Những buổi đầu tiên đến trờng, trẻ vô cùng bỡ ngỡ, quấy khóc, sợ sệt,
ngại giao tiếp với bạn bè và cô giáo. Nhng sau một thời gian học tập cháu đã
bạo dạn hơn, thích đến lớp và tham gia vào các hoạt động của lớp. Nhận thức
của trẻ về mọi mặt đã đợc hình thành và phát triển. Cùng với sự nhận thức về
các môn học nh âm nhạc, toán, văn học trẻ đã có một khả năng phân biệt đợc
cái đẹp trong cử chỉ, trong lời ăn tiếng nói, đặc biệt hơn là trẻ đã rất yêu thích
cái đẹp và mong muốn tạo ra cái đẹp.
Bên cạnh những thuận lợi đó, giáo dục thẩm mỹ ở nhà trờng còn gặp một
số khó khăn sau:
-Trình độ giáo viên không đồng đề, cha phát huy đợc vai trò dạy học
sáng tạo, đôi khi còn dập khuôn, máy móc các hình thức, biện pháp. Do đó cha
thu hút trẻ tích cực hoạt động.
- Việc bồi dỡng kỹ năng giáo dục thẩm mỹ cho giáo viên hàng năm cha
đợc sâu sát và đầy đủ.
- Cha có sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trờng trong giáo dục
thẩm mỹ, đa số phụ huynh có quan niệm đến lớp là phải học chữ, học toán.
Đó là một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến chất lợng giáo dục thẩm mỹ
cho trẻ cha cao.
Là giáo viên mầm non sau khi đợc tiếp thu những kiến thức lý luận về
giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo, tôi đã nhận thức đúng đắn và sâu sắc việc
giáo dục thẩm mỹ là một việc làm cần thiết và không thể thiếu ở trờng mầm
non, đặc biệt là trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi chuẩn bị bớc vào học trờng phổ thông.
Với khuôn khổ là một bài tập cuối khoá em đã lựa chọn đề tài : Tìm
hiểu thực trạng giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi để nghiên cứu,
tìm hiểu giữa lý luận và thực tiễn mình đã làm đợc đến đâu? đã làm đợc những
gì trong việc giáo dục thẩm mỹ cho trẻ ở trờng lớp. Từ đó có biện pháp phù hợp
để vận dụng trong quá trình công tác và giảng dạy. Nhằm góp phần hình thành
ở trẻ khả năng cảm thụ và sáng tạo ra cái đẹp, cũng nh việc làm thay đổi nhận
thức của cán bộ giáo viên trong nhà trờng và các bậc phụ huynh về giáo dục
thẩm mỹ theo đúng nghĩa của nó.
5
II. Mục đích nghiên cứu
1. Đánh giá thực trạng giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo lớn ở trờng
mầm non Cẩm Sơn - Anh Sơn - Nghệ An.
2. Làm rõ và nhận thức sâu sắc về nội dung giáo dục thẩm mỹ cho trẻ
mẫu giáo lớn.
3. Nêu phơng pháp và biện pháp để nâng cao chất lợng giáo dục thẩm mỹ
cho trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo lớn ở trờng mầm non Cẩm Sơn - Anh Sơn - Nghệ
An.
III. Nhiệm vụ nghiên cứu
1. Tìm hiểu cơ sở lý luận của đề tài
2. Tiền hành điều tra thực trạng và tình hình giáo dục trẻ theo nội dung
giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo ở trờng mầm non Cẩm Sơn - Anh Sơn -
Nghệ An.
3. Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục thẩm mỹ
cho trẻ mẫu giáo nhỡ ở trờng mầm non Cẩm Sơn - Anh Sơn - Nghệ An.
IV. phơng pháp nghiên cứu
1. Phơng pháp đọc tài liệu
2. Phơng pháp điều tra qua trẻ, phỏng vấn
3.Phơng pháp thực nghiệm s phạm
4.Xử lý kết quả nghiên cứu bằng thống kê
V. Khách thể đối tợng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu : Trẻ mẫu giáo lớn
- Đối tợng nghiên cứu : Thực trạng giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo
nhỡ ở trờng mầm non Cẩm Sơn - Anh Sơn - Nghệ An.
6
VI . Giả thiết khoa học:
Nếu sử dụng hợp lý các biện pháp giáo dục thẩm mỹ cho trẻ 5-6 tuổi ở tr-
ờng mầm non Cẩm Sơn thì sẽ góp phần năng lực thẩm mỹ cho trẻ
VII. Nội dung nghiên cứu:
Chơng I : Cơ sở lý luận của đề tài
Chơng II. Thực trạng công tác giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo ở tr-
ờng mầm non Cẩm Sơn - Anh Sơn - Nghệ An.
Chơng III. Phơng hớng và một số biện pháp khắc phục giáo dục thẩm mỹ
cho trẻ mẫu giáo lớn.
7
Phần II. Nội dung nghiên cứu
Chơng I
Cơ sở lý luận của đề tài
I. Một số quan điểm về đổi mới nội dung giáo dục mầm non
1. Những căn cứ để đổi mới giáo dục mầm non
Sự phát triển của trẻ là một quá trình diễn ra liên tục và trải qua nhiều
giai đoạn, mỗi giai đoạn là một hoạt động chủ đạo riêng và cũng tạo ra sự phát
triển đặc thù của từng giai đoạn. Ngay từ khi sinh ra cho đến khi nhắm mắt xuôi
tay, con ngời lúc nào cũng phải học: học bú, học ăn, học nóiđây là cách học
thờng ngày đem lại cho chúng ta tiền tri thức khoa học, hình thành cho con ngời
những năng lực thực tiễn do kinh nghiệm mang lại. Song thực tế lại đòi hỏi
những con ngời phải có tri thức thực sự, những năng lực thực tiễn mà phơng
pháp của cuộc sống hàng ngày hoàn toàn bất lực không thể tạo ra đợc mà chỉ
phơng pháp đặc thù (phơng thức nhà trờng) mới có khả năng tổ chức để cá nhân
tiến hành một hoạt động đặc biệt gọi là hoạt động học mà qua đó hình thành ở
cá nhân những tri thức khoa học, những năng lực phù hợp với đòi hỏi của thực
tiễn.
Vì vậy, công tác giáo dục mầm non đã góp phần vào việc xây dựng kinh
tế xã hội chủ nghĩa, xây dựng một nền văn hoá mới, xây dựng con ngời mới xã
hội chủ nghĩa ngay từ buổi bình minh của cuộc đời đứa trẻ.
Việc đổi mới nội dung giáo dục trẻ mầm non phải đảm bảo cho đứa trẻ
thực sự tham gia vào các hoạt động và hoạt động tích cực. Từ đó phát triển
nhân cách cho trẻ. Từ những việc tổ chức hoạt động thu hút trẻ tham gia nh :
múa hát, kể chuyện, đọc thơ, vẽ, nặn kích thích sự tò mò khám phá của trẻ.
Muốn vậy, đứa trẻ phải đợc xem xét nh một nhân cách trọn vẹn, việc giáo dục
nhân cách phải dựa vào đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, vào điều kiện, hoàn cảnh
và môi trờng sống của trẻ.
Để thực hiện đợc nhiệm vụ đổi mới nội dung chăm sóc giáo dục trẻ.
Giáo dục mầm non cần có những chuyển biến mới về chất lợng đổi mới trong
sự đổi mới chung của ngành giáo dục đào taọ, nhằm khắc phục những tồn tại
mà giáo dục mầm non cha đáp ứng kịp theo sự đổi mới của công nghiệp hoá -
hiện đại hoá đất nớc.
8
Xu thế phấn đấu của ngành học mầm non đến năm 2010:
- Mở rộng quy mô nhà trẻ - mẫu giáo ở những nơi có nhu cầu và điều kiện.
- Tăng cờng cơ sở vật chất, nâng cao chất lợng giáo dục và chăm sóc trẻ
em tại các trờng dân lập, quốc lập, t thục, nhóm trẻ gia đình nhằm phát triển
tốt thể lực, trí tuệ và tình cảm thẩm mỹ cho trẻ.
2. Nhu cầu của các trờng mầm non đối với việc đổi mới nội dung giáo
dục trẻ.
Trong những năm gần đây, việc đổi mới giáo dục toàn diện đã đợc nhiều
ngời quan tâm. Những nhân tố mới trong giáo dục đã xuất hiện và làm tiền đề
cho sự phát triển tiếp theo của ngành giáo dục.
Đối với ngành học mầm non để thực hiện đợc việc đổi mới nội dung, ph-
ơng pháp, hình thức dạy trẻ thì trớc tiên nhà s phạm cần nắm đợc đặc điểm tâm
sinh lý của trẻ, từ đó vận dụng nội dung, phơng pháp dạy học đảm bảo tính vừa
sức cho trẻ.
Dạy học ở đây đợc hiểu theo nghĩa rộng, không bó hẹp trong nhóm lớp
mẫu giáo, trẻ học ở đây bao gồm: học ăn, học nói, học đi, học chào hỏi, học
quan sát sự vật, hiện tợng xung quanh. ở đây các cô đợc ví nh ngời trồng cây,
phải tạo dựng cho đợc những mầm non khoẻ mạnh về thể chất và tinh thần vững
bớc vào cuộc sống, làm chủ tơng lai đất nớc.
Chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định : con ngời mới không phải tự có
sẵn mà thông qua nuôi dỡng, giáo dục, rèn luyện đấu tranh trong thực tiễn mà
hình thành
Nh vậy, ngay từ lứa tuổi này, dạy và giáo dục đóng một vai trò quan trọng
trong tâm lý của trẻ, hình thành nhân cách đâù tiên của con ngời. Chúng ta biết rằng
trẻ em ngày nay rất thông minh, nhanh nhẹn khoẻ mạnh bởi:
- Chế độ dinh dỡng chăm sóc sức khoẻ cho các bà mẹ, trẻ em đợc chăm
sóc theo khoa học, thờng xuyên đợc caỉ thiện cùng với sự phát triển của đất nớc.
- Giao lu đợc mở rộng tạo điều kiện cho trao đổi vốn gen giữa quần thể
ngời.
- Hình thức tổ chức nội dung, phơng pháp giáo dục đợc đổi mới.
- Chất lợng giáo dục đợc tăng lên, đặc biệt ở trẻ em hiện nay
a. Sự phát triển cơ thể trẻ:
Sự phát triển cơ thể trẻ ở độ tuổi mầm non tăng rất nhanh thể hiện:
- Tăng kích cỡ cơ thể
- Phát triển trí tuệ sớm
- Vốn từ của trẻ tăng nhanh
9
Qua quá trình nghiên cứu khoa học về trẻ em cho thấy: Cân nặng của trẻ
6 tuổi đo vào năm 1970 chỉ bằng cân nặng của trẻ 4 - 5 tuổi đo vào năm 1996
và bằng 4 tuổi đo vào năm 2004 (theo kết quả nghiên cứu đặc điểm phát triển
thể lực của trẻ dới 6 tuổi 2004 của Hàn Kim Chi). Tuy nhiên, hiện tợng này
diễn ra không đều so với các vùng miền trên cả nớc.
Cơ thể của trẻ ở lứa tuổi mầm non còn non nớt và nhạy cảm với tác động
của môi trờng : thời tiết, dịch bệnh do sức đề kháng của trẻ còn rất yếu nên
hay mắc một số bệnh truyền nhiễm : ho gà, bạch hầu, uốn ván, sởi, bại liệt và
một số các bệnh về đờng hô hấp, tiêu hoá do vệ sinh kém có ảnh hởng trực tiếp
đến sự phát triển cơ thể và trí tuệ của trẻ.
Trẻ càng lớn thì khả năng vận động khéo léo càng thành thạo hơn, độc lập
hơn. Sự phối hợp nhịp nhàng và vận dụng sức mạnh tốt hơn. Lứa tuổi này cần
hình thành cả vận động thô và tinh khéo, việc hình thành phụ thuộc vào quá
trình rèn luyện của trẻ.
Nh vậy, khi thiết kế chơng trình chăm sóc giáo dục thể lực cho trẻ, cần
chú ý đến nội dung bảo vệ sức khoẻ, phòng chống suy dinh dỡng và việc rèn
luyện tăng cờng thể lực cho trẻ.
b. Phát triển tâm lý
Từ khi lọt lòng đến 12 tháng trẻ có những nhu cầu cầu cần đợc thỏa mãn
để phát triển, đó là nhu cầu dinh dỡng, nhu cầu gắn bó, nhu cầu vận động, tiếp
nhận những ấn tợng từ thế giới xung quanh và nhu cầu giao tiếp vơí mọi ngời đ-
ợc xuất hiện sau cùng.
Trẻ ở giai đoạn này phù hợp hoàn toàn vào ngời lớn, do đó giao tiếp với
ngời lớn là nhu cầu cần thiết, ngời lớn là cầu nối giữa trẻ với thế giới đồ vật.
Hoạt động chủ đạo ở giai đoạn này là giao tiếp xúc cảm trực tiếp với ngời.
Chúng muốn ngời lớn chơi với chúng, giúp chúng tiếp xúc với đồ vật để tiếp
nhận thế giới xung quanh.
Trong thời đại công nghiệp nhu cầu gắn bó với ngời thân, với cha mẹ bị
hạn chế. Vì vậy, trong chăm sóc cần chú ý đến đặc điểm đó nhằm thoả mãn nhu
cầu của chúng.
Quá trình giao tiếp với ngời lớn tiền đề đầu tiên của ngôn ngữ xuất hiện,
trẻ bắt đầu hiểu lời nói của ngời lớn, vấn đề tập nói và luyện phát âm cho trẻ ở
giai đoạn này rất quan trọng. Cùng với quá trình này việc cầm nắm và thao tác
bằng tay với đồ vật và nhận biết các thuộc tính khác nhau của đồ vật, trí khôn
của trẻ bắt đầu đợc phát triển. Qua giao tiếp trực tiếp với ngời lớn trẻ bắt đầu
nắm đợc các hành vi của ngời, tạo tiền đề hình thành chức năng tâm lý cho trẻ.
10
Từ 12 đến 36 tháng hoạt động chủ đạo của trẻ là hoạt động với đồ vật,
nhờ đó trẻ khám phá các thuộc tính, nắm đợc chức năng, phơng thức sử dụng đồ
vật theo kiểu ngời lớn. Đây là một bớc phát triển mới và là nội dung quan trọng
trong tiến trình làm ngời của trẻ. Đứa trẻ đợc coi nh một nhà hoạt động thực
tiễn hay một nhà thực nghiệm
Sự kiện biết đi có ảnh hởng lớn đến sự phát triển tâm lý của trẻ, trẻ bớc
sang thời kỳ tiếp xúc với thế giới bên ngoài độc lập tự do hơn, hình thức giao
tiếp với ngời lớn đã thay đổi, thế giới đồ vật trở thành đối tợng nhận thức của
trẻ. Nhu cầu ham hiểu biết đợc phát triển mạnh
Cuối tuổi nhà trẻ cái tôi bắt đầu xuất hiện, đó là dấu hiệu đầu tiên khởi
đầu hình thành nhân cách. Trẻ lên 3 tuổi trở nên độc lập, muốn tự làm lấy mọi
việc, trẻ hiểu sơ đẳng những hành vi đạo đức trong xã hội.
Lứa tuổi mẫu giáo 3 đến 6 tuổi vui chơi ảnh hởng đến toàn bộ đời sống
tâm lý của trẻ, tạo sự biến đổi về chất trong cấu trúc tâm lý. Đồng thời một số
phẩm chất tâm lý nh tính tự lập, tính đồng cảm, tính hợp tác, khả năng tôn trọng
những quy định chung đã có điều kiện phát triển, nhu cầu giao tiếp của trẻ với
bạn cùng lứa tuổi trở thành nhu cầu mạnh mẽ đối với trẻ, trẻ muốn tự lực mà tự
lực là phẩm chất quan trọng của nhân cách. Vì vậy, việc phát triển tính độc lập
cho trẻ ở giai đoạn này là mục tiêu giáo dục ở nhiều nớc đang đợc quan tâm.
Hơn nữa ở lứa tuổi này trẻ vẫn đang trong thời kỳ phát cảm ngôn ngữ, trẻ phát
âm đúng hơn,vốn từ tăng mạnh và phong phú không chỉ về danh từ mà cả về
động từ, tính từ, liên từ, từ gợi cảm, từ ghép, thành ngữ, câu có nhiều thành phần
đợc phát triển mạnh. Giai đoạn này cũng cần hoàn thiện về phát âm. Phạm vi
nghĩa trong vốn từ của trẻ ngày càng mở rộng và phong phú, mạch lạc hơn. Vậy
cần tạo tình huống để trẻ sử dụng vốn từ tích cực hình thành kỹ năng giao tiếp
đúng ngữ pháp, sử dụng tiếng mẹ đẻ một cách chủ động trong sinh hoạt.
T duy ở trẻ tuổi này có bớc ngoặt cơ bản: từ bình diện bên ngoài chuyển
vào bình diện bên trong, bên cạnh kiểu t duy trực quan hành động xuất hiện
kiểu t duy trực quan hình tợng phát triển và chiếm u thế trong suốt tuổi mẫu
giáo. Tuy nhiên các biểu tợng, hình tợng trong đầu trẻ để gắn liền với hoạt động
nhận thức tích cực cần phải cho trẻ vừa tiếp xúc va chạm, vừa quan sát sự vật,
hiện tợng một cách đa dạng, tăng cờng thu nhận ấn tợng từ bên ngoài với các
giác quan khác nhau, làm cho thế giới biểu tợng của trẻ trở nên chính xác hơn.
Trên cơ sở đó xuất hiện kiểu t duy trực quan sơ đồ làm trung gian để phát triển
t duy lên một bớc mới, nảy sinh yếu tố t duy logich, tạo điều kiện cần thiết giúp
trẻ học tập ở lớp 1 sau này.
11
Ngày nay với sự biến đổi và đổi mới không ngừng của hiện thực khách
quan, nhiều công trình khoa học đã chứng minh rằng: trí tuệ của trẻ em đợc
phát triển sớm hơn, khuynh hớng, nhu cầu, hứng thú của trẻ ngày càng đợc mở
rộng và phát triển hơn, trẻ biết nhiều điều hơn, nói năng mạch lạc hơn.
Những đặc điểm cơ bản về tâm lý trẻ 0 đến 6 tuổi và quy luật phát triển
của nó là một trong những cơ sở cho việc đổi mới giáo dục mầm non.
3. Đổi mới giáo dục mầm non
Ngành giáo dục mầm non trong những năm qua đã có nhiều thành tựu
trong việc chăm sóc giáo dục trẻ, giúp trẻ phát triển tốt về các mặt đức, trí, thể,
mỹ. Đó là những phẩm chất tốt mang tính tiền đề song nó có vai trò to lớn trong
việc hình thành nhân cách con ngời mới - những công dân có ích cho đất nớc
sau này.
Bác Hồ đã dạy: vì lợi ích trăm năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng
ngời. Vì vậy, cô giáo mầm non phải thực sự trở thành ngời mẹ hiền thứ hai của
trẻ, cô cần có những tri thức hiểu biết trong nuôi dạy trẻ, cùng vơi sự tâm huyết
nghề nghiệp, sự yêu thơng con trẻ cô phải thực sự là tấm gơng sáng cho trẻ noi
theo. Để môi trờng trong trờng mầm non thực sự trở thành vờn ơm thế hệ mai
sau.
Văn kiện Đại hội Đảng VIII đã nêu: cùng với khoa học và công nghệ,
giáo dục là quốc sách hàng đầu, nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi d-
ỡng nhân tài, coi trọng cả ba mặt: mở rộng quy mô, nâng cao chất lợng phát huy
hiệu quả
Xuất phát từ những mục tiêu đó, ngành học mầm non có chủ trơng phấn
đấu đạt những mục tiêu trong những năm tới, đảm bảo cho trẻ đợc hởng chơng
trình chăm sóc giáo dục phấn đấu giảm tỷ lệ suy dinh dỡng cho trẻ trong các cơ
sở mầm non, 100% trẻ em đợc đến trờng mầm non, đợc hởng chong trình chăm
sóc giáo dục, cung cấp nền móng phát triển về thể lực, trí tuệ, tình cảm, đạo
đức, mỹ thuật.
- Phấn đấu giảm tỷ lệ suy dinh dỡng trong các cơ sở giáo dục mầm non,
phối kết hợp giữa gia đình, nhà trờng và xã hội nhằm nâng cao chất lợng giáo
dục trẻ góp phần làm giảm thiệt thòi cho số trẻ còn lại cha đợc đến trờng. Bên
cạnh đó các cô giáo cần chuẩn bị tốt 5 tiêu chuẩn cho trẻ vào lớp 1.
Quan điểm của Đảng về giáo dục đào tạo nói chung, giáo dục mầm non
nói riêng là phải nhận thức đúng đắn, sâu sắc và phải trở thành mục tiêu hành
động thực tiễn. Đó là những căn cứ để các trờng mầm non, các cán bộ giáo viên
ngành học mầm non, các cấp uỷ đảng, chính quyền, đoàn thể đánh giá thực
12
trạng và tìm hiểu nguyên nhân yếu kém từ đó có kế hoạch và các giải pháp cụ
thể để thực hiện tốt mọi nội dung, hình thức, phơng pháp giáo dục nhằm phát huy
những thành tích đã đạt đợc và khắc phục mọi tồn tại, đa công tác nuôi dạy trẻ đi lên
và đạt đợc hiệu quả cao đáp ứng yêu cầu của xã hội.
Vì vậy, việc giáo dục trẻ ngay ở lứa tuổi này là vô cùng quan trọng, muốn
có kết quả tốt cần kết hợp giữa gia đình và nhà trờng cùng các ban ngành ở địa
phơng để giáo dục trẻ theo quy mô của ngành học và trẻ em đợc giáo dục đủ
các mặt, có đầy đủ hành trang để cập nhật nền công nghiệp hiện nay.
II. Giáo dục thẩm mỹ
1. Một số quan điểm về cái đẹp và giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mầm non
Giáo dục thẩm mỹ cho trẻ là một bộ môn khoa học vì nó có hệ thống
giáo dục tốt nhất, có nguyên lý xuất phát, có đối tợng thẩm mỹ, có phơng pháp
nghiên cứu, có hệ thống khái niệm và phạm trù riêng biệt, có lịch sử phát sinh
và phát triển.
Chính vì thế, mỹ học trở thành khoa học độc lập, đợc diễn ra trong quá
trình lâu dài từ khi môn học này cha đợc coi là một môn khoa học độc lập.
Chúng ta tìm thấy mỹ học trong loài ngời từ rất lâu trong các sản phẩm mỹ nghệ
của họ. Nói cách khác thì mỹ thuật của loài ngời đợc xuất hiện từ rất sớm trong
các nền văn hoá Đông, Tây cổ đại, nếu không kể các t tởng thẩm mỹ đợc nhân
cách hóa mà ta chỉ kể các t tởng có ý nghĩa lý luận thì các quan điểm thẩm mỹ
đã ra đời từ thời văn - sử - triết bất phân. Nhiều tác giả thời cổ đại nh Heravit,
DemoPitago đều có những t tởng mỹ học xuất sắc. Những ngời tiêu biểu nhất
trong lịch sử mỹ học phơng tây là hai nhà mỹ học lớn đồng thời là hai hệ thống
mỹ học đối lập nhau ra đời đó là Palaton và Arixtot.
Arixtot coi cái đẹp là một thực thể vật chất bao gồm trật tự, kích thớc và
sự cảm nhận còn Palaton coi cái đẹp là ý niệm chung đợc thâm nhập vào các
hiện tợng cụ thể mà trở thành vật đẹp, ông cho rằng cái đẹp có tính vĩnh cửu
trong mọi thời gian, mọi địa điểm, mọi ý nghĩa bởi vì nó là ý niệm chứ không
phải là một vật cụ thể.
Theo Beumgacten cái hoàn mỹ là một cơ sở của cái đẹp, sự hoàn mỹ là
nhận thức thuần túy bao gồm có lý tình và ý chí, do đó sự hoàn mỹ là sự thống
nhất của Chân - Thiện - Mỹ. Theo các quan điểm cho thấy một sản phẩm hay
một hình tợng mỹ học đợc tôn vinh thì phải có đầy đủ Chân - Thiện - Mỹ từ
nhiều khía cạnh mà giáo dục là nhiệm vụ hàng đầu để đa thế hệ trẻ mai sau có
một sản phẩm đẹp, công nghệ mới. Đất nớc ta ngày càng phát triển, cuộc sống
ngày càng phồn vinh tơi đẹp thì việc đâù t cho giáo dục đợc coi là hớng quan
13
trọng vì phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu, tạo điều kiện về nhân lực
cho phát triển kinh tế xuất hiện, phát triển giáo dục nhằm nâng cao chất lợng và
hiệu quả giáo dục, giúp trẻ học đi đôi với hành cũng nh tài đi đôi với đức.
Nhà giáo dục dân chủ Thuỵ Sĩ xuất sắc Herpexittolo đã đóng góp một
phần to lớn vào sự nghiệp lý luận trớc tuổi học, vì ông đã tận mắt chứng kiến sự
bần cùng hoá của quần chúng nhân dân và sự suy đồi của chuẩn mực đạo đức
trớc đó. Ông cho rằng có thể cải thiện tình cảm của nhân dân bằng cách giáo
dục đúng đắn và phổ cập giáo dục. Tính chất không tởng trong những quan
điểm của ông thể hiện ở niềm tin ảo tởng rằng việc giáo dục tự bản thân nó sẽ
đảm bảo cho quần chúng nhân dân có một cuộc sống tốt đẹp. Pextologi cho
rằng mỗi đứa trẻ bản chất nó có sẵn những t chất, ngời lớn phải ra sức phát triển
và chú ý tới những khả năng và những đặc điểm của lứa tuổi. Ông đã đặt ra cho
hệ thống giáo dục nhiệm vụ phát triển hài hoà về thể chất, lao động,đạo đức, trí
tuệ ở trẻ em.
Mỹ học Mác - Lênin khẳng định tính có trớc của thế giới vật chất giúp ta
hình thành đợc hệ thống t tởng mỹ học đúng đắn. Mác cho rằng hoạt động của
con ngời luôn luôn sống và hoạt động nhào nặn vật chất theo quy luật của cái
đẹp. Từ khuynh hớng của nghệ thuật Mac - Lênin phát triển thành tính giai cấp,
tính Đảng của văn học nghệ thuật. Vì vậy, t tởng Mác Lê nin là t tởng tiến tiến
của thời đạ, trên cơ sở phát triển tiếp thu tinh hoa lịch sử mỹ học.
Nh vậy, có thể nói cái đẹp đợc gắn với khát vọng muôn đời của con ngời,
nó ra đời rất sớm cùng với lịch sử, thời gian con ngời luôn khát vọng đi tìm cái
đẹp, vơn tới cái đẹp không bao giờ có giới hạn và nó mang tính quy luật phát
triển.
2. Sự cần thiết của giáo dục thẩm mỹ đối với trẻ.
Giáo dục thẩm mỹ là một bộ phận không tách rời của hệ thống giáo dục
chung đối với thế hệ trẻ và cần bắt đầu nó ngay từ lứa tuổi mầm non . Việc để
cho trẻ tiếp xúc với cái đẹp trong nghệ thuật và trong đời sống xung quanh, có ý
nghĩa quan trọng không chỉ đối với sự phát triển thẩm mỹ mà cả đối với sự phát
triển đạo đức và trí tuệ của trẻ. Vì vậy, cần tạo ra những điều kiện tối u cho sự
phát triển thẩm mỹ không kể những điều kiện bẩm sinh của chúng thế nào? bởi
mỗi đứa trẻ có thể tiếp xúc với tất cả các loại nghệ thuật. Với trẻ mẫu giáo tỏ ra
là xuất sắc trong một loại nghệ thuật nào đó thì việc tiếp xúc với các nghệ thuật
khác càng làm giàu nhân cách nói chung cũng nh làm giàu năng lực của chúng.
Trờng lớp mầm non là môi trờng giáo dục đầu tiên của trẻ, đứa trẻ bị ảnh
hởng tốt xấu nh thế nào là do sự tác động cuả cô giáo mầm non, bạn bè, hoàn
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét