Thứ Năm, 27 tháng 2, 2014

v_n_ti_n_l_ng_trong_c_c_doanh_nghi_p_nh_n_c_vi_t_nam_hi_n_nay

"Mức lơng tối thiểulà mức lơng để trả cho ngời lao động làm công
việc đơn giản nhất(không qua đào tạo)với điều kiện lao động và môi trờng lao
động bình thờng"
Quan niệm của kinh tế học hiện đại về mức lơng tối thiểu lại xuất phát
từ các quy luật cung cầu,giá cả thị trờng lao động,từ mối quan hệ giữa khả năng
cung ứng và khả năng tiêu thụ nguồn cung ứng sức lao động.Nhà kinh tế học
d>Begg viết:"Tiền công tối thiểu của một yếu tố sản xuấtlà tiền trả tối thiểu
cần thiết để lôi cuốn ngời cung cấp sức lao động vào làm việc đó".Theo ý kiến
này thì cơ chế thị trờng là tác nhân chủ yếu,điều tiết mứ lao động,mức tiền lơng
diều tiết mối quan hệ giữa ngời sử dụng và ngời cung ứng sức lao động.ở đây
quan hệ lợi ích giữa các chủ thể trong một doanh nghiệp thể hiện rất rõ,doanh
nghiệp muốn có sức lao động để hoạt động kinh doanh,chí ít phải trả mức lơng
không thấp hơn mức lơng tối thiểu đợc ấn định bởi thị trờng lao động.Mặt
khác,do mục tiêu lợi nhuận chi phối,doanh nghiệp phổ thông tính toan so sánh
giữa chi phí và doanh thu trong đó tiền lơng là một chi phí quan trọng,nó sẽ
điều chỉnh mức sản lợng tối u của doanh nghiệp đó,do đó sẽ điều chỉnh mức
thuê lao động.
Tiền lơng kinh tế là một khái niệm của kinh tế học.Các doanh ngiệp muốn
có đợc sự cung ứng sức lao động nh nó yêu cầu,cần phải trả mức lơng cao hơn
so với tiền lơng tối thiểu.Tiền trả thêm vào tiền lơng tối thiểu đẻ đạt đợc yêu cầu
cung ứng sức lao động gọi là tiền lơng kinh tế.Vì vậy có ngời quy định,tiền lơng
kinh tế giống nh tiền lơng thuần tuý cho ngời đã hài lòng cung ứng sức lao động
cho doanh nghiệp nào đó với các điều kiện mà ngời thuê lao động yêu cầu.
2.Vai trò của tiền lơng:
Tiền lơng là một trong những hình thức hình thành lợi ích vât chất đối
với ngời lao động,vì vậy để sử dụng đòn bẩy tiền lơng nhằm đảm bảo sản xuất
phát triển,duy trì một đội ngũ lao động có trình độ kỹ thuật nghiệp vụ kĩ thuật
cao với ý thức kỉ luật vững đòi hỏi tổ chức tiền lơng trong doanh nghiệp phải
đặc biệt coi trọng.Đối với chủ doanh nghiệp tiền lơng là một yếu tố dùng để chi
phí sản xuất còn đối với ngời cung ứng sức lao động tiền lơng là nguồn thu nhập
chủ yếu.Mục đích của các nhà sản xuất là lợi nhuận,còn mục đích của ngời
cung ứng sức lao động là tiền lơng,với ý nghĩa này tiền lơng không chỉ mang
bản chất là chi phí mà nó trở thành phơng tiện tạo ra giá trị mới hay đung hơn
cung ứng sự sáng tạo sức sản xuất,năng lực của lao động trong quá trình sản
sinh ra các giá trị gia tăng.
Đối với ngời lao động,tiền lơng nhận thoả dáng sẽ là động lực hình
thành năng lực sáng tạo để làm tăng năng xuất lao động,mặt khác khi năng xuất
lao động tăng thì lợi nhuận doanh nghiệp sẽ tăng,do đó nguồn phúc lợi của
doanh nghiệp mà ngời lao động nhận đợc cũng sẽ lại tăng lên,nó là phần bổ
xung thêm cho tiền lơng,làm tăng thu nhập và tăng lợi ích cho cung ứng sức lao
động lên nữa,khi lợi ích của ngời lao động đợc bảo đảm bằng mức lơng thoả
đáng nó sẽ tạo ra sự gắn kết cộng đồng những ngời lao động với mục tiêu và lợi
ích của doanh nghiệp xoá bỏ sự ngăn cách giữa ngời chủ doanh nghiệp và ngời
cung ứng sức lao động,làm cho ngời lao độngcó trách nhiệm hơn,tự giác hơn
với các hoạt động của doanh nghiệp
Ngợc lại nếu doanh nghiệp không hợp lí hoặc ở mức tiêu lợi nhuận
thuần tuý,không chú ý đúng mức đén lợi ích của ngời lao động và quyền công
nhân có thể bị kiệt quệ về thể lực,giảm sút về chất lợng,làm hạn chế về các
động cơ làm hạn chế các động cơ cung ứng sức lao động.Biểu hiện rõ nhất là
tình trạng cắt xén thời gian làm việc,lãng phí nguyên vật liệu và thiết bị,làm
dối,làm ẩu,mâu thuẫn giữa ngời làm công và chủ doanh nghiệp có thể dẫn đến
bãi công,đình công
Một biểu hiện nữa là di chuyển lao động,nhất là những ngời có trình độ
chuyên môn và tay nghề cao sang những khu vực và doanh nghiệp có mức lơng
hấp dẫn hơn.Hởu quả gây ra là vừa mất đi nguồn nhân lực quan trọng,vừa làm
thiếu hụtcục bộ,đình đốn hoặc phá vỡ tiến trình bình thờng trong quá trình sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Một nhà quản lí đã nhận xét nếu tất cả
những gì anh đa ra chỉ là hột lạc,thì chẳng có ngạc nhiên rằng kết cục anh chỉ
đánh bạn với lũ khỉ và nếu cắt xén của những ngời làm công cho ta,họ sẽ cắt
xén lại ta và khách hàng của ta.
3, Trình tự xây dựng hệ thống trả công lao động trong các doanh
nghiệp.
Có 3 quyết định đợc đa ra trong quá trình xây dựng:
- Quyết định về mức trả công: Cao nh thế nào? cao đến đâu? chính sách trả
công nh thế nào? bằng bao nhiêu? cao hơn hay thấp hơn mức lơng bình quân
trên thị trờng?
- Quyết định về cơ cấu của hệ thống trả công: Quyết định sự chênh lệch
giữa các công việc thực hiện trong doanh nghiệp đảm bảo sự công bằng trong
nội bộ.
- Quyết định về tiền công cho cá nhân: Có thể trả công cho ngời lao động
tơng xứng với ngời lao động, quyết định sự chênh lệch trong việc trả công cho
ngời lao động trong từng công việc nh nhau, tạo động lực trong lao động.
Các bớc xây dựng:
- Bớc 1: Xem xét mức lơng tối thiểu mà Nhà nớc quy định, Nhà nớc quy
định mức lơng tối thiểu cho từng doanh nghiệp khác nhau là khác nhau.
- Bớc 2: Khảo sát các mức lơng thịnh hành trên thị trờng.
- Bớc 3: Đánh giá công việc đó là việc xác định một cách có hệ thống giá
trị hay giá trị tơng đối của mỗi một công việc trong tổ chức, đa ra hệ thống thứ
bậc về giá trị của công việc từ đó ta đảm bảo xây dựng cơ cấu của hệ thống trả
công đồng thời nó đảm bảo sự công bằng trong doanh nghiệp. Đây là một bớc
rất quan trọng trong việc khảo sát mức lơng thịnh hành trên thị trờng.
Để có thể đánh giá giá trị của công việc cần có hai điều kiện:
- Thành lập hội đồng đánh giá công việc: Về nguyên tắc không nên quá
nhiều ngời từ 3 - 5 ngời. Những ngời trong hội đồng phải là những ngời am
hiểu về công việc trong doanh nghiệp, công nhân lành nghề, cán bộ nhân sự,
công đoàn (nên có ngời của phía lao động, phía quản lý).
- Trong doanh nghiệp, tồn tại một hệ thống các bản mô tả công việc và các
bản xác định yêu cầu của công việc đối với ngời thực hiện một cách khoa học
chính xác và tỉ mỉ.
4,Các hình thức trả công
Các hình thức trả công cơ bản
gianTrả công theo thời
Trả công theo sản phẩm
a,Trả công theo thời gian:
Trả công theo thời gian là hình thức trả công căn cứ vào mức lơng theo
cấp bậc(đợc quy định trong hệ thống thang bảng lơng của Nhà nớc và quyđịnh
của từng doanh nghiệp) và thời gian làm việc thực tế của NLĐ.
Các mức tiền công đợc xác định nh sau:
Mức tiền công = Mức lơng cấp bậc
Số lợng thời gian làm viêc;làm việc thực tế
Mức lơng cấp bậc ngày = Error!
Mức lơng cấp bậc giờ = Error!
Trả công theo thời gian thờng đợc áp dụng trong các trờng hợp:
- Công việc khó định mức chính xác và chặt chẽ
- Công việc đòi hỏi chất lợng cao
- Công việc có mức độ tự động hoá cao
- Công việc có tính chất tạm thời
áp dụng trả côngtheo thời gian thì đơn giản trong thực hiện việc trả l-
ơng nhng không khuyến khích đợcn tăng lăng xuất lao động.Để khắc phục một
phần nhợc điểm này,trả công theo thời gian thờng đợc chia làm hai loại: Trả
công theo thời gian có thởng.
Nội dung của chế độ trả công theo thời gian dơn giản thực chất đã dợc
trình bày ở trên còn chée độ trả công theo thời gian đơn giản với tiền thởng khi
đạt đợc những chỉ tiêu về số lợng hoặc chất lợng qui định.áp dụng trả công
theo thời gian có thởng khuyến khích tốt hơn sự nỗ lực tăng năng xuất,tăng chất
lợng,tiết kiệm nguyên vật liệu
b,Trả công theo sản phẩm:
Trả công theo sản phẩm là hình thức trả công trong đó tiền công đợc xác
định theo mức lơng cấp bậc (đợc quy định trong hệ thống thang bảng lơng Nhà
nớc và quy định của doanh nghiệp),mức lao động và số lợng sản phẩm thực tế
đợc sản xuất ra và đợc ngiệm thu.
Trả công theo sản phẩm phản ánh tơng đối chuẩn xác lợng lao động thực
tế bỏ ra,đồng thời phân biệt đợc năng lực có thể khác nhau giữa những ngời
cùng làm một loại sản phẩm,lại gắn chặt thu nhập với kết quả lao động cụ
thể,kích thích nâng cao trình độ mọi mặt,sử dụng tốt và hợp lí thời gian làm việc
và ngỉ ngơi,tăng cờng kỷ luật doang nghiệp,cải tiến quản lý doanh nghiệ.Do đó
trả công theo thời sản phẩm có tác dụng tích cực .Tuy vậy,trả công theo sản
phẩm cũng dễ dẫn đến hiện tợng chạy theo số lợng,coi nhẹ chất lợng,lãng phí
NVL,coi nhẹ việc giữ gìn máy móc thiết bị dụng cụ và an toàn,vệ sinh lao
động,tranh thủ thời gian quá mức,gây ảnh hởng không tốt đến sức khoẻ
NLĐ.Trả công theo sản phẩm không thích hợp với các công việc cơ khí hoá,tự
động hoá cao.Vì vạy,những công việc đòi hỏi chất lợng cao hơn là về số lợng
thì chỉ nên áp dụng hình thức trả lơng theo thời gian hoặc trả công theo thời
gian có thởng.
Trả công theo những chế độ sau:
Chế độ trả công theo sản phẩm trực tiếp cá nhân:
Chế độ trả công theo sản phẩm trực tiếp cá nhân là chế độ trả
công sản phẩm áp dụng đối với công nhân trực tiếp sản xuất trong đó tiền công
tỉ lệ thuận với số lợng sản phẩm đợc sản xuất ra và đợc nghiệm thu.
Đơn giá của chế độ trả công này cố định và đợc tính theo công thức
sau:
ĐG = Error! Hay ĐG =L x T
Trong đó :
ĐG:đơn giá sản phẩm
L:Lơng theo cấp bậc công nhân viên hoặc mức lơng giờ
Q:Mức sản lợng
T:Mức thời gian (tính theo giờ)
Tiền công của công nhân đợc tính theo công thức
L = ĐG x Q
1
Q
1
:sản lợng thực tế
u điểm nổi bật của chế độ tiền công này là mối quan hệ giữa tiền công
của công nhân nhận dợc và kết quả lao động thể hiện rõ ràng,do đó kích thích
công nhân nhận đợc và kết quả lao động thể hiện rõ ràmg,do đó kích thích công
nhân cố gắng nâng cao trình độ lành nghề,nâng cao năng uất lao động nhằm
tăng thu nhập.Chế độ tiền công này dễ hiểu,công nhân dễ dàng tính toán đợc số
tiền công nhân đợc.Sau khi hoàn thành nhiệm vụ sản xuất.
Nhợc điểm của chế độ tiền công này là : NLĐ ít quan tâm đến việc sử
dụng tốt máy móc,thiết bị và NVL,ít chăm lo đến công việc chung của tập thể
v.v
Chế độ trả công theo sản phẩm tập thể:
Chế độ trả công tính theo sản phẩm tập thể là chế độ trả công trong đó
tiền công đợc trả cho một nhóm NLĐ cho khối lợng công việc mà họ đã thực
hiện và sau đó đợc phân chia đến NLĐ theo một phơng pháp nhất định nào đó.
Đơn giá ở đây đợc tính theo công thức sau:
L
i
:Mức lơng cấp bậc của công việc i
L
ci
:Tổng số tiền lơng tính theo cấp bậc công việc của cả tổ
Q:Mức sản lợng
T
i
:Mức thời gian của công việc bậc i
Tiền công thực tế của tổ,nhóm công nhân đợc tính theo công thức:
L
i
= ĐG x Q
1
Trong đó: L
1
:tiền công thực tế tổ nhận đợc
Q
1
:sản lợng thực tế tổ đã hoàn thành
Việc phân phối tiền công có thể áp dụng các phơng pháp sau:
Phơng pháp thứ nhất:phơng pháp hệ số điều chỉnh.
+) Bớc 1: Tính tiền công theo cấp bậc và thời gian làm việc của mỗi
công nhân.
L
ci
= L
i
x T
i
Trong đó: L
ci
:Tiền công cấp bậc của mỗi công nhân
i
n
i
a
xTLDG

=
=
1
L
i
: Mức lơng cấp bậc công việc
T
i
:thời gian làm việc thực tế của công nhân i
+)Bớc 2: Xác định hệ số điều chỉnh
H
dc
= Error!
Trong đó : H
dc
:hệ số điều chỉnh
+)Bớc 3; Tính tiền công cho từng công nhân
L
li
=L
ci
x H
dc
Trong đó : L
li
:Tiền công thực tế công nhân i nhận đợc
- Phơng pháp thứ hai:Phơng pháp giờ Hệ số
+)Bớc 1:Qui đổi số giờ làm việc thực tế từng công nhân ở các cấp bậc
khác nhau ra số giờ làm việc của công nhân bậc 1 theo công thức:
T
qđi
= T
i
x H
i
Trong đó: T

:Số giờ làm việc qui đổi ra bậc 1 của công nhân bậc i
H
i
:Hệ số lơng bậc i trong thang lơng
+)Bớc 2:Tính tiền công cho một giờ làm việc của công nhân bậc 1
L
1
1
= Error!
Trong đó:
L
1
1
:Tiền lơng 1 giờ của công nhân bậc 1 tính theo lơng thực tế
T

1
:Tổng số giờ bậc 1 sau khi quy đổi
+)Bớc 3:Tính tiền lơng cho từng ngời
L
1i
= L
1
1
x T
qđi
Hai phơng pháp phân phối tiền công trên đảm bảo tính chính xác
trong việc trả lơng cho ngời lao động nhng việc tính toán tơng đối phức tạp.Do
vậy trong thực tế,ngoài hai phơng pháp trên,các doanh nghiệp còn áp dung chia
có sự kết hợp giữa cấp bậc với việc bình công,chấm điểm hoặc phân loại A,B,C.
Chế độ trả công theo sản phẩm tập thể có u điểm là khuyến khích công
nhân tổ,nhóm nâng cao trách nhiệm tập thể,quan tâm đến kết quả cuối cùng của
tổ.Song,nó có nhợc điểm là sản lợng của mỗi công nhân không trực tiếp quyết
định tiền công của họ.Do đó,ít kích thích công nhân nâng cao NSLĐ cá
nhân.Mặt khác do phân phối tiền công cha tính đến tính hình thực tế của công
nhân về sức khoẻ,thái độ lao động nên cha thể hiện đầy đủ nguyên tắc phân
phối theo số lợng và chất lợng lao động.(Giáo trình QTNL,trang 127)
Chế độ trả lơng theo sản phẩm gián tiếp:
Chế độ trả lơng theo sản phẩm gián tiếp là chế độ trả công áp dụng cho
những công nhân phụ mà công việc của họ có ảnh hởng nhiều đến kết quả lao
động của công nhân chính hởng lơng theo sản phẩm.
Đặc điểm của chế độ trả công này là thu nhập về tiền công của công nhân
phụ thuộc vào kết quả sản xuất của công nhân chính.Do đó,đơn giá tính theo
công thức sau:
ĐG = Error!
Trong đó:
ĐG:Đơn giá tiền của công nhân phụ(phục vụ)
L:Lơng cấp bậc của công nhân phụ
M:Mức lơng của công nhân phụ
Q:Mức sản lợng của một công nhân chính
Tiền lơng thực tế của công nhân phụ tính theo công thức:
L
1
= ĐG x Q
1
Trong đó : L
1
:Tiền lơng thực tế của công nhân phụ
Q
1
:Mức hoàn thành thực tế của công nhân chính
Chế độ tiền công này có u điểm là khuyến khích công nhân phục vụ tốt
hơn cho hoạt động của công nhân chính,tao điều kiện nâng cao NSLĐ của công
nhân chính.Tuy nhiên,do tiền kơng của công nhân phụ thuộc vào kết quả làm
việc thực tế của công nhân chính,mà kết quả này nhiều khi lại chịutác động của
các yếu tố khác có thể làm hạn chế sự cố gắng của coong nhân phụ.
Chế đọ trả công khoán :
Chế độu trả công khoán áp dụng cho những công việc,nếu giao từng chi
tiết,bộ phận sẽ không co lợi mà phải giao toàn bộ khối lợng cho công nhânhoàn
thành trong thời gian nhất định.Chế độ này đợc thực hiện khá phổ biến trong
ngành công nghiệp,xây dựng cơ bản hay trong một số ngành khác khi công
nhân làm việc mang tính đột xuất,công việc không thể các định một định mức
lao động ổn định
Tiền công khoán đợc tính nh sau:
L
1
=ĐG
k
x Q
1
Trong đó L
1
:tiền công thực tế công nhân nhân đợc
ĐG
k
:Đơn giá khoán cho một sản phẩm hay một công việc
Q
1
:Số lợng sản phẩm hay khối lợng công việcđợc hoàn thành hay nghiệm
thu.
Chế độ trả công khoán có tác dụng làm cho NLĐ phát huy sáng kiến và
tích cực cải tiến phơng pháp lao động để tối u hoá quá trìng làm việc,hoàn thành
nhanh công việc giao khoán,đảm bảo chất lợng công việc thông qua hợp đồng
khoán chặt chẽ.
Tuy nhien,chế độ trả công khoán đòi hỏi việc tính toán đơn giá hết sức
chặt chẽ,tỷ mỷ để xây dựngđơn giá trả công chính xác cho công nhân làm
khoán.
Chế độ trả công theo sản phẩm có thởng:
Chế độ trả công theo sản phẩm có thởng là sự kết hởptả lơng theo sản
phẩm(theo chế độ đã trình bày ở trên)và tiền thởng.
Chế độ trả công theo sản phẩm có thởng gồm hai phần:Phần trả công theo
đơn giá cố định và số lợng sản phẩm thực tế đã hoàn thành.Phần tiền thởng đợc
tính dựa vào mức độ hoàn thành và hoàn thành vợt mức các chỉ tiêu về số loựng
của chế độ tiền thởn quy định.
Tiền công trả theo sản phẩm có thởng (L
th
)tính theo công thức:

Trong đó:
L :Tiền cổn trả theo sản phẩm với giá cố định
100
m
LLL
hth
+=
M:%tiền thởn cho 1%hoàn thành vợt mức chỉ tiêu thờng
h :%hoàn thành vợt mức chỉ tiêu thởng
Yêu cầu khi thực hiện chế độ trả công này là cần phải quy định chặt
chẽ các chỉ tiêu,điều kiện thởng,nguồn tiền thởng và tỉ lệ thởng bình quân.
Chế độ trả công theo sản phẩm luỹ tiến:
Chế độ trả công rheo sản phẩm luỹ tiến áp dụng cho nhng khâu yếu hay
những khâu quan trọng của việc sản xuất mà việc tăng NSLĐ ở những khâu này
có tác dụng thúc đẩy sản xuất ở những bộ phận khác có liên quan góp phần
hoàn thành vợt mức kế hoạch của doang nghiệp.
Chế độ trả công này dùng hai loại đơn giá:Cố định và luỹ tiến.Đơn giá cố
định dùng để trả cho những sản phẩm thực tế đã hoàn thành.Cách tính đơn giá
này giống nh trong chế độ trả công sản phẩm trực tiếp cá nhân.
Đơn giá luỹ tiến để tính cho những sản phẩm vợt mức khởi điểm.Đơn giá
này dựa vào đơn giá cố đinh và có tính đến tỷ lệ tăng đơn giá.Tỷ lệ tăng đơn giá
hợp lí đợc tính nh sau:

Trong đó:
D

:Tỷ trọng chi phí sản xuất gián tiếp cố định trong gá thành sản phẩm
T
k
:Tỷ lệ của số tiền tiết kiệm về chi phí sản xuất gián tiếp cố định dùng để
tăng đơn giá.
D
1
:Tỷ trọng của tiền công CNSX trong giá thành sản phẩm khi hoàn thành
mức sản lợng 100%.
Tiền công của công nhân nhận đợc(L)là
L = P.Q
1
+ P.L.(Q
1
Q
0
)
Trong đó: Q
1
:sản lợng thực tế
Q
0
:mức khởi điểm
P:đơn giá cố định
100.
;
1
dt
d
K
k
cd
=

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét