Trang 5 / 61
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀØ ĐỒNG
TIỀN CHUNG VÀ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
I.1. Bản chất, vai trò của tiền tệ
I.1.1. Bản chất:
Tiền tệ là một hàng hóa đặc biệt, đóng vai trò vật ngang giá chung để đo
lường và biểu hiện giá trò của tất cả các hàng hóa khác; đồng thời nó thể hiện
lao động xã hội và biểu hiện quan hệ giữa những người sản xuất.
Bản chất này xuất phát từ việc tiền tệ ra đời là kết quả của quá trình phát
triển lâu dài của các hình thái giá trò:
Ở hình thái giản đơn hay ngẫu nhiên của giá trò, giá trò của một vật
được biểu hiện bằng giá trò sử dụng của một vật khác đóng vai trò là
vật ngang giá.
Ở hình thái giá trò đầy đủ hay mở rộng, giá trò của một vật được biểu
hiện ở giá trò sử dụng của nhiều hàng hóa khác có tác dụng làm vật
ngang giá.
Ở hình thái chung của giá trò, giá trò của tất cả hàng hóa được biểu
hiện bằng giá trò của một hàng hóa đóng vai trò là vật ngang giá
chung. Vật ngang giá chung này được chọn tùy theo tập quán đòa
phương mang ý nghóa tượng trưng như lông thú, da thú, vòng đá, vỏ
sò,…
Ở hình thái tiền tệ, khi lực lượng sản xuất phát triển, việc tồn tại nhiều
vật ngang giá chung đã gây khó khăn cho thò trường trao đổi hàng hóa.
Điều này dẫn đến sự ra đời của vật ngang giá chung bằng kim loại
thay thế dần cho các vật ngang giá chung khác, mà đáng kể nhất đó là
bạc, sau đó là vàng (kim tệ).
Trang 6 / 61
Như vậy, tiền tệ là một sản phẩm tự phát và tất yếu. Nó gắn liền với sự
tồn tại và phát triển của nền sản xuất hàng hóa. Không những thế, nó còn chứa
đựng và biểu hiện nhiều mối quan hệ xã hội giữa người với người.
I.1.2. Chức năng:
Tiền tệ có 5 chức năng như sau:
I.1.2.1. Chức năng thước đo giá trò:
Đây là chức năng cơ bản nhất của tiền tệ. Chức năng này được thể hiện
thông qua việc tiền dùng để đo lường và biểu hiện giá trò cho các hàng hóa
khác, và chuyển giá trò hàng hóa thành giá cả hàng hóa.
Để thực hiện chức năng này, tiền tệ đòi hỏi phải có giá trò đầy đủ, có tiêu
chuẩn giá cả, và được thực hiện trong tư duy, ý niệm.
Việc chuyển giá trò hàng hóa thành giá cả của tiền tệ đã tạo ra mối tương
quan nghòch giữa giá trò tiền tệ và giá cả hàng hóa, đồng thời cho thấy rằng tiền
tệ là một công cụ đặc biệt quan trọng để thực hiện quy luật giá trò, quy luật phổ
thông của nền sản xuất hàng hóa.
I.1.2.2. Chức năng phương tiện lưu thông:
Chức năng này được thể hiện ở việc tiền được dùng làm phương tiện
trung gian cho quá trình trao đổi hàng hóa (H-T-H), và phương tiện để thực hiện
giá trò của hàng hóa.
Điều này thể hiện ở việc hàng hóa sẽ không được phép trao đổi trực tiếp
(H-H), mà trước tiên, giá trò của hàng hóa được biểu hiện thành giá trò tiền tệ
thông qua việc bán hàng hóa (H-T); rồi sau đó, hàng hóa được mua lại với giá trò
tương đương với giá trò tiền tệ (T-H).
Như vậy, tiền tệ không phải là mục đích của trao đổi, mà chỉ đóng vai trò
trung gian. Tuy nhiên, để tạo một sự lưu thông hàng hóa được mạch lạc, cần
thiết phải có một khối lượng tiền thật sự. Và tiền này cũng không nhất thiết phải
Trang 7 / 61
là tiền có đầy đủ giá trò như vàng, mà nó có thể được thay thế bằng các loại tiền
ký hiệu.
I.1.2.3. Chức năng phương tiện cất trữ:
Chức năng này được thể hiện ở việc tiền được đưa ra khỏi quá trình lưu
thông nhằm mục đích cất trữ, và sử dụng sau này.
Xuất phát từ khả năng có thể trực tiếp chuyển hóa thành bất kỳ một loại
hàng hóa nào, tiền cất trữ có thể nhảy vào lưu thông bất cứ lúc nào. Chính điều
này đòi hỏi tiền được cất trữ phải có đầy đủ giá trò, và tạm thời không phục vụ
cho quá trình lưu thông hàng hóa. Tuy nhiên, trên thực tế, người ta cũng có thể
sử dụng tiền ký hiệu cho việc cất trữ, do các loại tiền này được đảm bảo bằng
vàng của quốc gia sản xuất tiền ký hiệu đó.
I.1.2.4. Chức năng phương tiện thanh toán:
Chức năng này được thể hiện ở việc tiền được dùng làm phương tiện để
thanh toán các khoản nợ phát sinh trong trao đổi hàng hóa, dòch vụ và các lónh
vực khác.
Khi thực hiện chức năng này, tiền vận động tương đối độc lập so với hàng
hóa, dòch vụ thậm chí giữa chúng cũng có một sự tách rời nhau cả về không gian
và thời gian. Do đó, tiền ở đây có thể là tiền vàng, hoặc tiền ký hiệu, hay tiền
ghi sổ. Mặc dù vậy, tiền vẫn không nằm ngoài quá trình lưu thông, mà nó còn
có tác dụng tích cực thúc đẩy quá trình tiêu thụ hàng hóa; từ đó, giúp cho sản
xuất và lưu thông hàng hóa phát triển.
I.1.2.5. Chức năng tiền tệ thế giới:
Chức năng này thể hiện ở việc tiền thực hiện các chức năng của nó trong
phạm vi thế giới.
Điều này đòi hỏi tiền phải được sự chấp thuận của các quốc gia trên thế
giới. Do đó, chỉ có tiền đầy đủ giá trò mới thực hiện được chức năng này.
Trang 8 / 61
Tuy nhiên, hiện nay, tiền ký hiệu của một số nước cũng được áp dụng
hoặc chấp nhận rộng rãi ở nhiều nước. Do đó, cũng có quan điểm cho rằng các
loại tiền này cũng có chức năng tiền tệ thế giới.
Khi nói đến chức năng của tiền tệ, cũng có quan điểm khác cho rằng tiền
tệ có 3 chức năng là thước đo giá trò, phương tiện trao đổi và phương tiện tích
lũy. Ở mức độ tổng quát thì điều này không mâu thuẫn với 5 chức năng ở trên.
Nhưng ở một mặt nào đó, thì khi nói đến tiền tệ mà không nói đến 2 chức năng
cơ bản là thước đo giá trò và chức năng phương tiện lưu thông, thì không thể
phản ánh được nguồn gốc và bản chất của tiền tệ.
Tóm lại, 5 chức năng trên của tiền tệ không đứng đơn lẻ mà chúng có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Trước tiên, tiền tệ thực hiện chức năng chuyển
giá trò hàng hóa thành giá cả. Khi đó, hàng hóa chính thức bước vào quá trình
lưu thông. Khi giá cả được thực hiện thì hàng hóa đã chuyển thành tiền. Số tiền
này có thể được cất trữ cho việc sử dụng trong tương lai, hoặc dùng để thanh
toán cho việc mua hàng hóa khác phục vụ cho nhu cầu sản xuất hoặc nhu cầu
tiêu dùng. Khi quá trình trao đổi hàng hóa vượt ra khỏi biên giới của một quốc
gia, thì cũng là lúc tiền tệ thực hiện chức năng của mình trong phạm vi thế giới.
I.1.3. Vai trò:
Tiền tệ là phương tiện không thể thiếu để mở rộng và phát triển kinh tế
hàng hóa. Thông qua chức năng thước đo giá trò, phương tiện lưu thông và
phương tiện thanh toán, việc trao đổi hàng hóa diễn ra thuận lợi và thống nhất
hơn. Nó góp phần giúp cho người sản xuất kinh doanh hạch toán được rõ ràng
chi phí và hiệu quả sản xuất mà họ thực hiện; đồng thời tiến hành tích lũy tiền
tệ để mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh.
Trang 9 / 61
Tiền tệ là phương tiện để thực hiện và mở rộng các quan hệ quốc tế. Xuất
phát từ nhu cầu phát triển của nền kinh tế, thò trường quốc nội đã dần mở cửa
hướng ra thò trường thế giới lớn hơn thông qua con đường ngoại thương. Nhờ
ngoại thương, mà các chức năng thanh toán và chức năng tiền tệ thế giới của
tiền tệ đã phát huy triệt để vai trò của mình. Từ đó, mối quan hệ giữa các quốc
gia không chỉ đơn thuần về mặt kinh tế, mà còn lan sang các lónh vực khác như
chính trò, văn hóa, tôn giáo,…
Tiền tệ là một công cụ để phục vụ cho mục đích của chủ sở hữu. Khi mà
các quan hệ kinh tế – xã hội đều bò tiền tệ hóa thì cũng là lúc tiền tệ trở thành
công cụ để xử lý và giải quyết mọi mối quan hệ phát sinh cả trong phạm vi quốc
gia và quốc tế. Chính vì vậy, người chủ sở hữu tiền tệ có thể sử dụng nó để thỏa
mãn mọi nhu cầu của mình. Chừng nào còn tồn tại nền kinh tế hàng hóa, thì
chừng đó đồng tiền sẽ còn phát huy mạnh mẽ sức mạnh vạn năng của nó.
I.2. Xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa thò trường tài chính:
Trong những năm cuối thế kỷ 20, trước áp lực của sự phát triển kinh tế,
các nước đã dần mở của để đón nhận những luồng vốn quốc tế thâm nhập vào.
Có thể nói quá trình toàn cầu hóa đã bắt đầu từ đó, và diễn ra với tốc độ ngày
càng nhanh.
Từ thập kỷ 90 trở lại đây, chúng ta đã chứng kiến sự ra đời của các sản
phẩm tài chính phi tập trung, mà gần đây nhất là các công cụ phái sinh và các
kỹ thuật chứng khoán hóa dưới hình thức các công cụ nợ được thế chấp tổng
hợp. Cùng với sự dỡ bỏ các hàng rào quốc tế đối với việc di chuyển vốn, các
nhà đầu tư đã có dòp mở rộng phạm vi hoạt động của mình hơn, đa dạng hóa rủi
ro tín dụng, và tối đa hóa lợi nhuận đầu tư.
Mặc dù các công cụ phái sinh tài chính có sự phát triển nhanh chóng,
nhưng cách thức mua bán và thanh toán các công cụ này vẫn chưa được hoàn
Trang 10 / 61
hảo. Chúng được thực hiện chủ yếu qua điện thoại, và xác nhận lại qua fax.
Điều này đòi hỏi một hệ thống điện tử chuyên xử lý các nghiệp vụ mua bán,
giao dòch giữa những người tham gia thò trường được chuẩn hóa, và tiết kiệm
thời gian hơn.
Theo ước tính của ngân hàng thanh toán quốc tế BIS thì giá trò danh nghóa
toàn cầu của các công cụ phái sinh OTC đạt mức 128 nghìn tỷ USD vào giữa
năm 2002, tăng 25% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, theo một nghiên cứu
của Ủy ban chứng khoán và hối đoái Mỹ, thì mặc dù tất cả 50 ngân hàng lớn
nhất nước Mỹ đã sử dụng công cụ phái sinh tính đến 9/2002, nhưng chỉ có 5% sử
dụng tất cả các hình thức của công cụ phái sinh, và chưa đến phân nửa sử dụng
công cụ phái sinh tài chính phi tập trung. Rõ ràng, thò trường tài chính toàn cầu
vẫn còn nhiều khoảng trống để phát triển hơn nữa.
Sự phát triển và mở rộng mang tính chất toàn cầu của thò trường tài chính
quốc tế không chỉ bò hạn chế bởi các rào cản trực tiếp cũng như gián tiếp, mà
còn bò ảnh hưởng bởi yếu tố thò trường hối đoái và rủi ro của quốc gia đó. Tuy
nhiên, những hạn chế này ngày càng bò thu hẹp dần bởi tác động tích cực của
quá trình toàn cầu hóa tài chính mang lại. Lợi ích lớn nhất mà toàn cầu hóa tài
chính mang lại đó là tăng hiệu quả của nguồn vốn bằng cách chuyển chúng đến
nơi mà hứa hẹn nhiều lợi nhuận nhất trên thế giới. Từ đó giúp tăng trưởng kinh
tế toàn cầu, góp phần vào sự thònh vượng chung của thế giới.
Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Nam Á vào năm 1997 bắt đầu ở
Thái Lan đã làm cho tiến trình toàn cầu hoá của thò trường tài chính chậm lại,
đặc biệt là ở khu vực Đông Nam Á. Điều này xuất phát từ sự quản lý nguồn vốn
quốc tế không hiệu quả của các nước. Cụ thể là tình trạng bùng nổ cho vay, sử
dụng những nguồn vốn ngắn hạn đầu tư cho mục đích dài hạn, rồi sự hình thành
quả “khinh khí cầu bất động sản”. Thêm vào đó, với sự quản lý kém linh hoạt
Trang 11 / 61
trong cơ chế tỷ giá hối đoái, đồng tiền của các quốc gia này đã lần lượt sụt giá.
Điều này cho thấy sự hội nhập vào nền tài chính thế giới không chỉ giúp gia
tăng lợi nhuận của những chính sách tốt, mà còn góp phần thúc đẩy chi phí của
các chính sách tồi phát sinh nhiều hơn.
I.3. Sự hình thành đồng EURO đối trọng với đồng USD:
I.3.1. Sự mở rộng của Liên minh Châu Âu (EU):
Ngày 01/05/2004, EU chính thức đánh dấu sự mở rộng của mình bằng
việc kết nạp thêm 10 thành viên mới, nâng tổng số thành viên EU lên đến con
số 25. Để có được sự rộng lớn như ngày nay, EU đã trãi qua các mốc chính sau:
Vào năm 1951, Cộng đồng than thép Châu Âu (ECSC) ra đời với
Pháp, Đức, Ý, Hà Lan, Bỉ, Luxembourg là thành viên.
Vào năm 1958, Hiệp đònh Roma được ký kết, đánh dấu sự ra đời của
Cộng đồng nguyên tử Châu Âu (Euratom), và Cộng đồng kinh tế Châu
Âu (EEC).
Vào năm 1967, ECSC, Euratom, EEC sát nhập thành Cộng đồng Châu
Âu (EC).
Vào năm 1973, Anh, Ireland, Đan Mạch gia nhập EC.
Vào năm 1982, Hy Lạp nối bước vào EC.
Vào năm 1986, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha cũng tham gia vào EC.
Đây cũng là giai đoạn EC xác đònh mục tiêu từng bước xây dựng Liên
minh kinh tế tiền tệ Châu Âu (EMU).
Vào năm 1992, Hiệp ước Maastricht được ký kết, tạo cơ sở chính trò và
pháp lý cho Liên minh Châu Âu (EU) ra đời vào 01/01/1993.
Vào năm 1995, o, Phần Lan, Thụy Điển gia nhập EU.
Trang 12 / 61
Vào năm 2004, EU kết nạp thêm 10 thành viên mới gồm Cộng hòa
Czech, Síp, Estonia, Hungary, Latvia, Litva, Malta, Ba Lan, Slovakia,
Slovenia.
I.3.2. Sự hình thành của đồng tiền chung Châu Âu (EURO):
Vào năm 1992, Hiệp ước Maastricht ra đời không chỉ đặt ra chính sách
đối ngoại và an ninh chung, mà còn đưa ra thời gian biểu để thiết lập Liên minh
kinh tế và tiền tệ, mà cụ thể là sự ra đời của đồng EURO. Để có được sự tồn tại
và phát triển như hiện nay, đồng EURO đã phải trải qua một quá trình nuôi nấng
và ấp ủ đầy kiên trì
Năm 1989, Báo cáo Delors đề xuất một bước chuyển tiếp sang Liên
minh tiền tệ Châu Âu (EMU) gồm 3 bước.
Năm 1990, bước thứ nhất của EMU bắt đầu vào 7/1990.
Năm 1991, các giám đốc của các hãng đúc tiền đã gặp gỡ không chính
thức để thảo luận về đồng tiền tương lai.
Năm 1992, Hiệp ước Maastricht được ký kết.
Năm 1993, Hiệp ước Maastricht có hiệu lực kể từ ngày 1/11.
Năm 1994, bước 2 của EMU bắt đầu. Tổ chức tiền tệ Châu Âu (EMI),
tiền thân của Ngân hàng trung ương Châu Âu (ECB) hiện nay ra đời.
Nó cho phép thành lập một nhóm chuyên nghiên cứu về việc in ấn và
phát hành tiền giấy Châu Âu.
Năm 1995, Hội đồng Châu Âu nhóm họp ở Madrid (15-16/12) để hình
dung ra viễn cảnh tương lai của một đồng tiền chung.
Năm 1996, tại hội nghò không chính thức Ecofin tại Verona, một quyết
đònh về đồng tiền chung EURO đã được thông qua. Cụ thể Hội đồng
đã tổ chức một cuộc thi ở cấp châu lục để chọn ra mẫu thiết kế cho
Trang 13 / 61
đồng EURO. EMI cũng tổ chức một cuộc thi thiết kế cho tờ giấy bạc
EURO. Những mẫu đoạt giải đã được thông báo vào tháng 12/1996.
Năm 1997, mẫu đoạt giải thiết kế cho đồng EURO đã được chọn lựa
bởi các Bộ trưởng tài chính, và được xác nhận bởi những người đứng
đầu của Bang và Chính phủ tại Hội nghò ở Amsterdam.
Năm 1998, Quyết đònh của Hội đồng vào ngày 3/5/1998 là quyết đònh
của 11 nước chính thức chấp nhận đồng tiền chung. Đến 1/6/1998,
ECB chính thức ra đời và đặt trụ sở tại Frankfurt am Main của Đức.
Vào ngày 31/12/1998 Hội đồng đưa ra quy đònh về tỷ giá chuyển đổi
cho các nước chấp nhận đồng EURO. Trong khi đó, những nước thành
viên sẽ bắt đầu sản xuất đồng tiền EURO.
Năm 1999, vào ngày 1/1 EURO trở thành đồng tiền chung của 11 nước
thành viên, mặc dù tiền giấy và tiền đồng vẫn chưa được lưu hành.
Đến tháng 7/1999, tiền giấy EURO được đưa vào sản xuất.
Năm 2000, Quyết đònh của Hội đồng vào ngày 19/6 cho phép Hy Lạp
gia nhập đồng tiền chung từ 1/1/2001.
Năm 2001, Hy Lạp chính thức áp dụng đồng tiền chung.
Năm 2002, vào ngày 1/1 tiền giấy và đồng EURO được đưa vào lưu
thông ở 12 nước thành viên. Sau 28/02 tiền giấy và tiền đồng quốc nội
đã chính thức không còn là đồng tiền hợp pháp được chấp nhận chi trả.
Sự ra đời của đồng tiền chung EURO đã giúp cho các thành viên trong
liên minh:
Giảm chi phí giao dòch.
Tránh rủi ro về ngoại hối, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư
giữa các nước thành viên.
Giá hàng hóa ngoại thương sẽ rất rõ ràng và minh bạch.
Trang 14 / 61
Cạnh tranh giữa các nước Châu Âu sẽ gay gắt hơn; đồng thời sự sát
nhập và thâu tóm các công ty là điều không tránh khỏi.
Tăng nguồn đầu tư trực tiếp từ các nước trong Liên minh.
Tăng quy mô thò trường vốn Châu Âu.
Đồng tiền chung EURO sẽ là một công cụ chuyển đổi, công cụ dự trữ và
công cụ đầu tư mới. Đây chính là điểm mà Mỹ không mong muốn sự ra đời cũng
như sự phát triển của đồng EURO. Kể từ đây, mỗi khi người ta nhắc đến đồng
USD thì người ta sẽ phải quan tâm đến đồng EURO. Cùng với việc giảm lãi suất
của mình, đồng USD đã mất dần sự độc tôn trên thò trường tài chính thế giới.
Tuy nhiên, trước sự không chắc chắn của đồng EURO, vẫn còn quá sớm để nói
là đồng USD đã giảm đi phạm vi hoạt động cũng như độ tin cậy đáng có của nó,
một đồng tiền đang được sử dụng chủ yếu trong thanh toán quốc tế hiện nay.
I.4. Hiệp ước Maastricht và những ràng buộc đối với các thành
viên khối Liên minh tiền tệ Châu u:
I.4.1. Năm tiêu chuẩn hội nhập và hình phạt nếu vi phạm:
Trước áp lực của các đồng tiền quốc gia đang lưu hành, cũng như sự đòi
hỏi, yêu cầu của các công dân các nước thành viên, Hiệp ước Maastricht đã đưa
ra 5 tiêu chuẩn để gia nhập đồng tiền chung EURO:
Lãi suất ngắn hạn của các quốc gia không được vượt quá 1,5% bình
quân mức lạm phát của 3 nước có chỉ số lạm phát thấp nhất.
Lãi suất dài hạn cũng không được vượt quá 2% bình quân mức lãi suất
của 3 nước có lãi suất thấp nhất.
Thâm hụt ngân sách không được vượt quá 3% tổng sản phẩm quốc nội
(GDP).
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét