4. Lịch sử vấn đề
Ở nước ta, vấn đề nghiên cứu về SGK chưa nhận được sự quan tâm đúng mức từ các tổ chức xã
hội, giáo dục khác. Các công trình chuyên sâu về SGK không nhiều. Sau mỗi lần cải cách thay SGK,
những bài viết đăng tải trên các trang báo chỉ là những ý kiến khen, chê. Mặc dù, những ý kiến này đã
có những đóng góp nhất định nhưng để xây dựng một hệ thống lí luận hoàn chỉnh về SGK thì cần phải
có những công trình nghiên cứu chuyê
n sâu hơn nữa.
Có thể nói, mới chỉ có Nhà xuất bản Giáo dục đặt vấn đề nghiên cứu về SGK một cách hệ
thống. Trong quá trình 45 năm làm sách phục vụ cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai và lần thứ ba, Nhà
xuất bản Giáo dục đã xuất bản 15 tập “Các vấn đề Sách giáo khoa”, 3 tập “Thông tin Sách giáo dục” và
hơn 10 tập “Các vấn đề Sách giáo dục”. Đây
là một tủ sách nghiệp vụ có giá trị lớn.
Để hình dung cụ thể hơn lịch sử vấn đề, chúng tôi xin phép dừng lại ở công trình “Các vấn đề
Sách giáo dục - Tuyển tập”, là công trình tuyển chọn các bài viết có giá trị rút ra từ các Kỉ yếu và các
tập sách nghiệp vụ nói trên.
“Các vấn đề Sách giáo dục - Tuyển tập” trình bày những vấn đề cơ bản của việc nghiên cứu lí
luận về SGK như: quan niệm về SGK, phương thức biên soạn, m
ô hình cấu trúc của SGK, chức năng
của SGK, ngôn ngữ trong SGK, mĩ thuật trong SGK, phương pháp luận đánh giá SGK, quan niệm và
chức năng của SGV, nội dung SGV, quan niệm về STK và đánh giá STK, chất lượng STK, …
Nguyễn Khắc Phi, Vũ Dương Thụy, Dương Trọng Bái có chung quan điểm về SGK. Các tác giả
này cho rằng: SGK là sách viết cho HS và GV dùng theo những nội dung chuyên môn đã quy định
trong chương trình và theo những chỉ đạo thống nhất trong Luật giáo dục. Tr
ong bài viết “Những tiêu
chí của ngôn ngữ bản văn sách giáo khoa”, Nguyễn Ngọc Nhị nêu thêm một cách hiểu về SGK: “SGK
có thể bao gồm cả sách viết cho học sinh và một cuốn sách kèm theo sách đó như sách hướng dẫn giáo
viên, sách bài tập” [70, tr.40]. Theo đó, tác giả cho rằng các STK cũng như sách công cụ có liên quan
đến GV và HS tạo thành tổ hợp giáo khoa. Như vậy, Nguyễn Ngọc Nhị quan niệm về SGK theo nghĩa
rộng. Nói đến SGK không phải là nói đến một cuốn sách độc lập m
à là một tổ hợp giáo khoa.
Giáo sư Phan Trọng Luận dẫn ra một quan niệm mới về SGK khác với những quan niệm trước
đây.Trong bối cảnh sự tiến bộ không ngừng của công nghệ thông tin, một CD-ROM có khả năng ghi
hàng tỉ bít tương đương với 500 cuốn sách thì khái niệm quen thuộc về SGK không thể giữ nguyên như
cũ. Với CD-ROM, SGK không thể chỉ là những kênh chữ, kênh hình hay các kiểu bài
tập ghi chép.
Như vậy, công tác biên soạn SGK trong tương lai cần quan tâm một cách thực sự đến yêu cầu hiện đại
hóa.
Phương thức biên soạn SGK là một trong những vấn đề mà tài liệu “Các vấn đề Sách giáo dục -
Tuyển tập” đề cập đến. Biên soạn SGK theo công thức “CTWA” (Comprehensive textbook writing
approach) đang được chú ý. Ưu điểm của việc tổ chức biên soạn theo công thức “CTWA” phần nào
khắc phục được hạn chế của phương thức biên soạn “c
uốn chiếu”. Phương thức này giảm bớt được sự
không đồng bộ trong nội dung kiến thức, sự không liên tục về trình độ và phần nào sự quá tải. Khi ứng
dụng công thức “CTWA” ta cũng rút ngắn được thời gian biên soạn. Cùng thời gian 12 tháng, có thể
hơn 12 tháng, biên soạn theo công thức này hoàn thành được 5 bản thảo ở mức hoàn chỉnh, nếu theo
phương thức “cuốn chiếu” chỉ hoàn thành một bản thảo. Dù biên soạn theo phương thức nào cũng cần
coi trọng tính đặc thù của bộ môn
, cố gắng bám sát mô hình chung của SGK mới để có sự thống nhất
tương đối giữa SGK các môn học.
Tập tài liệu “Các vấn đề Sách giáo dục - Tuyển tập” cung cấp khá đầy đủ các bài nghiên cứu về
mô hình cấu trúc SGK. Trong bài “Mô hình cấu trúc sách giáo khoa sau năm 2000”, Trần Kiều - Lê
Xuân Trọng đã nêu lên những điểm chung về cấu trúc SGK các môn học trong nhà trường phổ thông.
Cấu trúc chung của SGK đều gồm ba phần: phần đầu SGK, phần giữa
SGK và phần cuối SGK. Trong
đó, phần giữa SGK là phần chính của sách, bao gồm các phần, các chương, các bài học. Khi nghiên
cứu cấu trúc một chương SGK, các tác giả lưu ý cuối mỗi chương nên có những thành phần gì để HS
có thể tự kiểm tra, tự đánh giá kết quả học tập của mình. Nội dung các câu hỏi, bài tập trong cấu trúc
bài học nên hướng vào kỹ năng vận dụng kiến thức nhằm phát triển trí tuệ cho HS. Mức độ bài tập thể
hiện sự phâ
n hóa nhằm đáp ứng được những năng lực khác nhau của HS.
Ngoài những vấn đề chung về mô hình cấu trúc SGK, các nhà nghiên cứu chú ý bước đầu đến
mô hình cấu trúc SGK bộ môn. Về cơ bản, SGK mỗi bộ môn có sự thống nhất tương đối với mô hình
chung của SGK nhưng tùy theo đặc trưng bộ môn mà cấu trúc SGK mỗi bộ môn có những điểm khác
biệt. Theo Đỗ Ngọc Thống, m
ô hình và cấu trúc nội dung SGK môn Ngữ văn phải thể hiện được
những quan điểm cơ bản về xây dựng và biên soạn SGK Ngữ văn. Mô hình đó được xây dựng theo
tinh thần tích hợp, không chỉ chú trọng nội dung mà còn phục vụ tích cực cho việc đổi mới phương
pháp dạy học. Về mô hình SGK môn Sinh học, tác giả Nguyễn Quang Vinh xác định mô hình đó vừa
cung cấp thông tin vừa hướng dẫn HS xử lí thông tin. HS được làm việc với các thông tin mới bằng
cách trả lời câu hỏi, tr
ình bày một vấn đề, tiến hành làm thí nghiệm… Nguyễn Minh Phương, Phạm
Thu Phương đề xuất những kiến nghị xây dựng mô hình SGK thí điểm môn Địa lí. Cấu trúc bài học
được trình bày sao cho HS có thời gian tiếp thu lượng kiến thức của bài học, HS thực sự thực sự được
làm việc, phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập và có thể tự kiểm tra lại kết quả làm việc.
Có t
hể nói, nghiên cứu mô hình cấu trúc SGK sẽ giúp chúng ta có những kinh nghiệm bổ ích,
đóng góp trực tiếp cho việc biên soạn SGK mới ngày càng khoa học và hiện đại hơn.
Tài liệu “Các vấn đề Sách giáo dục - Tuyển tập” cũng tuyển chọn các bài viết của nước ngoài
nghiên cứu về các chức năng của SGK.Theo Francois Marie Gerard và Xavier Roegiers, SGK phổ
thông có thể có nhiều chức năng khác nhau tùy theo người sử dụng, tùy theo môn môn học và t
ùy hoàn
cảnh biên soạn sách. Khi HS sử dụng, một cuốn SGK sẽ có nhiều chức năng hướng vào việc học tập và
các chức năng hướng vào việc thiết lập liên hệ giữa học tập với đời sống. Các SGK phổ thông còn có
chức năng đào tạo đối với GV. SGK là công cụ cho phép GV thực hiện được vai trò nghề nghiệp của
mình trong quá trình dạy học.
Tài liệu cũng tuyển chọn một số bài nghiên cứu về ngôn ngữ SGK. Các bài nghiên cứu đều có
chung một điểm: ngôn ngữ giáo khoa gồm hai kênh thông tin (kênh chữ và kênh hình) nhằm truyền tải
kiến thức, kỹ năng đến với HS theo đúng yêu cầu của chương trình môn học. Tuy nhiên, mỗi bài viết
này có một d
iện mạo riêng, góp phần nâng cao chất lượng ngôn ngữ bản văn SGK. Nguyễn Trí chỉ ra
những thay đổi trong cách viết phần bài học, cách diễn đạt tiêu đề bài học và tiêu đề các phần trong bài
học; Nguyễn Quốc Siêu phân tích ý nghĩa các yếu tố ngôn ngữ trong bản văn SGK; Nguyễn Văn Tùng
bàn về chức năng của ngôn ngữ SGK; Nguyễn Ngọc Nhị chỉ ra các yếu tố tạo nên chất lượng ngôn ngữ
bản văn và những tiêu chí đánh giá chất lượng ngôn ngữ bản văn.
Ngoài những vấn đề chung về ngôn ngữ SG
K, các nhà nghiên cứu còn quan tâm đến những yêu
cầu riêng đối với ngôn ngữ SGK bộ môn. Mỗi môn học mang những đặc trưng riêng do đó ngôn ngữ
SGK bộ môn cũng có những yêu cầu riêng. Theo Nguyễn Quốc Luân ngôn ngữ SGK Văn học phổ
thông phải đạt 4 yêu cầu cơ bản: chính xác, đủ hiểu, phát triển, kết hợp hài hòa tính khoa học và tính
nghệ th
uật. Trần Phương Dung chỉ ra những chỗ dùng kí hiệu toán học, kí hiệu logic, câu trong SGK
Toán chưa rõ, gây ra sự hiểu lầm làm mất đi sự chính xác của một đề toán. Từ đó, tác giả đưa ra những
yêu cầu riêng đặc thù đối với ngôn ngữ bản văn SGK Toán. Đặc biệt là sự phân biệt giữa các từ trong
ngôn ngữ thông thường được dùng trong toán. Dựa vào lí luận SGK, Nguyễn Thị Hồng Việt nêu một
số suy nghĩ về việc dùng từ và câu trong S
GK Vật lí để đi đến kết luận: ngôn ngữ bản văn SGK Vật lí
cũng có tính đặc thù riêng của bộ môn.
Phương pháp luận đánh giá SGK là một trong những yếu tố xây dựng hệ thống lí luận SGK.
Đào Trọng Quang, Vũ Dương Thụy, Nguyễn Quốc Túy tìm hiểu tiến trình, các tiêu chí và phương
pháp cụ thể đánh giá SGK. Đánh giá SGK phải gắn liền với quan niệm SGK thể hiện chương trình bộ
m
ôn. Mỗi môn học có những sắc thái riêng, vì thế bên cạnh tiêu chí chung, nên có hệ thống những tiêu
chí riêng cho từng bộ môn, từng lớp hoặc từng cấp học.
Trở lên trên là những vấn đề lí luận SGK mà tập tài liệu “Các vấn đề Sách giáo dục - Tuyển
tập” đã đề cập đến. Có thể xem Tuyển tập này là một tài liệu tham khảo quan trọng khi tìm hiểu về
SGK.
“Sách giáo khoa một số vấn đề lí luận và thực tiễn” l
à nhan đề của phần bốn trong tài liệu
“Nguyễn Khắc Phi tuyển tập” do Vũ Thanh tuyển chọn. Phần này giới thiệu một số bài viết của Giáo
sư Nguyễn Khắc Phi trao đổi về chương trình và SGK Ngữ văn bậc Trung học cơ sở (THCS). Trong
các bài viết, Giáo sư Nguyễn Khắc Phi nhấn mạnh một số điểm về phương pháp khi tiếp cận SGK mới
làm
sao phát huy được ưu thế của phương châm tích hợp.
Các bài viết “Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa”, “Cơ sở lựa chọn
học vấn phổ thông để xây dựng chương trình môn học”, “Về chương trình và sách giáo khoa phổ
thông”, “đổi mới cách viết sách giáo khoa bậc Trung học”, “Những điều kiện ràng buộc đối với công
cuộc đổi mới chương trình và sách giáo khoa Trung học” của Trần Bá Hoành đi sâu vào nghiên cứu
những mục đích yêu cầu và những định hướng chính cho việc thiết kế chương trình và viết SGK. Qua
các bài viết này, tác giả mong muốn chúng ta sẽ có một bộ máy chuyên và một cơ chế đáp ứng nhanh
hơn nữa để không ngừng phát triển chương tr
ình phổ thông theo yêu cầu phát triển của đất nước.
Riêng đối với SGK Ngữ văn lớp 10, chúng ta có các tài liệu “Một số vấn đề đổi mới phương
pháp dạy học và kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn 10” của Nguyễn Hải Châu, Nguyễn Trọng Hoàn, Lê
Hồng Mai, Nguyễn Thị Nhuận, Lê Thị Thanh Tâm; “Tìm hiểu chương trình và sách giáo khoa Ngữ
văn Trung học phổ thông” của Đỗ Ngọc Thống; “Tài liệu bồi dưỡng giáo viê
n thực hiện chương trình,
sách giáo khoa lớp 10 Trung học phổ thông môn Ngữ văn” của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Các tài liệu
này trình bày các nguyên tắc đổi mới chương trình giáo dục môn Ngữ văn, nội dung chương trình môn
Ngữ văn lớp 10, những định hướng đổi mới phương pháp giảng dạy môn Ngữ văn lớp 10 và đánh giá
kết quả học tập.
Về vấn đề “phương pháp làm việc với SGK”, ở nước ta h
iện nay chưa có tư liệu chuyên sâu
nào. Vấn đề này chỉ mới được nhắc đến trong tài liệu “Phương pháp dạy học văn” tập 2 của Phan
Trọng Luận, Trương Dĩnh. Các tác giả viết:
“Làm việc với giáo khoa” rèn cho HS năng lực nghiên cứu, năng lực tự học theo giáo khoa.
Hoạt động này tận dụng sách giáo khoa, khắc phục tình trạng “thiếu kiến thức nhưng thừa giáo khoa”
như đã nói ở trên. “Làm việc với giáo khoa” đòi hỏi HS phải chuẩn bị bài học văn học sử theo nếp: đọc
giáo khoa, lập dà
n ý kiến thức bài học, nêu thắc mắc.
“Làm việc với giáo khoa” có thể vận dụng qua cá biện pháp sau: HS dàn ý hóa giáo khoa, HS
đọc giáo khoa, HS phát hiện luận điểm và các dẫn chứng minh họa cho luận điểm, HS thắc mắc về nội
dung cấu trúc giáo khoa, HS học bài theo giáo khoa…, HS đối chiếu nội dung và cách trình bày kiến
thức giữa các bộ sách khác nhau… Các biện phá
p này có thể thực hiện theo sự gợi ý của GV, có thể do
GV thuyết giảng độc thoại hoặc có thể cho HS làm bài tập ở nhà” [54, tr.46].
Tóm lại, các vấn đề lí luận SGK tuy đã được đặt ra và đã có nhiều bài viết đề cập đến nhưng để
xây dựng được một hệ thống lí luận hoàn chỉnh về SGK thì vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu chuyên
sâu hơn nữa. Những bài viết, công trình nghiên cứu, các cuộc thảo luận về SGK là
cơ sở khoa học để
SGK trở thành một đối tượng nghiên cứu khoa học, một công trình khoa học. Đây chính là nền tảng để
xây dựng một hệ thống lí luận hoàn chỉnh về SGK.
5. Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận của luận văn là quan điểm đổi mới giáo dục của Đảng, nghị quyết của
Quốc hội, chỉ thị của Chí
nh phủ, các văn bản chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo về đổi mới phương
pháp dạy học, các nguyên tắc biên soạn chương trình, SGK các bộ môn nói chung và môn Ngữ văn nói
riêng.
Luận văn sử dụng phương pháp thu thập tài liệu, phương pháp nghiên cứu sản phẩm, phương
pháp so sánh. Ngoài ra, để vấn đề nghiên cứu có cơ sở chứng thực, luận văn dùng phương pháp khảo
sát, trắc nghiệm, xử lý kết quả khảo sát.
6. Ýnghĩa khoa học của đề tài
Luận văn cố gắng hệ thống hóa các luận điểm về SGK nhằm giúp GV và HS hiểu được những
vấn đề cơ bản về SGK.
Đó chính là cơ sở lí luận để GV và HS phát huy vai trò của SGK, sử dụng SGK
trong thực tế dạy học một cách có hiệu quả.
Từ việc phân tích cấu trúc, nội dung và hình thức của SGK Ngữ văn 10, những cảm nhận của
bản thân đối với bộ sách Ngữ văn 10 nói riêng và những bộ SGV, STK Ngữ văn khác, luận văn giúp
GV và HS chủ động đưa ra hướng giải quyết trong quá trình s
oạn giảng cũng như soạn bài, học bài
theo SGK.
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN CỦA SÁCH GIÁO KHOA
1.1. Quan niệm về sách giáo khoa
Đại từ điển Tiếng Việt định nghĩa “Sách giáo khoa là sách soạn theo chương trình để dạy và học
trong nhà trường” [114, tr.1354].
Định nghĩa trên được hiểu theo nghĩa hẹp và quen thuộc, SGK là sách viết cho HS theo những
nội dung chuyên môn đã được quy định trong chương trình và theo những quan điểm chỉ đạo thống
nhất về phương pháp dạy học. Theo định nghĩa này, một số nhà nghiên cứu cho rằng các loại sách phục
vụ c
ho HS mẫu giáo, sách dạy học vần chưa được coi là SGK.
Luật Giáo dục, chương 2 mục 2 điều 29 quy định: “Sách giáo khoa cụ thể hoá yêu cầu về nội
dung kiến thức và kỹ năng quy định trong chương trình giáo dục của các môn học ở những lớp của
giáo dục phổ thông, đáp ứng yêu cầu về phương pháp giảng dạy phổ thông. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và
Đào tạo ban hành c
hương trình phổ thông, duyệt sách giáo khoa để sử dụng chính thức, ổn định, thống
nhất trong giảng dạy, học tập ở các cơ sở giáo dục phổ thông, trên cơ sở thẩm định của Hội đồng quốc
gia thẩm định chương trình giáo dục phổ thông và sách giáo khoa” [9, tr.16].
Điều lệ trường Trung học, điều 23 ghi “Sách giáo khoa Trung học bao gồm sách bài học và sách
bài tập theo danh mục được Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định để sử dụng chính thức, ổn định, thống
nhất trong giảng dạy, học tập ở trường Trung học” [10, tr. 144]
.
Hiểu theo nghĩa rộng SGK có thể bao gồm cả sách viết cho HS và một số sách kèm theo như
SGV, sách bài tập (SBT). Đây là một đặc điểm của giáo dục hiện đại, quan tâm nhiều đến kỹ năng thực
hành. Trước đây, hệ thống S
GK không bao gồm SBT, phần bài tập được in luôn trong SGK dành cho
HS nay hầu như tất cả các bộ môn đều có SBT bên cạnh SGK.
Tập hợp các cuốn SGK, các STK và sách công cụ có liên quan đến việc dạy học của GV và HS
tạo thành một tổ hợp giáo khoa. Tổ hợp giáo khoa đó phải là một chỉnh thể gắn bó mật thiết với nhau,
trong đó SGK phải là tài liệu thể hiện cụ thể nhất nội dung, phương pháp giáo dục và các loại sách
trong tổ hợp nói trên phải phụ thuộc và
o SGK. Cho nên nói đến SGK là nói đến một tổ hợp giáo khoa
và lí luận về SGK cũng là lí luận một tổ hợp sách.
Cho đến nay SGK vẫn là tài liệu chủ yếu để dạy và học ở các lớp học phổ thông. Do đó, các yêu
cầu đổi mới giáo dục phổ thông về cơ bản đã được thể hiện trong nội dung và phương pháp biên soạn
SGK. Trong quá trình biên soạn chương trì
nh và SGK mới, chúng ta đã chú ý đến quan điểm đổi mới
phương pháp dạy học “lấy học sinh làm trung tâm” các nội dung, hình thức trình bày của SGK mới về
cơ bản đã tạo điều kiện thuận lợi cho HS tiếp tục nâng cao năng lực tự học và giúp GV đổi mới phương
pháp dạy học theo hướng tổ chức, hướng dẫn HS chủ động, sáng tạo trong quá trình tìm hiểu, tiếp nhận
tri thức.
1.2. Quan hệ giữa sách giáo khoa với sách giáo viên và sách tham khảo
Tuỳ theo người sử dụng, môn học và từng hoàn cảnh biên soạn mà một cuốn SGK phổ thông có
thể có nhiều mối quan hệ khác nhau. Một nguyên tắc khi xây dựng chương trình và SGK phổ thông là
làm sao đảm bảo được sự cân đối hài hòa giữa nhiều mối quan hệ: đặc trưng của m
ôn học với nhiệm
vụ chính trị và cuộc sống từng giai đoạn lịch sử, nội dung chương trình với đặc điểm tâm lý lứa tuổi
HS, tri thức môn học gắn liền với hệ thống kỹ năng cần hình thành; mối quan hệ giữa SGK môn học
này với SGK môn học khác trong chương trình; mối quan hệ giữa SGK bậc THPT với SGK bậc THCS
cũng như SGK Tiểu học trong một hệ thốn
g hoàn chỉnh; đặc biệt là mối quan hệ giữa SGK với SGV,
SGK với STK trong một bộ môn.
Có hai quan niệm về SGV: SGV đóng và SGV mở.
SGV đóng là tài liệu giúp GV sử dụng SGK về mặt sư phạm. Sách sẽ bao gồm những lời
khuyên cải tiến việc sử dụng, khai thác SGK. SGV cung cấp những chỉ dẫn về cách tiến hành bài học
gắn liền với SGK.
SGV mở như là một công cụ tham khảo nhằm
nuôi dưỡng sự suy nghĩ của GV. Sách bổ sung
những thông tin khoa học và sư phạm, nêu các đề nghị liên quan đến quá trình học tập nhưng không
trói buộc GV trong những chỉ dẫn và một trình tự gò bó.
Như vậy, SGV đóng được biên soạn dựa trên cơ sở SGK và không còn ý nghĩa nếu tách rời
SGK. SGV mở có thể sử dụng độc lập với SGK, dù vẫn dựa trên SGK.
Trong quá trình triển khai cải cách giáo dục, bên cạnh hệ thống SGK biên soạn theo chương
trình mới còn song hà
nh hệ thống SGV. Tác giả SGK cũng là tác giả SGV tương ứng, công thức này
đảm bảo tốt hơn chất lượng của SGV. SGV là một loại sách nghiệp vụ, trong đó có sự kết hợp giữa
khoa học giáo dục và khoa học cơ bản, nhằm phục vụ việc dạy học về mặt nội dung và phương pháp.
Một cuốn SGV có thể được biên s
oạn trước, trong khi hoặc sau khi biên soạn SGK cho HS.
Trước hết, một cuốn SGV có thể được coi như một cuốn hướng dẫn sư phạm, tức là một tài liệu
giúp đỡ việc sử dụng SGK sao cho phù hợp với khoa sư phạm. SGV có nhiệm vụ giúp GV hiểu được ý
đồ biên soạn SGK nói chung cũng như nội dung và phương pháp giảng dạy từng bài cụ thể trong SGK.
Tuy không có tính bắt buộc, nhưng SGV vẫn là tài liệu quan trọng trong quá trình soạn bài và dạy học
theo SGK.
Các định hướng kiến thức cơ bản, phương pháp cơ bản và cả kĩ thuật giảng dạy đều đư
ợc trình
bày sao cho SGV có thể như là một “khuôn mẫu” để GV hướng dẫn HS học tập. Nó sẽ gồm những lời
khuyên, những chú ý nhằm cải tiến việc dùng SGK và khai thác mọi khả năng của sách. Có thể coi đây
là nguồn văn bản thông tin chủ đạo, chủ yếu của việc soạn bài, giảng bài của GV. Tuy nhiên, nó không
đồng nhất với bài soạn, các định hướng của SGV không thể loại bỏ đặc trưng của lao động giảng dạy,
tính chất linh hoạt đa dạng của các bài soạn, bài giảng, diễn tiến giờ học, khả năng tiếp nhận của HS,…
SGV chỉ là một cơ sở để GV phát huy tiềm lực vốn có và đang phát triển của lao động sư phạm chứ
không thể là một tư liệu sử dụng nguyên mẫu.
SGV thường dành những trang đầu để trao đổi với GV những vấn đề phương pháp giúp cho HS
nắm đư
ợc tri thức ghi trong chương trình và thể hiện trong SGK. Nội dung chính của SGV là cung cấp
những thông tin về cách hiểu bài, cách khai thác, trả lời các câu hỏi và lưu ý những điểm HS cần lưu ý
sau mỗi bài học, gợi ý những tư liệu tham khảo thiết yếu,… Những nội dung này chưa được trình bày
trong SGK. Cùng với SGK, SGV góp phần thực hiện mục tiêu chung của chương trình.
STK là sách chuyên dùng để tra cứu, đọc thêm nhằm hiểu rõ hơn vấn đề cần phải dạy học.
Muốn hiểu đư
ợc mối quan hệ giữa SGK với STK không thể không nhắc lại chức năng của SGK.
SGK có nhiều chức năng. Ở đây chỉ đề cập đến những chức năng có quan hệ đến HS: chức năng truyền
đạt kiến thức, phát triển các khả năng và kỹ năng, củng cố và đánh giá những hiểu biết, giáo dục về
mặt xã hội và văn hóa. Tính chất đa chức năng ấy đảm bảo c
ho SGK đóng vai trò chủ yếu trong việc
thực hiện mục tiêu đào tạo của môn học.
Trong khi đó, STK chỉ có một chức năng duy nhất đó là chức năng tham khảo. Đối chiếu với
những chức năng của SGK, STK chỉ thiên về phát triển các khả năng và kỹ năng, hoặc chức năng củng
cố những hiểu biết. Với tính chất đơn chức năng ấy, S
TK có vai trò bổ trợ cho SGK trong việc thực
hiện mục tiêu đào tạo của môn học (trừ trường hợp những cuốn STK được biên soạn với mục đích
thuần tuý thương mại, phi giáo dục).
Thông tư Liên tịch số 35/1999/TTLT-BGD&DT ghi “Sách tham khảo bổ trợ sách giáo khoa
dùng cho hoc sinh các bậc học phổ thông là tài liệu học tập dựa theo chương trình sách giáo khoa do
Bộ Giá
o dục và Đào tạo quản lý đảm bảo chất lượng khoa học, nâng cao tính sư phạm nhằm thực hiện
chương trình theo danh mục bậc học đã được quy định” [9, tr. 821].
Theo quan niệm thông thường, SGK được coi là sách học chính thức, bắt buộc còn STK là sách
đọc thêm, không bắt buộc. Trong quan hệ với SGK, xét chung, STK vừa phụ thuộc SGK vừa có phần
độc lập với SGK, tuy cả hai đều cùng nhằm thực hiện mục tiêu môn học. Những cuốn S
TK như các
loại Từ điển, sách tra cứu, Văn tuyển v.v… hoàn toàn độc lập với SGK.
STK các bộ môn vừa phải đảm bảo tính chính xác, chặt chẽ của các đơn vị kiến thức vừa bổ
sung nhiều nội dung kiến thức mà SGK không chứa đựng hết. Kiến thức trong STK thường được tổng
kết theo vấn đề hay chuyên mục. STK cung cấp thêm những thông tin mới, những tư liệu cập nhập
giúp G
V và HS hiện đại hóa kiến thức trong SGK.
Trong xã hội học tập, bao giờ cũng có một nhu cầu lớn về STK. Có thể nói, STK liên quan đến
một phương châm quan trọng của giáo dục: biến quá trình học thành quá trình tự học. Nhiều STK các
môn khoa học xã hội gợi ý cho GV và HS những hướng tiếp cận tác phẩm, bài học, giai đoạn lịch sử
v.v…; những phân tích mới lạ nhằm làm sáng tỏ thêm, hoàn thiện thêm những kiến t
hức trong SGK.
Ví dụ: những bộ STK môn Tiếng Việt và Làm văn, kiến thức cung cấp trong các bộ sách này, nhìn
chung, đã bám sát các kiến thức chuẩn trong SGK, được trình bày rõ ràng, dễ hiểu, có tính sư phạm
cao. Các bộ sách này đều có những kiến thức mở rộng, đi sâu vào những vấn đề được trình bày trong
các bài học, tiết học. Với những gợi ý, những hướng giải bài tập, HS đủ điều kiện thu nhận kiến thức tự
m
ình hoàn thành bài học một cách căn bản, thậm chí có tính sáng tạo. Trong các sách “hướng dẫn Làm
văn”, các tác giả đã chú ý về kỹ năng làm bài của HS. Trong chừng mực nhất định, sách cũng tạo cho
các em những cảm thụ tinh tế khi tiếp xúc với từng loại bài tập Làm văn. Ở các sách “hướng dẫn giải
bài tập Tiếng Việt”, các tác giả đã hệ thống kiến thức tiếng Việt được học trong SGK các bậc học.
Những kiến t
hức đó được trình bày cụ thể, cô đọng, diễn giải rõ ràng, có tính sư phạm cao. GV có thể
tham khảo vận dụng vào các giờ dạy trên lớp để bài giảng phong phú hơn.
STK các môn khoa học tự nhiên căn cứ vào chương trình và SGK mà chia thành các chủ đề
nhỏ hoặc các chương giống như SGK sao cho HS có thể tham khảo song song với SGK. STK các môn
khoa học tự nhiên trình bày các phương pháp giải các bài tập cơ bản của môn học theo yêu cầu của
chương trì
nh; thông qua đó, HS nắm được kiến thức cơ bản của SGK. Mở rộng một số vấn đề trong
SGK, phân tích theo chiều sâu những vấn đề lí thuyết hay bài tập đã được SGK đề cập nhưng chưa có
điều kiện đi sâu, kể cả các dạng bài tập đòi hỏi sự tổng hợp nhiều đơn vị kiến thức với mục đích cung
cấp cho H
S phương pháp tư duy logic và vận dung kiến thức đã học để giải các bài tập. GV có thể
tham khảo sách để dạy các giờ bài tập trên lớp, tổng kết, hướng dẫn HS ôn tập sau mỗi chương, mỗi
học kì và cả năm học, bước đầu bồi dưỡng HS khá giỏi.
Ở phổ thông, vai trò người GV rất quan trọng. Chính GV là người dẫn dắt lớp học để HS nắm
được những yêu cầu chính của bài học. Nhưng một GV giỏi không chỉ làm tốt việc truyền thụ kiến
thức mà còn phải gợi mở cho H
S suy nghĩ những gì mà SGK chưa đề cập đến, những kiến thức chưa
được cập nhập hay những cách hiểu khác nhau, cách giải khác hoặc những vấn đề mới vượt quá yêu
cầu của bậc học. STK là nguồn tư liệu nuôi dưỡng niềm đam mê nghiên cứu, học tập ấy.
Tóm
lại, SGK, SGV và STK có mối quan hệ liên thông với nhau, hỗ trợ cho nhau. Mỗi loại sách
có những đặc trưng riêng đồng thời giữa chúng có những điểm chung, phối kết với nhau. Trong đó,
SGK đóng vai trò trung tâm, SGK không đơn giản là tài liệu thông báo các kiến thức có sẵn mà là tài
liệu giúp HS tự học, tự phát hiện giải quyết các vấn đề để chiếm lĩnh và vận dụng kiến thức mới một
cách linh hoạt. SGV và STK phụ thuộc, xoay quanh SGK để tạo nên một tổ hợp gi
áo khoa đảm bảo
mục tiêu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông. Trong quá trình giảng dạy, mỗi người GV lấy SGK
làm tài liệu giảng dạy chính thức nhưng không nên phụ thuộc hoàn toàn vào SGK, độc tôn SGK mà
cần nghiên cứu SGV, không ngừng học tập qua STK phối hợp một cách linh hoạt các tri thức giữa các
tài liệu tạo nên sự thống nhất tương đối để nâ
ng cao chất lượng giảng dạy. SGK chỉ thực sự có ý nghĩa
khi được xác định trong mối tương quan với việc học tập của HS, với việc dạy của GV, với SGV và
STK, với các công cụ dạy học khác.
1.3. Mô hình cấu trúc sách giáo khoa
1.3.1. Cấu trúc chung của sách giáo khoa
Theo tinh thần Nghị quyết 40/2000/QH10 và chỉ thị 14/2001/CT-TTg về đổi mới chương trình
giáo dục phổ thông, với tư cách là văn bản được “sử dụng chính thức, thống nhất, ổn định trong giảng
dạy, học tập ở các cơ sở giáo dục phổ thông”, tư tưởng xuyên suốt của mô hình SGK mới là SGK phải
vừa cung cấp thông tin vừa hướng dẫn H
S hình thành và phát triển phương pháp, kỹ năng học tập,
nghiên cứu và vận dụng kiến thức vào việc giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình học tập cũng
như trong thực tiễn đời sống; đồng thời SGK phải phù hợp với khả năng nhận thức, với đặc điểm tâm -
sinh lí lứa tuổi HS ở từng cấp, lớp học.
SGK của các môn học khác nhau hoặc đối với cùng m
ôn học cho những lớp học khác nhau có
thể có vài điểm khác nhau trong cấu trúc. Tuy nhiên, về mặt lí thuyết mô hình cấu trúc SGK thường
gồm 3 phần:
a) Phần đầu SGK
Phần đầu SGK mỗi môn học thường có những thành phần sau:
- Trang bìa chính, bìa lót ghi tên Bộ Giáo dục và Đào tạo, tên các tác giả, tên sách, tên lớp, tên
Nhà xuất bản và năm xuất bản.
- Trang mở đầu giới thiệu về quan điểm biên soạn bộ môn, mục đích, nội dung, hướng dẫn sử
dụng sách, giới thiệu phương phá
p học tập chủ yếu HS cần vận dụng, tóm tắt về chương trình môn học
của lớp…
Nhìn chung trang mở đầu SGK chưa được chú ý nhiều, phần hướng dẫn sử dụng sách, giới thiệu
phương pháp học tập hầu như bị bỏ qua, nếu có đề cập thì cũng rất sơ lược và thường chỉ đư
ợc ghi một
cách rất chung ở SGK đầu cấp học, trong khi đó môn học ở từng lớp học cũng có những đặc điểm
riêng. Bên cạnh việc giới thiệu quan điểm biên soạn SGK, nên chăng ở SGK mỗi lớp học chúng ta
quan tâm hơn đến việc hướng dẫn HS sử dụng sách, hướng dẫn phương pháp học tập bộ môn phù hợp
với quan điểm biên soạn và nội dung sách.
- Tuỳ t
heo môn học, phần đầu của sách có thêm chú thích về những kí hiệu thống nhất dùng
trong SGK.
- Bài mở đầu cho mỗi môn học mới bắt đầu ở cấp học (giới thiệu đối tượng nghiên cứu của môn
học; vai trò, ý nghĩa của môn học đối với thực tiễn, phương pháp học bộ môn…).
b) Phần giữa SGK
Phần giữa SGK là phần chính của sách, bao gồm các phần, các chương, các bài học. Đó l
à
những đơn vị kiến thức của môn học trình bày dưới dạng lời văn, hình ảnh (ảnh chụp, tranh vẻ, sơ đồ,
lược đồ, bản đồ…) và những chỉ dẫn về cách tiến hành các hoạt động học tập để lĩnh hội các đơn vị
kiến thức.
c) Phần cuối SGK
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét