê của mình, nó cứ nghĩ đấy
là một cuộc đời thật. Cũng có những "trò chơi" nghệ thuật khác, không kéo độc giả
vào sống với các ảo ảnh mà đẩy ra một khoảng cách, nói rõ đây là những trò chơi và
chỉ ra các quy tắc của trò chơi, để người ta suy nghĩ; chúng nhắm tác động đến người
đọc về lí trí hơn là về tình cảm, chúng ít làm ta cảm động mà vẫn ám ảnh, dằn vặt tâm
trí chúng ta. Thơ tượng trưng, siêu thực, kịch B. Brếch, một số truyện của Nguyễn
Huy Thiệp, nhiều tiểu thuyết hậu hiện đại là như vậy. Nhưng cũng phải nói rằng văn
học hiện thực có rất nhiều thành tựu nghệ thuật đỉnh cao, nó là sự mê dụ vĩ đại, và nó
cũng nhiều khi được lợi dụng để thực hiện những chiến lược giáo dục, vận động cải
cách xã hội có hiệu quả.
3.2. Văn học và hiện thực đất nước hôm nay.
Văn học có chức năng phản ánh hiện thực, điều ấy có lẽ không có gì để bàn.
Cái đáng bàn là hiện thực gì, hiện thực đó được nhìn bằng con mắt mở hay bằng con
mắt khép, thậm chí không nhìn bằng mắt. Rồi hiện thực đó được phản ánh qua thể
loại nào, ví như hiện thực của thơ không giống với hiện thực của tiểu thuyết, không
phải chỉ ở dung lượng mà ở bản chất của nó, dù cùng một tác giả và viết cùng một
phương pháp sáng tác.
Hiện thực của đất nước hôm nay là những biểu hiện của một xã hội đang vận
hành trong cơ chế thị trường, từng bước hội nhập với thế giới, với tất cả mặt sáng và
mặt tối của nó. Nói thật gọn, tôi hiểu là như vậy và tôi quan tâm đến mảng hiện thực
này, vì nó đang tác động rất ráo riết đến đời sống của cả xã hội và của tất cả mọi
người. Với sự cởi mở của công cuộc Đổi mới, nhà văn được thấy và được viết về các
mặt đối lập vốn có của hiện thực, và như thế, mọi rào cản đã cơ bản được tháo gỡ.
Nước ngoài có một câu ngạn ngữ rất hay: "Một nửa cái bánh mì vẫn là cái bánh mì,
nhưng một nửa sự thật vẫn không phải là sự thật". Chúng ta chưa có một tài năng nào
đủ sức khái quát nghệ thuật, về độ lớn đó của đời sống hiện thực, kể cả khi được phép
viết về hai mặt của một tấm huân chương, để có một tấm huân chương như nó vốn có.
Vấn đề đặt ra cho nền văn chương của chúng ta hiện nay là như vậy. Cũng không phải
vì không có hoặc ít có tiền đầu tư. Tôi cho rằng, nhiều tác phẩm viết theo kiểu làm
hàng (đầu tư), chỉ là tác phẩm trung bình. Mà nền văn học thì không cần các tác phẩm
trung bình.
Bây giờ văn học không còn quan trọng như trước đây, nhưng vị trí của nó
trong đời sống tinh thần của con người thì không thay đổi và cũng không có gì thay
thế được. Tôi cầm bút là vì sự thôi thúc của chính bản thân tôi. Trong "Kỷ yếu nhà
12
văn", phần suy nghĩ về nghề, tôi chỉ ghi có một câu: "Có một nỗi niềm nào đó thực sự
ám ảnh anh, buộc anh phải viết ra, để giữ thăng bằng cho chính bản thân mình".
13
PHẦN KẾT LUẬN
Tóm lại, khi bàn về văn học hiện thực thì trào lưu văn học nghệ thuật lấy
hiện thực xã hội và những vấn đề có thực của con người làm đối tượng sáng
tác nhằm cung cấp cho người đọc những bức tranh chân thực, sống động,
quen thuộc về cuộc sống, về môi trường xã hội xung quanh. Văn học hiện
thực thời hiện đại, và phẩm cách người cầm bút không chỉ buộc nhà văn
phải viết thật, phản ánh thật mà còn phải có trí tuệ và bản lĩnh để nhìn ra ánh
sáng con đường phát triển một xã hội, một dân tộc đang trên tiến trình hội
nhập. Thông điệp mà nhà văn muốn gửi người đọc qua văn học hiện thực là
một cách nhìn, một cách nghe, một cảm giác, cảm xúc yêu ghét, suy nghĩ,…
riêng, mới mẻ và mang tính tổng hợp, tổng hợp như một cách sống. Văn học
như vậy không phải nhằm mô tả hiện thực, không phải là “nghiền ngẫm về
hiện thực” văn học đó là một cách sống với hiện thực. Góp phần tăng thêm
tính đa dạng và phong phú của nền văn học.
Trên cơ sở tiếp thu thành quả nghiên cứu của các nhà ngiên cứu, tôi đã vận
dụng vào bài tiểu luận của mình. Vì kiến thức có giới hạn nên trong quá
trình làm bài không tránh khỏi sai xót mong thầy cô đóng góp ý kiến để sửa
chữa. Tôi xin chân thành cảm ơn!
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét