ñây là trong các bài viết nhỏ, bài chuyên luận, bài báo cáo khoa học, luận văn tốt
nghiệp trong trường ñại học. Tất cả những bài viết này ñều làm nổi bật hiệu quả sử
dụng thành ngữ, tục ngữ trong sáng tác văn chương nói chung.
Trên tạp chí “ Ngôn Ngữ” số 1/1980, Thái Hòa có bài viết “ Tìm hiểu cách
dùng tục ngữ trong những bài viết và bài nói của chủ tịch Hồ Chí Minh”. Trong bài
viết này, tác giả ñã ñề cập ñến khả năng sử dụng tục ngữ hết sức linh hoạt của Bác trên
hai lĩnh vực nói và viết. Theo tác giả, tùy theo ñối tượng, ñề tài, và thể loại mà Bác có
cách sử dụng tục ngữ phù hợp. Có khi Bác dùng tục ngữ làm một chủ ñiểm, một ý
chính ñể nêu lên vấn ñề, có khi Bác dùng tục ngữ ñể chuyển ý chuyển ñọan hoặc kết
thúc một ñọan bài văn. Sau ñó, tác giả ñã ñưa ra nhận xét “ Tóm lại, Bác dùng tục ngữ
làm một tư duy sắc bén, lợi hơn trong lập luận, trình bày cũng như xây dựng văn bản”
[ 17;12]. Có thể nói, ñây là một bài viết khá sâu sắc và tỉ mỉ ñã phân tích ñược giá trị
sử dụng tục ngữ trong những bài văn, bài viết của Bác nhằm mục ñích cổ ñộng quần
chúng tin và làm theo cách mạng.
Bài viết “ Phan Bội Châu vận dụng thành ngữ, tục ngữ trong sáng tác thơ ca
của Nguyễn ðức Can ñăng trên “ Ngữ học trẻ 2001” ñã phân tích rất tỉ mỉ về hiệu quả
sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong sáng tác thơ ca của Phan Bội Châu. Sau khi khảo sát
14 bài thơ của Phan Bội Châu, tác giả ñã nhận thấy có hai cách vận dụng thành ngữ,
tục ngữ vào sáng tác thơ của “cụ Phan” là: dùng nguyên dạng thành ngữ, tục ngữ và
lấy ý của thành ngữ, tục ngữ ñể sáng tạo nên những câu thơ mềm mại với một ý thơ có
nội hàm cao hơn. Ngoài ra tác giả còn phát hiện thấy rằng, Phan Bội Châu ñã sáng tạo
ra những câu nói mang tính thành ngữ, tục ngữ mà “Ngay lúc xuất hiện và cả ngày nay
nhân gian vẫn sử dụng chúng trong giao tiếp hàng ngày (…) như: thất bại là mẹ
thành công; Nhất gian nan khốn khó là trường học anh hùng; Cần kiệm là nguồn
bể nhân ái;…” [2;348]. Và sau ñó tác giả ñã ñưa ra kết luận: “ðây là một bằng chứng
chứng minh cho sức sống, sức mạnh mẽ của kho tàng ngôn ngữ dân tộc (ở ñây là kho
tàng thành ngữ, tục ngữ ). Vì thế nó ñược trân trọng và phát huy” [2;348].
ðặng Thanh Hòa cũng có bài viết về “ Thành ngữ, tục ngữ trong thơ Nôm Hồ
Xuân Hương” ñăng trên tạp chí “ Ngôn ngữ & ðời sống” số 4/2001. Giống như
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Nguyễn ðức Can, sau khi khảo sát 39 bài thơ trong tập “ Thơ Hồ Xuân Hương” tác
giả ñã nhận thấy rằng: Hồ Xuân Hương khi ñưa thành ngữ, tục ngữ vào trong sáng tác
thơ thường chủ yếu thông qua hai phương thức chính ñó là vận dụng nguyên dạng
thành ngữ, tục ngữ và chỉ lấy ý thành ngữ tục ngữ vào trong sáng tác thơ của mình.
Bài viết ñã làm nổi bật lên biệt tài sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong thơ Nôm của Hồ
Xuân Hương.
Vấn ñề nghiên cứu việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong tác phẩm văn chương
cũng ñược khai thác trong bài luận văn tốt nghiệp trong trường ñại học. Như các ñề
tài “Thành ngữ, tục ngữ trong tác phẩm Nguyễn Khải” [2006]; “Tìm hiểu thành ngữ,
tục ngữ trong tác phẩm của Bình Nguyên Lộc” [2006]; “Tìm hiểu thành ngữ, tục ngữ
trong những sáng tác của Nguyễn Minh Châu”; Hầu hết trong những luận văn này,
các tác giả ñã khái quát ñược thành ngữ, tục ngữ là gì và ñưa ra một số quan ñiểm
khác nhau của các nhà nghiên cứu văn học cũng như của các nhà nghiên cứu ngôn
ngữ. Thông qua ñó các tác giả ñã tìm ra ñược sự tương ñồng và sự di biệt giữa thành
ngữ và tục ngữ. Và vấn ñề quan trọng hơn nữa là các tác giả ñã làm nổi bật lên ñược
hiệu quả sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong các tác phẩm văn chương của Nguyễn
Khải, Bình Nguyên Lộc, Nguyễn Minh Châu,
Không chỉ ñược vận dụng trong sáng tác văn chương, thành ngữ, tục ngữ còn
ñược sử dụng khá phổ biến trên báo chí. Bàn về vấn ñề này, tác giả Bùi Thanh Lương
ñã có bài viết “ Cách sử dụng thành ngữ mới trong một số ấn phẩm báo chí” ñăng trên
tạp chí “ Ngôn ngữ và ðời sống” số 9/2006. Sau khi khảo sát bốn loại báo: ðại ñòan
kết; Thể thao – Văn hóa, Sài Gòn giải phóng; Hà Nội mới, tác giả ñã nhận ra ñược ba
cách ñể tạo thành ngữ mới trên báo chí: Cải biến các thành ngữ quen thuộc nhưng
nghĩa không thay ñổi bằng cách thế từ ñồng nghĩa hoặc chen từ; cải biến bằng cách sử
dụng các mô hình ñã có và xây dựng thành ngữ mới. Từ ñó tác giả ñã ñưa ra kết luận
“… Sáng tạo trong cách sử dụng thành ngữ mới góp phần làm cho tiếng Việt ngày
càng phong phú, giàu ñẹp” [25;11]. ðây là một bài viết có vị trí vai trò ñặc biệt quan
trọng trong việc nghiên cứu ngôn ngữ báo chí.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Không chỉ tìm hiểu việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong sáng tác văn chương
hoặc trên các ấn phẩm báo chí mà gần ñây còn có bài “Tục ngữ - ngữ cảnh và các hình
thức thể hiện” của Nguyễn Văn Nở trên tạp chí “ Ngôn ngữ” số 2/2007 ñã tổng hợp
ñầy ñủ ñược giá trị sử dụng của tục ngữ trên cả hai lĩnh vực văn chương và báo chí .
Tác giả ñã chỉ ra, có hai hình thức vận dụng tục ngữ trên báo chí và trên tác phẩm văn
chương: nguyên dạng và cải biến, mô phỏng, triển khai khuôn hình tục ngữ. Hơn thế
nữa, tác giả còn phân tích tỉ mỉ giá trị sử dụng ñó trong từng ngữ cảnh cụ thể, giúp ñộc
giả tiếp cận vấn ñề một cách dễ dàng.
Nói tóm lại, nghiên cứu về giá trị vận dụng của thành ngữ, tục ngữ trên các ấn
phẩm báo chí cũng như trong tác phẩm văn chương từ trước ñến giờ cũng ñã có khá
nhiều công trình nghiên cứu khác nhau. Tuy nhiên, vấn ñề nghiên cứu về thành ngữ,
tục ngữ trong những sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp thì vẫn chưa có công trình
nghiên cứu nào, sách vở nghiên cứu về các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp chỉ có ba
bốn: “ Tác phẩm và dư luận” ( Tạp chí Sông Hương, NXB Trẻ, Huế, 1989) ; “Tác
phẩm và dư luận” ( Hồng Lĩnh, California,1991, tái bản); “ ði tìm Nguyễn Huy
Thiệp” ( Phạm Xuân Nguyên (sưu tầm và biên sọan), NXB Văn hóa thông tin Hà Nội,
2001). Cả ba cuốn sách này ñều chủ yếu ñi vào phân tích, bình luận, … nội dung của
tác phẩm; Về nghệ thuật của tác phẩm cũng có ñề cập ñến nhưng không có bài nào ñi
sâu vào tìm hiểu nghệ thuật sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong tác phẩm của ông. Do
ñó, tìm hiểu về: “Thành ngữ, tục ngữ trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp là ñiều
hết sức cần thiết.
3.Mục ñích yêu cầu:
Vấn ñề tìm hiểu vốn
thành ngữ, tục ngữ của dân tộc là một ñiều vô cùng bổ ích.
Thực hiện ñề tài này nhằm giúp cho người ñọc và bản thân người viết thu nhận ñược
một vốn hiểu biết sâu sắc hơn về thành ngữ, tục ngữ của dân tộc cũng như hiểu biết
hơn về những ñiểm khác nhau giữa thành ngữ và tục ngữ, ñồng thời thấy ñược giá trị,
ý nghĩa biểu ñạt của thành ngữ, tục ngữ trong sáng tác văn chương. Và ñặc biệt quan
trọng hơn giúp người viết khám phá ra ñược nét ñặc sắc của việc sử dụng thành ngữ,
tục ngữ trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp. Từ ñó nhận ra ñược những ñóng
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
góp của nhà văn ñương ñại này ñối với kho tàng ngôn ngữ dân tộc trên con ñường
hiện ñại hóa.
4.Phạm vi ngiên cứu:
Nguyễn Huy Thiệp sáng tác trên rất nhiều thể loại: Tiểu thuyết, truyện ngắn,
tạp văn, tiểu luận, phê bình, giới thiệu và kịch. Tuy nhiên, do hạn chế về thời gian nên
người viết chỉ ñề cập ñến việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong truyện ngắn của
Nguyễn Huy Thiệp. Tất cả những truyện ngắn ñó ñược tập hợp lại trong cuốn
“Nguyễn Huy Thiệp tuyển tập truyện ngắn” do ðỗ Hồng Hạnh sưu tầm và biên soạn,
NXB Văn hoá Sài Gòn, 2006.
ðó cũng là tài liệu chủ yếu ñể người viết căn cứ vào khảo sát và tìm hiểu về
thành ngữ, tục ngữ trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp.
5.Phương pháp nghiên cứu:
ðể thực hiện ñề tài này, bước cần thiết ñầu tiên ñối với người viết là ñọc tòan
bộ truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, sau ñó sẽ tiến hành thống kê và tổng hợp
những thành ngữ, tục ngữ mà tác giả ñã sử dụng trong tác phẩm.
Tiếp ñến, ñể làm nổi bật cái hay, cái ñộc ñáo trong cách vận dụng thành ngữ,
tục ngữ của tác giả, người viết dùng phương pháp chứng minh, giải thích, phân tích và
bình luận.
Ngoài ra, ñể ñề tài ñược phong phú hơn người viết sẽ dùng phương pháp ñối
chiếu, so sánh ñể từ ñó có cái nhìn chung chính xác hơn, khách quan hơn.
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1:
KHÁI QUÁT VỀ THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ VIỆT NAM
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
1.1 Một số vấn ñề về khái niệm
Thành ngữ, tục ngữ là ñối tượng thu hút rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên
cứu ngôn ngữ và các nhà nghiên cứu văn chương. ðã có rất nhiều cuộc tranh luận nhiều ý
kiến xoay xung quanh vấn ñề xác ñịnh khái niệm thành ngữ, tục ngữ, nhưng rút cục vẫn
chưa ñưa ra một kiến giải thỏa ñáng nào, ngay cả vấn ñề phân ñịnh ranh giới giữa chúng
vẫn còn khá rắc rối và phức tạp. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải thừa nhận là mỗi một lĩnh
vực nghiên cứu, mỗi một nhà nghiên cứu sẽ có cách nhìn nhận ñánh giá khác nhau về
cùng một vấn ñề. Sau ñây chúng tôi xin giới thiệu một số quan niệm khác nhau về thành
ngữ, tục ngữ .
1.1.1 Thành ngữ, tục ngữ theo quan niệm của các nhà nghiên cứu văn học
Xét trong lĩnh vực văn học, giữa thành ngữ và tục ngữ thì chỉ tục ngữ ñược coi là
một thể loại của văn học dân gian. Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu thì các tác giả
văn học luôn luôn ñề cập tới bộ ñôi song hành thành ngữ, tục ngữ trong sự so sánh ñối
chiếu. Có thể nói, cho ñến nay chưa có một khái niệm chính xác nào về thành ngữ, tục
ngữ. Mặc dù giữa các thế hệ những nhà nghiên cứu luôn luôn tìm cách kế thừa, chọn lọc,
bổ sung, sửa ñổi, sáng tạo kiến giải của mình một cách hoàn chỉnh hơn. Nhưng dường
như càng tìm tòi nghiên cứu thì các tác giả lại càng thấy xuất hiện thêm nhiều vấn ñề nan
giải hơn xoay xung quanh khái niệm thành ngữ, tục ngữ Việt Nam.
1.1.1.1 Trong các nhà nghiên cứu văn học ñã từng ñề cập ñến vấn ñề thành ngữ,
tục ngữ thì có lẽ Dương Quảng Hàm là người ñầu tiên ñưa ra tiêu chí ñể xác ñịnh và phân
loại thành ngữ, tục ngữ Việt Nam.
Trong cuốn: “Việt Nam văn học sử yếu” tác giả viết: “Tục ngữ là những câu nói
gọn ghẽ và có ý nghĩa lưu hành từ ñời xưa, rồi do cửa miệng người ñời truyền ñi”[8;6].
Còn “Thành ngữ là những lời nói do nhiều tiếng ghép lại ñã lập thành sẵn, ta có thể mượn
ñể diễn ñạt một ý tưởng của ta khi nói chuyện hoặc viết văn” [8;9].
Từ việc xác ñịnh ñịnh nghĩa thành ngữ, tục ngữ, tác giả ñã ñi ñến phân loại thành
ngữ, tục ngữ dựa trên tiêu chí nội dung: “… một câu tục ngữ tự nó phải có một ý nghĩa
ñầy ñủ hoặc khuyên răn hoặc chỉ bảo ñiều gì; còn thành ngữ chỉ là những lời nói có sẵn ñể
ta tiện dùng mà diễn một ý gì hoặc tả một trạng thái gì cho có màu mè [8;9].
Mặc dù những kiến giải của tác giả Dương Quảng Hàm về ñịnh nghĩa thành ngữ,
tục ngữ và phân loại giữa chúng chưa thật ñầy ñủ, thậm chí còn ñánh ñồng nội dung giữa
chúng nhưng thật sự ñây lại là một công trình có vai trò quan trọng trong việc ñịnh hướng
nghiên cứu thành ngữ, tục ngữ sau này.
1.1.1.2 Tiếp tục ñưa ra những ý kiến về thành ngữ, tục ngữ, nhóm các tác giả Chu
Xuân Diên (chủ biên), Lương Văn ðan, Phương Tri trong cuốn Tục ngữ Việt Nam” ñã
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
ñưa ra tiêu chí nhận thức luận ñể phân biệt giữa thành ngữ và tục ngữ. Với tiêu chí này,
các tác giả xem xét thành ngữ, tục ngữ như một hiện tượng ý thức xã hội và thành ngữ
chủ yếu như một hiện tượng ngôn ngữ. Trong ñó “Nội dung của thành ngữ là nội dung
của những khái niệm”[4;41], còn “Nội dung của tục ngữ là nội dung của phán
ñoán”[4;41].
1.1.1.3 Cũng lấy tiêu chí nội dung ñể phân biệt giữa thành ngữ, tục ngữ, trong cuốn
“Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam”, Vũ Ngọc Phan ñã ñưa ra quan ñiểm về thành ngữ, tục
ngữ Việt Nam sau khi nhìn nhận và ñánh giá một số mặt còn thiếu sót trong cách nhìn
nhận của tác giả Dương Quảng Hàm về thành ngữ, tục ngữ: “ðịnh nghĩa như vậy không
ñược rõ, vì nếu thế tác dụng của thành ngữ cũng không khác gì tác dụng của tục ngữ”
[38;38]. Và từ ñó ông xác ñịnh: “Tục ngữ là một câu tự nó diễn trọn vẹn một ý, một nhận
xét, một kinh nghiệm, một luân lý, một công lý, có khi là một sự phê phán” [38;39]. Còn
“Thành ngữ là một phần câu sẵn có, nó là một bộ phận của câu mà nhiều người ñã quen
dung, nhưng tự riêng nó không diễn ñược một ý trọn vẹn” [38;39].
Kiến giải của Vũ Ngọc Phan có vẻ nhận ñược sự ñồng tình của nhiều người. Tuy
nhiên khái niệm về thành ngữ, tục ngữ không chỉ dừng ở ñó.
1.1.1.4 Tác giả Phan Thị ðào trong cuốn “Tìm hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam” ñã
ñưa ra nhận ñịnh: “Tục ngữ là một hiện tượng ý thức xã hội phản ánh lối nói, lối nghĩ và
lối sống của nhân dân trải qua bao thời ñại… là sự ñúc kết trí tuệ và tâm hồn của nhân
dân lao ñộng…”[6;23]. Và qua ñó tác giả ñã dựa vào 3 tiêu chí: hình thức, nội dung và
chức năng ñể phân biệt thành ngữ và tục ngữ.
“Về hình thức, thành ngữ ñược thể hiện bằng cụm từ cố ñịnh (tương ñương với từ),
còn tục ngữ thể hiện bằng câu.
Về nội dung, thành ngữ thể hiện khái niệm còn tục ngữ thể hiện phán ñoán.
Về chức năng, thành ngữ có chức năng ñịnh danh, còn tục ngữ có chức năng thông
báo”[6;27]
1.1.1.5 Tác giả Hoàng Tiến Tựu trong cuốn “Văn học dân gian Việt Nam” cũng
ñưa ra một số nhận ñịnh về thành ngữ, tục ngữ như sau: “Tục ngữ là một thể loại văn học
dân gian có chức năng chủ yếu là ñúc kết kinh nghiệm, tri thức, nêu lên những nhận xét
dưới những câu nói ngắn gọn, súc tích, giàu vần ñiệu, hình ảnh dễ nhớ, dễ truyền” [44;
129]. Tác giả cũng ñưa ra tiêu chí ñể phân biệt giữa thành ngữ và tục ngữ ñó là tiêu chí
chức năng ngữ pháp và nội dung ý nghĩa: “Mỗi câu tục ngữ ñều diễn trọn một ý (một
phán ñoán) còn thành ngữ (…) chỉ diễn ñạt một khái niêm tương ñương với một từ, hoặc
một cụm từ”. [44;130]
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
1.1.1.6 Cũng nói về thành ngữ, tục ngữ các tác giả Lê Bá Hán, Trần ðình Sử,
Nguyễn Khắc Phi trong cuốn “Từ ñiển thuật ngữ Văn học” (NXB Giáo dục, 2004) cũng
ñưa ra hai khái niệm rạch ròi về thành ngữ, tục ngữ. Theo các tác giả thành ngữ là “một
cụm từ hay ngữ cố ñịnh,bền vững, có tính nguyên khối về ngữ nghĩa không nhằm diễn
trọn một ý, một nhận xét như tục ngữ mà nhằm thể hiện một quan niệm dưới một hiện
tượng sinh ñộng hàm xúc. Thành ngữ hoạt ñộng như một từ trong câu. Còn tục ngữ là
“một thể loại văn học dân gian mà chức năng chủ yếu là ñúc kết kinh nghiệm, tri thức
dưới hình thức những câu nói ngắn ngọn, xúc tích, giàu vần ñiệu, hình ảnh dễ nhớ, dễ
truyền cảm…”[10;377].
Nhìn chung, vấn ñề khái niệm về thành ngữ, tục ngữ vẫn chưa có sự thống nhất
giữa các tác giả nghiên cứu văn học. Mỗi tác giả ñều cố gắng ñưa ra một khái niệm ñể
làm rõ hơn về thành ngữ, tục ngữ nhưng hầu hết những khái niệm ñưa ra vẫn chưa lí giải
ñược hết giá trị của thành ngữ, tục ngữ. Tuy nhiên, cũng cần phải ghi nhận những ñóng
góp của các nhà nghiên cứu trong việc tìm tòi khám phá chiều sâu giá trị của thành ngữ,
tục ngữ. Nó ñóng vai trò quan trọng, tạo cơ sở tiền ñể cho việc nghiên cứu thành ngữ, tục
ngữ sau này.
1.2 Thành ngữ, tục ngữ theo quan ñiểm của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ.
Không chỉ là ñối tượng nghiên cứu của các tác giả văn học, thành ngữ, tục ngữ còn
làm tốn biết bao giấy mực của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ. Cũng giống các nhà nghiên
cứu văn học, khi nhìn nhận về thành ngữ, tục ngữ thì giữa các nhà ngôn ngữ học cũng có
rất nhiều ý kiến ñánh giá khác nhau xoay xung quanh khái niệm về thành ngữ, tục ngữ.
Nếu như các nhà nghiên cứu văn học chủ yếu dựa trên tiêu chí nội dung ñể xác ñịnh ranh
giới giữa thành ngữ và tục ngữ rồi trên cơ sở ñó sẽ ñưa ra quan ñiểm của mình về khái
niệm thành ngữ, tục ngữ thì các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học lại chủ yếu dựa vào tiêu chí
hình thức hay tiêu chí kết cấu ngữ pháp ñể xác ñịnh ranh giới thành ngữ, tục ngữ và sau
ñó ñưa ra khái niệm bước ñầu về thành ngữ, tục ngữ Việt Nam.
1.2.1 Trong cuốn “Hoạt ñộng của từ Tiếng Việt” (NXB Khoa học xã hội Hà Nội,
1978) tác giả ðái Xuân Ninh ñã cho rằng tục ngữ là ñối tượng của văn học dân gian có
chức năng thông báo là một câu hoàn chỉnh, diễn ñạt một ý trọn vẹn. Thành ngữ là ñối
tượng của từ vựng học có chức năng ñịnh danh, là tên gọi của những khái niệm. Và qua
ñó tác giả ñã ñưa ra những ñiểm chung của thành ngữ và tục ngữ: ñều là những ñơn vị sẵn
có trong tiếng nói chúng ñược sáng tạo ra trên những quá trình sinh hoạt của xã hội, và
ñược lưu truyền lại về sau là bởi chúng ñúc kết ñược kinh nghiệm, kết tinh ñược trí tuệ
của quần chúng trong khái quát hóa hiện thực ñể rút ra một kết luận, một nhận ñịnh về sự
vật khách quan.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
1.2.2 Trên tạp chí ngôn ngữ số 4 / 1980, tác giả Hoàng Văn Hành trong bài viết
“Tục ngữ trong cách nhìn của ngữ nghĩa học” ñã ñưa ra cách nhìn nhận của mình về tục
ngữ như sau: Tục ngữ là những câu mang thông ñiệp nghệ thuật. Nó không chỉ có cấu
trúc ngữ pháp là cách tổ chức các yếu tố ngữ âm và từ vựng mà nó còn là cấu trúc ngữ
nghĩa tức bao gồm: những yếu tố thuộc về nội dung miêu tả hiện thực (chức năng ñịnh
danh) cũng như dụng ý thông báo (chức năng thông tin). Và bên cạnh cấu trúc ngữ pháp,
cấu trúc ngữ nghĩa thì Hoàng Văn Hành còn xác ñịnh tục ngữ có thêm cấu trúc văn học
(bao gồm những yếu tố như thực tại mà tục ngữ phản ánh, hệ thống hình ảnh, tư tưởng,
chủ ñề, v.v ) hòa quyện với cấu trúc ngôn ngữ thành một thể không tách rời.
1.2.3 Tác giả Nguyễn ðức Dân trong bài viết “Ngữ nghĩa thành ngữ và tục ngữ -
Sự vận dụng” trên tạp chí ngôn ngữ số 3/1986 cũng ñưa ra quan ñiểm về khái niệm thành
ngữ, tục ngữ như sau: Thành ngữ, tục ngữ là những ñơn vị ngôn ngữ ổn ñịnh về hình thức
phản ánh những lối nói, lối suy nghĩ ñặc thù của một dân tộc. Thành ngữ phản ánh các
khái niệm và hiện tượng; tục ngữ phản ánh các quan niệm, những suy nghĩ, những tri thức
và cách tư duy của một dân tộc về các hiện tượng, các quy luật tự nhiên và xã hội”[3;1]
1.2.4. Sau khi ñưa ra khái niệm về thành ngữ: “Là một loại ñơn vị ngôn ngữ có
sẵn. Chúng là những ngữ có kết cấu chặt chẽ và ổn ñịnh, mang một ý nghĩa nhất ñịnh, có
chức năng ñịnh danh và ñược thực hiện trong giao tế”[27;12], tác giả Nguyễn Văn Mệnh
trong bài viết “Vài suy nghĩ góp phần xác ñịnh khái niệm thành ngữ Tiếng Việt” trên tạp
chí ngôn ngữ số 3/1986 cũng ñưa ra ba tiêu chí ñể xác ñịnh ranh giới giữa thành ngữ và
tục ngữ: tiêu chí ý nghĩa, ngữ pháp, chức năng. Về mặt ý nghĩa thành ngữ thường nghiêng
về cái có tính chất hiện tượng, ngẫu nhiên, riêng lẻ. Còn nội dung của tục ngữ thường
nghiêng về cái bản chất, khái quát và tất yếu; về mặt ngữ pháp ña số thành ngữ có cấu
trúc những ngữ còn tất cả tục ngữ có cấu trúc ngữ pháp của ñơn vị câu; về mặt chức năng
thành ngữ làm nhiệm vụ ñịnh danh, còn tục ngữ giữ chức năng thông báo.
1.2.5. Trong cuốn “Tục ngữ Việt Nam cấu trúc và thư pháp”, (NXB Khoa học xã
hội, 1997) tác giả Nguyễn Thái Hòa cũng ñưa ra quan niệm của mình về tục ngữ như sau
“Tục ngữ là một loại phát ngôn ñặc biệt hình thành từ trong lời thoại hằng ngày nhưng tồn
tại như một ñơn vị ngôn ngữ, có thể nghiên cứu ở các cấp ñộ và các chuyên ngành khác
nhau: cụm từ, ngữ cú (từ vựng học, ngữ vựng học), câu cố ñịnh, phát ngôn làm sẵn (ngữ
pháp học) và văn bản - thể loại văn học (văn học dân gian – thi pháp học), có cơ cấu ngữ
nghĩa – cú pháp ña dạng, có khuôn hình cố ñịnh làm cơ sở cho sự tái hiện, lưu giữ và sản
sinh những kiểu nói tục ngữ” [18;72]
1.2.6. Cùng bàn về vấn ñề thành ngữ và tục ngữ thì tác giả Hoàng Văn Hành trong
cuốn “Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ” cũng ñưa ra một số nhận ñịnh sau. Theo tác giả thì
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
“…thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố ñịnh, bền vững về hình thái - cấu trúc, hoàn chỉnh,
bóng bẩy về ý nghĩa ñược sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hằng ngày ñặc biệt là trong
khẩu ngữ” [12;25] (…) còn “tục ngữ là những câu – ngôn bản ñặc biệt, biểu thị những
phán ñoán một cách nghệ thuật” [12;29]. Từ việc ñưa ra ñịnh nghĩa và sự khác biệt giữa
thành ngữ và tục ngữ, Hoàng Văn Hành ñã ñóng góp một phần không nhỏ trong việc ñịnh
nghĩa và phân biệt thành ngữ, tục ngữ.
Nhìn chung, các tác giả ñều ñã cố gắng ñưa ra những ý kiến ñể lí giải thành ngữ,
tục ngữ là gì. ðồng thời cũng ñưa ra ñược những tiêu chí ñể phân biệt thành ngữ, tục ngữ.
Tuy nhiên cách nhìn nhận lí giải chỉ dựa trên ý kiến chủ quan của mỗi người chưa có sự
ñồng tình thống nhất giữa các nhà nghiên cứu với nhau. Vì vậy ñã gây không ít khó khăn
cho người ñọc trong việc tiếp nhận. Nhưng bên cạnh sự khó khăn ñó, nó cũng góp phần
ñịnh hướng một cách rõ ràng cho việc nghiên cứu của những thế hệ các nhà nghiên cứu
sau này.
1.2 MỘT SỐ NÉT TƯƠNG ðỒNG VÀ DỊ BIỆT GIỮA THÀNH NGỮ VÀ TỤC
NGỮ
1.2.1 Một số nét tương ñồng
1.2.1.1. Nguồn gốc
Thành ngữ, tục ngữ là những ñơn vị lời nói có sẵn ñược hình thành và sử dụng
rộng rãi, tự nhiên trong ñời sống xã hội. Giống như các ñơn vị từ trong ngôn ngữ, thành
ngữ, tục ngữ ñược hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, ở những thời ñiểm khác nhau.
a. Thành ngữ, tục ngữ có nguồn gốc vay mượn từ thành ngữ, tục ngữ nước ngoài
Như chúng ta ñã biết, nước ta trải qua một thời kì lịch sử dài và chịu sự ñô hộ một
ngàn năm của Trung Quốc cho nên ở một thời kì nào ñó văn hóa phương Bắc ñã chi phối
và ảnh hưởng ñến văn hóa nước ta trên các tất cả các lĩnh vực từ ñời sống, tư duy vật chất,
ngôn ngữ mà trong ñó thành ngữ, tục ngữ là một bộ phận chịu ảnh hưởng không nhỏ.
Thành ngữ, tục ngữ của chúng ta phần lớn là vay mượn từ thành ngữ, tục ngữ Quốc Hán.
Những thành ngữ, tục ngữ này khi mượn vào Tiếng Việt có thể ñược giữ nguyên hình thái
ngữ nghĩa, dịch từng chữ, dịch nghĩa chung của thành ngữ, tục ngữ.
* Thành ngữ, tục ngữ giữ nguyên hình thái cấu trúc ngữ nghĩa: Theo thống kê
trong tổng số 354 thành ngữ, tục ngữ mượn từ tiếng Hán trong Tiếng Việt, có 71 thành
ngữ, tục ngữ nguyên vẹn chiếm khoảng 20%.
Ví dụ:
Thành ngữ“Khai thiên lập ñịa”
“Thất ñiên bát ñảo: ”
Tục ngữ: “Dân dĩ thực vi tiên”
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
“ðiệu hổ li sơn”
Thành ngữ, tục ngữ gốc Hán mượn nguyên vẹn chủ yếu dùng trong văn viết và
mang tính sách vở rõ rệt. Chúng ta có thể tìm thấy các thành ngữ, tục ngữ này trong các
tác phẩm văn học cổ, trong văn chính luận trước và nay.
* Thành ngữ, tục ngữ mượn gốc Hán dịch một bộ phận ra Tiếng Việt: có thể
kể ñến một số thành ngữ, tục ngữ sau:
“An phận thủ kỉ” dịch là “an phận thủ thường”
“An như bàn thạch” dịch là “vững như bàn thạch”
* Thành ngữ, tục ngữ mượn gốc Hán ñược dùng trong hình thức dịch toàn bộ
các yếu tố ra Tiếng Việt và giữ nguyên cấu trúc. ðó là những thành ngữ, tục ngữ như sau:
“Ngồi ăn núi lở” dịch từ “Tọa thực sơn băng”
“ðứng ngồi không yên” dịch từ “Tọa lập bất an”
Tục ngữ “Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy” ñược dịch từ câu tục ngữ
“Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”
* Thành ngữ, tục ngữ mượn từ gốc Hán ñược dùng trong hình thức dịch
nghĩa chung của thành ngữ, tục ngữ ra Tiếng Việt
Ví dụ:
“Tướng cơ hành sự” tạm dịch “Tùy cơ ứng biến”
“Tâm ñầu bất tự khẩu ñầu” tạm dịch “Nghĩ một ñằng làm một nẻo”
b. Thành ngữ, tục ngữ hình thành từ văn chương
Có thể nói văn chương vừa là mảnh ñất ñể dung dưỡng thành ngữ, tục ngữ ñồng
thời cũng là nơi ñể thành ngữ, tục ngữ “ñâm chồi nảy lộc” và phát triển thêm nhiều thành
ngữ, tục ngữ mới làm giàu thêm vốn ngôn ngữ của dân tộc.
Qua sự kiểm nghiệm của thời gian, có rất nhiều thành ngữ, tục ngữ ñược hình
thành từ văn chương cổ như: “ Rắn già rắn lột, nguời già người tụt vào săng” (xuất phát từ
truyện thần thoại cùng tên); “ Tháng giêng rét ñài, tháng hai rét lộc, tháng ba rét nàng
Bân” (xuất phát từ truyện “Nàng Bân”); “Thạch Sùng còn thiếu mẻ kho” (từ truyện “ Sự
tích con mối”); “Áo vải cờ ñào” ( bắt nguồn từ bài thơ khóc chồng của Ngọc Hân công
chúa, bài “Ai tư vãn”) :
“ Mà nay áo vải cờ ñào
Giúp dân dựng nước kiến bao công trình”
ðồng thời thành ngữ, tục ngữ cũng ñược hình thành qua con ñường sáng tạo ngôn
ngữ của một số nhà thơ, nhà văn, ñược sử dụng lặp ñi lặp lại nhiều lần mà trở thành,
thành ngữ, tục ngữ. Ví dụ như một số trường hợp tiêu biểu sau:
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét