Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty QVD đồng tháp

4.1.5 Nghiên cứu và phát triển (R&D) 20
4.1.6 Nhân sự 21
4.1.7 Hệ thống thông tin 22
4.2 Phân tích ảnh hưởng của môi trường tác nghiệp 23
4.2.1 khách hàng 23
4.2.2 Đối thủ cạnh tranh hiện tại 24
4.2.2.1 Xác định đối thủ cạnh tranh 24
4.2.2.2 Phân tích các đối thủ cạnh tranh chính 24
4.2.3 Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn 28
4.2.4 Sản phẩm thay thế 29
4.2.5 Nhà cung cấp 29
4.3 Phân tích ảnh hưởng của môi trường vĩ mô 30
4.3.1 Ảnh hưởng kinh tế 30
4.3.2 Ảnh hưởng văn hóa - xã hội - nhân khẩu 31
4.3.3 Ảnh hưởng địa lý và điều kiện tự nhiên 31
4.3.4 Ảnh hưởng của thể chế 31
4.3.5 Ảnh hưởng của khoa học - công nghệ 32
Chương 5: XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CHO
CÔNG TY QVD ĐỒNG THÁP GIAI ĐOẠN 2006 – 2010 35
5.1 Xây dựng các mục tiêu chiến lược 35
5.1.1 Căn cứ đề ra mục tiêu 35
5.1.2 Mục tiêu của QVD Đồng Tháp đến năm 2010 35
5.2 Xây dựng các phương án chiến lược 35
5.2.1 Xây dựng các phương án chiến lược 35
5.2.1.1 Ma trận SWOT 35
5.2.1.2 Ma trận chiến lược chính 36
5.2.2 Phân tích các chiến lược đề xuất 36
5.2.2.1 Nhóm chiến lược S-O 36
5.2.2.2 Nhóm chiến lược S-T 38
5.2.2.3 Nhóm chiến lược W-O 39
5.2.2.4 Nhóm chiến lược W-T 39
5.2.3 Lựa chọn chiến lược: ma trận QSPM 40
Chương 6: CÁC GIẢI PHÁP TRIỂN KHAI CHIẾN LƯỢC 46
6.1 Giải pháp về quản trị 46
6.2 Giải pháp về sản xuất, tác nghiệp 47
6.2.1 Giải pháp về nguyên liệu 47
6.2.2 Giải pháp về sản xuất 48
6.3 Giải pháp về nghiên cứu và phát triển và quản lý chất lượng 48
6.4 Giải pháp về Marketing 49
6.4.1 Giải pháp về sản phẩm 49
Trang 5
6.4.2 Giải pháp về giá 49
6.4.3 Giải pháp về phân phối 50
6.4.4 Giải pháp về chiêu thị 50
6.5 Giải pháp về tài chính - kế toán 51
6.6 Giải pháp về nhân sự 51
KIẾN NGHỊ 54
KẾT LUẬN 55
DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1: Cơ cấu thị trường xuất khẩu của QVD Đồng Tháp năm 2005 18
Bảng 4.2: Các chỉ số tài chính của một số công ty trong ngành 19
Bảng 4.3: Trình độ chuyên môn lực lượng lao động công ty QVD Đồng Tháp 21
Bảng 4.4: Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong (IFE) của QVD Đồng Tháp 23
Bảng 4.5: Ma trận hình ảnh cạnh tranh của QVD Đồng Tháp 28
Bảng 4.6: Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài (EFE) của QVD Đồng Tháp 33
Bảng 5.3: Ma trận QSPM của QVD Đồng Tháp – Nhóm chiến lược S-O 40
Bảng 5.4: Ma trận QSPM của QVD Đồng Tháp – Nhóm chiến lược S-T 41
Bảng 5.5: Ma trận QSPM của QVD Đồng Tháp – Nhóm chiến lược W-O 42
Bảng 5.6: Ma trận QSPM của QVD Đồng Tháp – Nhóm chiến lược W-T 43
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 4.1: Sơ Đồ Tổ Chức Của QVD Đồng Tháp 17
Hình 4.2: Sơ đồ nhóm chiến lược 27
Hình 5.1: Ma trận SWOT của QVD Đồng Tháp 36
Hình 5.2: Ma trận chiến lược chính 37
Hình 6.1: Sơ Đồ Tổ Chức Mới Của QVD Đồng Tháp 47
BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Kết quả hoạt động của QVD Đồng Tháp năm 2005
Trang 6
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
Trang 7
Chương 1: MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
An Giang và Đồng Tháp là 2 tỉnh nằm ở đầu nguồn của dòng Mêkông đổ vào
nước ta, với hệ thống kênh rạch chằng chịt, rất thuận lợi để phát triển nghề nuôi cá nước
ngọt, đặc biệt là những loại cá có giá trị kinh tế cao như cá Tra, cá Basa. Những năm
gần đây, các công ty chế biến xuất khẩu cá Tra, cá Basa của 2 tỉnh như: Nam Việt,
Agifish, Vĩnh Hoàn, QVD Đồng Tháp có những bước phát triển mạnh mẽ và ngành
chế biến thủy sản đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của 2 tỉnh này.
Sau vụ kiện bán phá giá cá Tra, cá Basa vào thị trường Mỹ, ngành sản xuất chế
biến và xuất khẩu cá Tra, cá Basa ở Đồng Tháp và cả nước gặp nhiều khó khăn, nhiều
nông dân đã phải trắng tay sau nhiều năm gắn bó với nghề nuôi cá, nhiều công nhân bị
sa thải do nhà máy không tìm được đầu ra cho sản phẩm. Tuy năm 2005, ngành chế
biến và xuất khẩu cá Tra đã tăng trưởng trở lại nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cần giải
quyết như: Rào cản chất lượng từ các nước nhập khẩu, sự biến động của cá nguyên liệu
về giá và sản lượng, sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt giữa các đối thủ. Trong bối cảnh
như vậy, để có thể tồn tại và phát triển thì yêu cầu đặt ra là QVD Đồng Tháp cần phải
không ngừng đổi mới và phải có một chiến lược kinh doanh hợp lý. Tôi chọn đề tài:
XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CHO CÔNG TY TNHH THỰC PHẨM
QVD ĐỒNG THÁP GIAI ĐOẠN 2006 – 2010 với hy vọng có thể đóng góp một phần
nhỏ công sức vào việc xây dựng một chiến lược kinh doanh hiệu quả cho công ty.
1.2 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
Môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, các công ty luôn cố gắng tìm ra những
hướng đi mới để tạo ra lợi thế cạnh tranh. Mục tiêu của đề tài là phân tích hoạt động
hiện tại của công ty QVD Đồng Tháp, phân tích những yếu tố quyết định sự thành công
trong tương lai của công ty để từ đó xây dựng một chiến lược kinh doanh hiệu quả cho
công ty. Bên cạnh đó đề xuất những giải pháp thực hiện chiến được đã nêu nhằm giúp
công ty công ty có được một vị thế cạnh tranh nhất định trên thị trường cá Tra, cá Basa.
1.3 Phương pháp và nội dung nghiên cứu
 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập dữ liệu: Bao gồm dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp, trong
đó thiên về dữ liệu thứ cấp nhiều hơn. Đối với dữ liệu sơ cấp, thu thập từ các nguồn
như: công ty QVD Đồng Tháp, công ty Agifish, các tạp chí, báo đài, internet. Đối với
dữ liệu thứ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn các thành viên của công ty ( Giám
đốc, phó giám đốc, các trưởng phòng).
- Phương pháp xử lý dữ liệu: sử dụng các phương pháp so sánh, phân tích, tổng
hợp, phân tích SWOT.
 Nội dung nghiên cứu
Đề tài đi sâu nghiên cứu các biến động của môi trường kinh doanh trong hiện tại
và tương lai, bao gồm môi trường vĩ mô và môi trường tác nghiệp, trên cơ sở đó biết
Trang 8
được những lợi thế, cơ hội mà công ty có thể tận dụng và những điểm yếu, đe dọa mà
công ty nên chú ý khắc phục để xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty.
1.4 Ý nghĩa của đề tài
Đồng Tháp là một tỉnh còn nghèo ở ĐBSCL, việc xây dựng chiến lược kinh doanh
của một số doanh nghiệp trong tỉnh còn nhiều hạn chế, tỉnh đã chọn thủy sản là ngành
mũi nhọn trong phát triển kinh tế. Với vốn kiến thức được học ở trường và từ thực tiễn,
tôi muốn vận dụng vào việc xây dựng chiến lược kinh doanh cho một công ty đang hoạt
động trong lĩnh vực thủy sản, hy vọng nó sẽ có ích cho các doanh nghiệp khi tiến hành
xây dựng chiến lược kinh doanh của riêng họ, góp phần nhỏ công sức vào việc xây
dựng và phát triển kinh tế xã hội của Đồng Tháp.
Trang 9
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT


XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC
XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC


DOANH NGHIỆP
DOANH NGHIỆP
Trang 10
Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA VIỆC XÂY DỰNG
CHIẾN LƯỢC DOANH NGHIỆP
Do phần cơ sở lý thuyết đã được nhiều luận văn tốt nghiệp của khóa trước đề
cập khá đầy đủ nên tôi không nhắc lại, tôi chỉ xin có vài nhận xét về phần này và tôi
chọn các bài luận của các tác giả Lâm Thị Như Nguyệt, đề tài“ Xây dựng chiến lược
phát triển kinh doanh cho Xí nghiệp đông lạnh thủy sản Afiex (giai đoạn 2005-2010)” ;
Nguyễn Đức Bảo Hòa, đề tài “Xây dựng chiến lược kinh doanh của Công ty cổ phần
XNK thủy sản An Giang” ; Tường Ngọc Quỳnh Giao, đề tài “Nâng cao hiệu quả
chiến lược kinh doanh công ty bảo hiểm Cần Thơ” để nhận xét, trong đó chú trọng
nhiều hơn đề tài của Như Nguyệt, lý do là vì cũng giống như Xí nghiệp đông lạnh thủy
sản Afiex còn phụ thuộc nhiều mặt vào công ty Afiex, công ty QVD Đồng Tháp cũng
còn chịu nhiều sự tác động của QVD TP. HCM. Bên cạnh đó, tôi cũng xin nêu vài nhận
định về tình hình vận dụng những cơ sở lý thuyết này trong thực trạng quản lý doanh
nghiệp ở các công ty của Việt Nam. Với khả năng còn hạn chế, trong quá trình nhận xét
có thể không tránh khỏi những nhận định chủ quan, rất mong nhận được sự chia sẽ ý
kiến của các quý công ty và các tác giả Như Nguyệt, Quỳnh Giao và Bảo Hòa.
- Ở phần quy trình quản trị chiến lược, do công việc chúng ta đang làm là xây
dựng chiến lược kinh doanh cho doanh nghiệp, do đó chúng ta không nên đánh đồng cả
3 giai đoạn: Giai đoạn đánh giá chiến lược, giai đoạn thực thi chiến lược, giai đoạn thiết
lập chiến lược, chúng ta nên chú trọng vào giai đoạn hình thành chiến lược, theo tôi để
hoàn thiện hơn phần cơ sở lý thuyết, chúng ta nên bổ sung những điểm sau: Xác định
nhiệm vụ, mục tiêu và chiến lược hiện tại của tổ chức, xét lại nhiệm vụ kinh doanh,
nghiên cứu môi trường - xác định cơ hội và đe dọa chủ yếu.
- Ở phần môi trường vĩ mô và môi trường tác nghiệp thay vì chỉ liệt kê các yếu
tố trong môi trường như: kinh tế, văn hoá - xã hội - nhân khẩu, chính trị - pháp luật, tự
nhiên và khoa học - công nghệ (môi trường vĩ mô) và đối thủ cạnh tranh, khách hàng,
nhà cung cấp, đối thủ tiềm ẩn và sản phẩm thay thế (môi trường tác nghiệp). Chúng ta
nên nêu cụ thể từng yếu tố như thế sẽ tạo sự rõ ràng hơn khi tiến hành phân tích môi
trường hoạt động của công ty.
+ Đầu tiên là môi trường vĩ mô, vì trong nhiều tài liệu đã phân tích khá rõ, tôi chỉ
xin nêu tác động thực tế của các yếu tố này đối với các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện
nay:
• Ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế:
Các ảnh hưởng chủ yếu bao gồm các yếu tố như: lãi suất ngân hàng, giai đoạn của
chu kỳ kinh tế, cán cân thanh toán, chính sách tài chính và tiền tệ. Lãi suất ngân hàng
tác động rất lớn đến hoạt động của doanh nghiệp, thời gian qua, lãi suất tăng cao, làm
tăng chi phí hoạt động, tăng giá thành sản xuất, giảm khả năng cạnh tranh của hàng hóa,
do đó nhà nước cần có nhiều biện pháp để thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, kiềm
chế lạm phát. Một vấn đề rất đáng quan tâm là hiện nay các doanh nghiệp của chúng ta
Trang 11
chưa chú ý đến nhiều đến sự biến động tỉ giá của các đồng tiền thông qua hợp đồng kỳ
hạn, hoặc chúng ta chưa có những cơ quan có khả năng dự báo chính xác sự biến động
giá cả thị trường, kết quả là chúng ta thường ký hợp đồng bán cho khách hàng ở thời
điểm giá thấp và giao hàng ở thời điểm giá cao. Do đó yêu cầu đặt ra là chúng ta phải
nhanh chóng xây dựng những cơ quan dự báo chuyên nghiệp để tránh bị thua thiệt trong
các hợp đồng mua bán ngoại thương.
• Ảnh hưởng của yếu tố luật pháp - chính phủ - chính trị
Hoạt động của các doanh nghiệp chịu sự tác động ngày càng lớn của những yếu tố
này. Trong những năm qua, nhà nước ta đã có nhiều nổ lực để thu hút các nhà đầu tư
như việc cải cách các thủ tục hành chính, sửa đổi bổ sung nhiều luật, hỗ trợ tích cực hơn
cho các doanh nghiệp Tuy vậy, vẫn còn nhiều vấn đề cần sửa đổi trong luật pháp Việt
Nam để thu hút nhiều hơn nữa các nguồn vốn đầu tư (Ví dụ: luật lao động quy định
công nhân tự ý đình công không hợp pháp trong thời gian 6 ngày thì doanh nghiệp mới
có quyền sa thải, trong khi ở các nước phát triển trên thế giới quy định là 2 ngày, nếu
đình công quá dài như thế sẽ gây thiệt hại lớn và làm nản lòng các nhà đầu tư).
• Ảnh hưởng của yếu tố xã hội
Khi mà thu nhập của người dân cao hơn thì các yếu tố xã hội đã được chú ý nhiều
hơn nhất là yếu tố về sở thích vui chơi giải trí, các doanh nghiệp đang cố gắng thỏa mãn
tối đa nhu cầu đa đạng và thay đổi liên tục của các đối tượng khách hàng. Điều này yêu
cầu các doanh nghiệp không chỉ đợi khi khách hàng có nhu cầu thì mới đáp ứng mà
doanh nghiệp phải biết kích thích để khách hàng thể hiện được những nhu cầu chưa
được thỏa mãn.
• Ảnh hưởng của yếu tố tự nhiên
Ngày nay, ô nhiễm môi trường đã trở thành vấn đề không chỉ của riêng quốc gia
nào. Các doanh nghiệp của chúng ta muốn tồn tại, hàng hóa có thể bán được trên thị
trường thì yêu cầu đầu tiên phải giải quyết là vấn đề môi trường ngay trong doanh
nghiệp đó. Ngoài ra sự thiếu hụt năng lượng, lãng phí tài nguyên thiên nhiên, yêu cầu
các doanh nghiệp phải thay đổi hoạt động theo hướng tiết kiệm nhất.
• Ảnh hưởng của yếu tố công nghệ
Hiện tại, yếu tố công nghệ mang tính chất sống còn đối với các doanh nghiệp. Có
rất nhiều công ty Việt Nam nhập khẩu những công nghệ đã quá lạc hậu vì thế mà khả
năng cạnh tranh của hàng hóa kém. Các công ty mới vào ngành nên đầu tư công nghệ
mới, như thế hàng hóa mới có khả năng cạnh tranh. Ngoài ra các công ty cũng phải
quan tâm đến vấn đề thay đổi công nghệ thì mới mong có được thành công lâu dài.
+ Về môi trường tác nghiệp: các tài liệu đã nêu rất đầy đủ mô hình năm tác lực
của Michael E. Porter, theo tôi những lý thuyết này rất có ý nghĩa đối với các doanh
nghiệp khi mà môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, tôi xin đề cập tác động thực tế
của các yếu tố này đối với các doanh nghiệp Việt Nam.
• Đối thủ cạnh tranh
Trang 12
Là yếu tố đầu tiên mà doanh nghiệp cần xem xét khi phân tích môi trường tác
nghiệp, theo tôi các doanh nghiệp Việt Nam hiểu khá rõ về các đối thủ cạnh tranh trong
nước, tuy vậy đối với các đối thủ cạnh tranh đến từ nước ngoài thì vẫn còn khá mới mẽ,
những đối thủ này thường có tiềm lực về tài chính và công nghệ, do đó để đối phó với
họ là một điều rất khó, do đó sự liên kết giữa các doanh nghiệp sẽ giúp nâng cao khả
năng cạnh tranh của các công ty Việt Nam.
• Khách hàng
Các doanh nghiệp của Việt Nam thường bị các khách hàng nước ngoài ép giá,
thậm chí họ còn làm cho các đối thủ cạnh tranh chống lại nhau, thể hiện rõ nhất là trong
lĩnh vực thủy sản. Vấn đề là do chưa có sự liên kết cần thiết giữa các doanh nghiệp
thành một nhà cung cấp đủ lớn, có khả năng cung cấp dài hạn để có thể tạo được sức ép
đối với khách hàng.
• Nhà cung cấp
Ở Việt Nam hiện tại chưa có các nhà cung cấp đủ lớn để có thể tạo được sức ép
đối với doanh nghiệp, tuy nhiên các doanh nghiệp cũng nên tính đến chuyện tạo mối
quan hệ lâu dài với các nhà cung cấp là vừa, bởi vì khi mà các nhà cung cấp đã liên kết
với nhau, họ có thể không cung cấp nguyên liệu cho các công ty trong nước mà bán cho
các công ty nước ngoài với giá cao hơn.
• Đối thủ tiềm ẩn
Đất nước ta đang phát triển nhanh, dung lượng thị trường đối với nhiều ngành còn
rất lớn, do đó các công ty cần phải cố gắng tạo ra những rào cản hợp pháp để ngăn chặn
sự xâm nhập của các đối thủ tiềm ẩn nguy hiểm đến từ bên ngoài.
• Sản phẩm thay thế
Tuy gần đây mức sống có tăng, nhưng thu nhập của đa số người dân Việt Nam
vẫn chưa cao, do đó nếu có sự biến động tăng giá quá mức có thể chấp nhận, họ cũng có
thể chuyển qua sử dụng những sản phẩm thay thế. Do đó, tùy loại mặt hàng sản phẩm
sản xuất mà công ty phải chú ý các yếu tố về giá và chất lượng sản phẩm.
- Việc hiểu rõ các yếu tố của môi trường nội bộ như: nhân sự, sản xuất, tài chính
kế toán, marketing, nghiên cứu và phát triển giúp cho việc thiết lập các mục tiêu và
chiến lược cho doanh nghiệp một cách thực tế hơn.
+ Về nhân sự: Đối với các doanh nghiệp Việt Nam, đa số các doanh nghiệp chưa
có kế hoạch đào tạo nhân sự phục vụ cho yêu cầu phát triển trong tương lai, các doanh
nghiệp thường chỉ cử người đi đào tạo khi cảm thấy yêu cầu công việc đã quá cao, khả
năng hiện tại nhân viên không thể đáp ứng, hoặc thiếu nhân viên chuyên môn cho bộ
phận nào đó. Vì thế các doanh nghiệp không thể đáp ứng ngay khi thị trường có nhu
cầu, thường ít tận dụng được những hợp đồng lớn của khách hàng. Vì vậy, để nắm bắt
được tốt cơ hội thị trường thì doanh nghiệp cần có những dự báo chính xác về sự biến
động của nhu cầu thị trường nhằm có kế hoạch đào tạo nhân sự phù hợp.
Trang 13
Một vấn đề nữa mà các doanh nghiệp Việt Nam cần quan tâm là chế độ tiền lương
cho nhân viên, sự công bằng trong phân phối thu nhập có ý nghĩa rất quan trọng đối với
việc giữ chân những người tài. Rất nhiều nhân viên giỏi của các doanh nghiệp Việt Nam
bị các công ty nước ngoài hút mất vì họ có những ưu đãi hợp lý hơn. Dĩ nhiên là chúng
ta không thể trả lương cao như các công ty nước ngoài, nhưng với mức thu nhập hợp lý
và môi trường làm việc tốt là điều kiện để các nhân tài cống hiến hết mình cho sự phát
triển nước nhà.
+ Việc duy trì sản xuất liên tục và sản phẩm làm ra có chất lượng đồng bộ là vấn
đề mà các doanh nghiệp cần quan tâm, nhiều doanh nghiệp Việt Nam chỉ có khả năng
cung ứng một thời gian trong năm, sản phẩm làm ra chưa đồng bộ. Vì thế các doanh
nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp sản suất sản phẩm nông nghiệp cần khắc phục vấn
đề này bằng các biện pháp như: tạo được nguồn cung ứng nguyên liệu ổn định quanh
năm, quản lý chặt chẽ quy trình sản suất, sử dụng đội ngũ lao động có tay nghề Chỉ
có như thế doanh nghiệp mới có khả năng cung ứng lâu dài tạo được uy tín đối với
khách hàng.
+ Hoạt động nghiên cứu & phát triển của chúng ta vẫn còn một khoảng cách
khá xa so với các nước phát triển trên thế giới. Vì vậy, bên cạnh việc đầu tư máy móc
thiết bị hiện đại và nhân lực phục vụ hoạt động nghiên cứu và phát triển, chúng ta cũng
nên có chính sách khuyến khích tính sáng tạo trong đội ngũ nhân viên. Ngoài trình độ,
kinh nghiệm và năng lực khoa học, chúng ta phải thường xuyên theo dõi các điều kiện
môi trường như vậy mới có được những sản phẩm đón đầu.
+ Nước ta hiện có khoảng 160.000 doanh nghiệp, nhưng đa số là các doanh
nghiệp vừa và nhỏ, khả năng tài chính của các doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, đây là
một vấn đề rất lớn, các doanh nghiệp thiếu vốn để kinh doanh. Trong giai đoạn 2006 -
2010, để đảm bảo tốc độ phát triển kinh tế 8% mỗi năm thì nhu cầu vốn đầu tư cho cả
giai đoạn này lên tới 140 tỷ USD (tốc độ tăng trung bình hàng năm 12 - 13%). Vì thế
các doanh nghiệp nên tranh thủ huy động vốn từ nhiều nguồn như: Ngân hàng, phát
hành cổ phiếu, trái phiếu, nguồn tài trợ của các tổ chức nước ngoài, theo đó các doanh
nghiệp nên chấp nhận kiểm toán quốc tế, thực hiện xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp để
phát hành trái phiếu trên thị trường quốc tế. Như thế mới có đủ khả năng tài chính để
thực hiện chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt thì hoạt động Marketing có
một ý nghĩa hết sức quan trọng, là chiếc cầu nối giữa nhà sản xuất với khách hàng. Sự
chủ động tìm đến khách hàng là điều kiện tiên quyết quyết định thành công của các
doanh nghiệp.
Theo tôi các yếu tố của môi trường kinh doanh không nên tách riêng ra mà nên là
một phần nhỏ trong giai đoạn thiết lập chiến lược, bởi vì khi tiến hành thiết lập chiến
lược thì chúng ta cũng đồng thời nghiên cứu môi trường để xác định những cơ hội và đe
dọa chủ yếu, làm cơ sở cho việc xây dựng chiến lược.
Trang 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét