Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

Cẩm nang tập huấn giáo dục đồng đẳng trong nhà máy

4
GIỚI THIỆU


Cẩm nang này hướng dẫn giảng viên thực hiện chương trình tập huấn dành cho giáo
dục viên đồng đẳng trong lĩnh vực giáo dục sức khoẻ sinh sản.
Chương trình tập huấn nhằm mục đích cung cấp cho giáo dục viên đồng đẳng những
kiến thức, quan điểm và kỹ năng cần thiết để thành công trong việc:
- Thông tin và giáo dục các đồng đẳng viên về sức khỏe sinh sản và những vấn đề
liên quan đến sức khoẻ sinh sản.
- Thúc đẩy và hỗ trợ đồng đẳng viên trong việc tuyên truyền phòng tránh những
vấn đề về sức khỏe sinh sản, như các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/
AIDS và có thai ngoài ý muốn.
- Làm việc như một bộ phận của đội giáo dục đồng đẳng trong việc lên kế hoạch,
thực hiện, và theo dõi các hoạt động giáo dục đồng đẳng.
Cẩm nang là một chương trình giảng dạy hoàn chỉnh, cung cấp cho giáo dục viên đồng
đẳng kiến thức, quan điểm và kỹ năng trong những lĩnh vực sau đây:

 Những thay đổi về thể chất, xã hội và giới tính liên quan đến vị thành niên.

 Những chủ đề về sức khỏe sinh sản như - các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục;
HIV/AIDS, và có thai ngoài ý muốn.

 Tự chăm sóc sức khoẻ sinh sản.

 Ngăn ngừa các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, HIV/AIDS, và có thai ngoài ý
muốn.

 Những nguy cơ liên quan đến sức khỏe sinh sản như áp lực đồng đẳng và hành vi
sử dụng ma tuý.

 Những kỹ năng sống để bảo vệ chống lại các vấn đề liên quan đến sức khoẻ sinh
sản như lòng tự trọng, kỹ năng đưa ra quyết định, kỹ năng giao tiếp và kỹ năng từ
chối.

 Sự tự tin và những kỹ năng để làm việc như giáo dục viên đồng đẳng như kỹ năng
giao tiếp, kỹ năng giáo dục, kỹ năng giải quyết vấn đề.

 Những quan điểm, thái độ cần thiết để làm việc như một giáo dục viên đồng đẳng
sự nhận thức về quan điểm, niềm tin, áp dụng một cách tiếp cận không phê phán

 Hiểu vai trò và trách nhiệm của giáo dục viên đồng đẳng.
5
THẾ NÀO LÀ GIÁO DỤC ĐỒNG ĐẲNG?
Giáo dục đồng đẳng là một hoạt động giáo dục, trong đó các thành viên của một cộng
đồng hoặc nhóm người giáo dục và cung cấp thông tin cho những đồng đẳng viên (
những người cùng lứa tuổi, cùng địa vị xã hội , cùng môi trường …) nhằm giúp đỡ đưa
ra quyết định cũng như tiếp nhận hành vi mới, góp phần ngăn ngừa các vần đề cụ thể
về sức khoẻ hay xã hội, như những vấn đề về sức khoẻ sinh sản, HIV/AIDS, sử dụng
ma tuý.
Giáo dục đồng đẳng:


 Liên quan đến việc chia sẻ kinh nghiệm, kiến thức và kỹ năng giữa những người có
cùng tình trạng xã hội, nhằm hỗ trợ và giúp đỡ lẫn nhau.

 Là việc sử dụng tình nguyện viên đã qua đào tạo để giáo dục, xúc tiến và duy trì kiến
thức, quan điểm cũng như hành vi mới qua các hoạt động bằng cách giao tiếp với
đồng đẳng viên thông qua các hoạt động trưc tiếp hoặc các hoạt động nhóm nhỏ.
Tại sao lại sử dụng giáo dục viên đồng đẳng?

 Mọi người thường cảm thấy tin tưởng và hoà hợp nhanh hơn với đồng đẳng viên,
những người đồng trang lứa với họ.

 Đồng đẳng viên là nguồn thông tin, là kiểu mẫu cho các hành vi mới. Họ chia sẻ
những giá trị, quan điểm và quy phạm như nhau.

 Các chương trình đồng đẳng có thể đến được với những người khó tiếp cận, những
người có nguy cơ, bị cô lập hoặc những người có lối sống nguy cơ có thể đưa họ tới
nguy hiểm vì những hành vi không an toàn của mình.

 Giữa thanh thiếu niên với nhau, đồng đẳng viên thường là nguồn thông tin đầu tiên
về các vấn đề sức khoẻ, đặc biệt là về tình dục.
Các chương trình giáo dục đồng đẳng cho thấy sự hiệu quả trong các lĩnh vực:
- Sức khoẻ sinh sản vị thành viên.
- HIV/AIDS.
- Các chương trình giáo dục về ma tuý.
- Vươn đến những nhóm thiệt thòi: thí dụ như trẻ em đường phố, tù nhân, người sử
dụng ma tuý, gái mại dâm.
6
NHU CẦU GIÁO DỤC GIỚI TÍNH Ở THANH THIẾU NIÊN
Thanh thiếu niên là những người có nguy cơ đặc biệt, do lứa tuổi, do sự thiếu kiến thức,
kỹ năng và sự tiếp cận với các dịch vụ phù hợp. Hiện nay, chúng ta đang có số lượng
thanh thiếu niên lớn nhất trong lịch sử, với gần một nửa dân số thế giới dưới tuổi 25. Tỉ
lệ các vấn đề về sức khỏe sinh sản vị thành niên đang gia tăng trên toàn thế giới. Một
số vấn đề về sức khỏe sinh sản thường gặp nhiều hơn ở tuổi vị thành niên so với các
nhóm tuổi khác:

 Mỗi năm, có 15 triệu nữ giới tuổi từ 15 đến 19 sinh con - Hơn 10% các trường hợp
sinh con trên toàn thế giới là người ở tuổi vị thành niên

 Khoảng từ 2 triệu đến 4.4 triệu người ở tuổi vị thành niên ở các nước đang phát triển
nạo phá thai. Đa số là không an toàn và bất hợp pháp.

 Mỗi năm, cứ trong 20 vị thành niên, có hơn 1 người mắc các chứng bệnh lây nhiễm
qua đường tình dục có thể chữa trị được.

 Hơn 70% các bệnh mới về lây nhiễm qua đường tình dục xuất hiện ở lứa tuổi từ 15
- 24.

 Hơn nửa các trường hợp nhiễm vi rút HIV xuất hiện ở những người tuổi dưới 25

 Lạm dụng tình dục ở thanh thiếu niên gia tăng trên toàn thế giới.
Vấn đề về sức khoẻ sinh sản và nhu cầu của thanh thiếu niên ở
Việt Nam

Số người từ 15 đến 24 tuổi chiếm gần 20% tổng dân số ( theo Điều tra dân số năm
1999). Trong đó 33.5% dân số dưới tuổi 25.

 Thanh thiếu niên và trẻ em là những người bị ảnh hưởng nhiều nhất của sự nghèo
đói. Họ thường ít đi học, làm công việc nặng nhọc, và có nguy cơ cao đối với các
vấn đề về trẻ mại dâm, buôn bán trẻ em, ăn xin và lạm dụng ma tuý (theo Liên Hiệp
Quốc 1999).

 Một số nguồn chỉ ra rằng bạo hành trong gia đình đối với phụ nữ là phổ biến (Theo
mô tả sơ lược về Việt Nam của Hiệp hội kế hoạch hoá gia đình thế giới (IPPF) cho
biết rằng 70% của 22,000 trường hợp ly dị trong năm 1991 là do bạo hành).

 Tuổi trung bình trong lần kết hôn thứ nhất ở Việt Nam ổn định là 21 tuổi (Theo điều
tra về Nhân khẩu và Y tế Việt Nam năm 1997).
7
Vấn đề sinh con sớm

 Trên toàn quốc, khoảng 15% trường hợp sinh con là của phụ nữ dưới 19 tuổi (Theo
Bộ Y Tế 1998 trong Liên Hiệp Quốc 2001).

 Tỉ lệ sinh đẻ ở thanh thiếu niên ở nông thôn cao hơn bốn lần so với ở thành thị, và
cao khoảng 9.6% ở miền núi phía Bắc (Theo điều tra về Nhân khẩu và Y tế Việt
Nam năm 1997).
Tiếp cận với các dịch vụ về sức khoẻ sinh sản

 Thanh thiếu niên tiếp cận rất hạn chế thông tin và dịch vụ về sức khoẻ sinh sản
bao gồm cả kế hoạch hoá gia đình. Các dịch vụ trong hệ thống của Chính phủ hoặc
không dành cho thanh thiếu niên chưa lập gia đình, hoặc là không phù hợp với họ.
Vị thành niên và thanh niên chỉ có thể mua bao cao su và thuốc tránh thai tại các
hiệu thuốc, cửa hàng, là những nơi không cung cấp thông tin cũng như tư vấn (theo
Quỹ Dân số thế giới của Liên Hiệp Quốc 2001).

 Trên danh nghĩa, việc sử dụng các biện pháp tránh thai cao, chiếm khoảng 75%. Tuy
nhiên, việc khuyến khích sử dụng các biện pháp tránh thai được định hướng chủ yếu
ở phụ nữ đã lập gia đình. Khoảng 20% những người sử dụng các phương pháp kế
hoạch hoá gia đình vẫn dựa vào các phương pháp truyền thống, ít hiệu quả.

 Trong những phụ nữ đã từng kết hôn, tuổi từ 15 đến 19, gần 100% đã từng nghe về
một phương pháp tránh thai hiện đại (Theo điều tra về Nhân khẩu và Y tế Việt Nam
năm 1997).

 Những phụ nữ ít tuổi hơn (từ 15 - 24 tuổi), đã từng kết hôn thường ít biết đến các
thông điệp về kế hoạch hoá gia đình trên ti vi và đài so với phụ nữ nhiều tuổi hơn
(Theo điều tra về Nhân khẩu và Y tế Việt Nam năm 1997).

 Trên 21% những phụ nữ đã từng hoặc hiện đang kết hôn, tuổi từ 15 – 19 từng sử
dụng một biện pháp tránh thai, gần 5% trong số này là các biện pháp tránh thai
truyền thống. Đặt vòng là biện pháp được sử dụng nhiều nhất ở mọi lứa tuổi (Theo
điều tra về Nhân khẩu và Y tế Việt Nam năm 1997).
Tỉ lệ hút điều hoà kinh nguyệt và nạo phá thai cao

 Tỉ lệ hút điều hoà kinh nguyệt, nạo phá thai ở Việt Nam được ước tính là một trong
ba tỉ lệ cao nhất thế giới (Theo Bộ Y tế 2002).

 Bất chấp việc các biện pháp tránh thai được sử dụng rộng rãi, vào năm 1998, hơn
8
nửa số các trường hợp có thai kết thúc bằng nạo phá thai (Theo Bộ Y tế 1998 trong
Liên Hợp Quốc 1999).

 Ước tính phụ nữ chưa lập gia đình (đa số ở tuổi vị thành niên) chiếm 30% tổng số
các trường hợp nạo phá thai.

 Một vài nghiên cứu chỉ ra rằng phần lớn vị thành niên thiếu hiểu biết hoặc hiểu sai
lệch về các vấn đề liên quan đến tình dục, giới tính, dậy thì, và sinh sản (Theo Bộ Y
tế 2002).
Các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, HIV và AIDS

 Theo các đánh giá mới đây nhất của UNAIDS (cuối 2001, dựa vào ước tính năm
1997, 1999 và xu hướng gần đây trong giám sát HIV/AIDS), tỉ lệ HIV trong dân
số ở tuổi vị thành niên và thành niên (15 - 24) được ước tính là 0.3%. Ước tính có
130,000 người trưởng thành sống chung với HIV vào cuối năm 2001, trong đó có
35,000 phụ nữ. (UNAIDS 2002) .

 Tính đến tháng 8-1999, khoảng một nửa số trường hợp mới nhiễm HIV xuất hiện ở
người dưới 30 tuổi. Gần 30% các trường hợp được báo liên quan đến những người
dưới 20 tuổi (Theo Bộ Y tế trong Liên Hiệp Quốc 1999).

 Hiện tại, 63% tổng số các trường hợp được báo nhiễm HIV là những người sử dụng
ma tuý, tuy nhiên 81% trường hợp nhiễm bệnh là lây nhiễm qua đường tình dục.
Lây nhiễm qua tình dục khác giới ở người trẻ tuổi đang gia tăng (Theo UNAIDS
2002).

 Số lượng người sử dụng ma túy được báo cáo tăng 28% giữa năm 1998 và 1999.
Gần 3/4 những trường hợp đã báo cáo là nghiện ma tuý trong năm 1999 dưới 30
tuổi, trong đó có 4,000 sinh viên, học sinh. Với sự lây lan của HIV ước tình là 24%
(năm 2000) trong các đối tượng nghiện chích ma tuý, đây là điều đáng quan tâm cho
thanh thiếu niên.

 Theo Điều tra về Nhân khẩu và Y tế Việt Nam năm 1997, 1/5 phụ nữ đã từng lập gia
đình tuổi từ 15 đến 19 chưa từng nghe về AIDS. 14% không biết cách ngăn ngừa
HIV, không có tài liệu về kiến thức, thái độ hay hành vi của thanh thiếu niên chưa
lập gia đình.

 Kỳ thị người sống chung với HIV/AIDS phổ biến ở Việt Nam.
9
NHỮNG NGUYÊN TẮC CHÍNH TRONG CẨM NANG NÀY
1. Cách tiếp cận tổng thể đối với Sức khoẻ sinh sản:
Tuy trọng tâm của cuốn Cẩm nang này là sức khoẻ sinh sản, nhưng việc sử dụng cách
tiếp cận tổng thể đối với giáo dục là quan trọng. Chúng ta cần phải hiểu mọi người có
những nhu cầu và mối quan tâm gì về sức khoẻ sinh sản trong một bối cảnh rộng lớn
hơn về xã hội, văn hoá, và môi trường. Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa sức khoẻ sinh
sản là:
“Sức khoẻ sinh sản là một trạng thái khoẻ mạnh, hài hoà về thể chất, tinh
thần, xã hội trong tất cả mọi khía cạnh có liên quan đến cơ quan sinh sản,
các chức năng và quá trình sinh sản chứ không phải chỉ là không có bệnh
tật hay tổn thương cơ quan sinh sản.”
Giáo dục thanh thiếu niên về sức khoẻ sinh sản chủ yếu là giáo dục họ như một con
người (chính thể độc lập). Thông qua việc hỗ trợ họ trưởng thành như một con người
hoàn chỉnh, chúng ta có thể thúc đẩy sự phát triển tâm lý, đạo đức và tinh thần của họ,
cung cấp cho họ những kỹ năng để đối phó với những thách thức về sức khoẻ sinh sản
của bản thân.
2. Hiểu về Vị thành niên
•
Vị thành niên là giai đoạn chuyển tiếp giữa tuổi thơ ấu và tuổi trưởng thành. Nó bắt
đầu với tuổi dậy thì. Đây là một giai đoạn của những thay đổi lớn – về thể chất, tâm
lý, xã hội và hành vi, dẫn tới sự phát triển một nhân cách trưởng thành, riêng biệt.

 Người ở tuổi vị thành niên trải qua những thay đổi nhanh chóng trong 5 lĩnh vực
phát triển của họ:
- Phát triển về thể chất.
- Phát triển về trí tuệ.
- Phát triển về xã hội.
- Phát triển về cảm xúc.
- Phát triển về giới tính.

 Trong suốt giai đoạn vị thành niên, một người đối mặt với một số việc mang tính
chất phát triển hướng tới trưởng thành và độc lập. Những việc đó là:
- Chấp nhận những thay đổi sinh học và phát triển của tuổi dậy thì.
10
- Hình thành một tính cách ổn định và tích cực.
- Phát triển những vai trò và nhiệm vụ trong gia đình.
- Hướng đến độc lập khỏi bố mẹ và những người trưởng thành khác.
- Tìm một nghề nghiệp và đạt được độc lập về kinh tế.
- Sự phát triển của hệ thống đạo đức, giá trị.
3. Sự phát triển giới tính

 Vị thành niên là giai đoạn mà nhận dạng về giới phát triển. Con trai và con gái
bắt đầu trải nghiệm những cảm xúc tình dục, trở nên tò mò về tình dục một cách
tự nhiên.

 Khi cơ thể phát triển tới giai đoạn trưởng thành về tình dục và thanh thiếu niên
có khả năng sinh sản, ham muốn tình dục có thể rất mạnh mẽ.

 Vị thành niên cũng là giai đoạn thử nghiệm và mạo hiểm, thanh thiếu niên thường
thử áp dụng nhân cách đang phát triển và sự độc lập của mình.

 Thanh thiếu niên cần thông tin và kỹ năng để bảo vệ mình khỏi những nguy cơ
này.
4. Vai trò của Văn hoá và Giá trị

 Tình dục và hành vi sức khoẻ sinh sản được định hình một cách mạnh mẽ do những
thói quen văn hóa, niềm tin truyền thống, nền tảng gia đình, giá trị tôn giáo.

 Khi thực hiện giáo dục Sức khoẻ sinh sản, điều quan trọng là hỗ trợ mọi người xác
định và thảo luận về những ảnh hưởng của quan điểm văn hoá, của niềm tin đối với
hành vi tình dục cũng như đối với những quan điểm về mối quan hệ của họ.

 Giá trị văn hoá và niềm tin có thể là rào cản cho mọi người khi áp dụng những hành
vi tình dục và sức khoẻ sinh sản an toàn (thí dụ như nếu việc sử dụng bao cao su
không được khuyến khích ở một cộng đồng).

 Cùng lúc đó, văn hoá của một người có thể là một nguồn hỗ trợ, nhận dạng, và củng
cố những giá trị giúp bảo vệ họ chống lại những vấn đề về sức khoẻ sinh sản.
5. Hành vi nguy cơ và Sức khoẻ sinh sản

 Hành vi nguy cơ có thể làm tăng khả năng xảy ra những vấn đề về tâm lý, xã hội
và sức khoẻ. Nhiều vấn đề về sức khoẻ sinh sản bắt nguồn từ hành vi mạo hiểm và
sự thể hiện đối với những yếu tố nguy cơ trong xã hội cũng như môi trường (thí dụ:
11
nghiện hút, áp lực đồng đẳng, gia đình tan vỡ, và lạm dụng ).

 Sự hiện diện của một hành vi nguy cơ gia tăng khả năng xảy ra của những hành vi
nguy cơ khác, thí dụ – hút thuốc lá và sử dụng ma tuý; sử dụng ma tuý và những
hành vi tình dục không an toàn.

 Giáo dục về Kỹ năng sống trang bị cho mọi người kiến thức, kỹ năng để đối phó với
những yếu tố nguy cơ về môi trường, cũng như làm giảm áp lực thực hiện hành vi
nguy cơ.
6. Nhận thức về Giới

 Giới tính liên quan đến những vai trò khác nhau của nam và nữ, do xã hội và văn
hoá riêng biệt nơi sinh sống quyết định.

 Mong đợi của xã hội về những hành vi của vị thành niên có thể khác nhau tuỳ thuộc
vào giới tính – đặc biệt khi liên quan đến những vấn đề như sức khoẻ sinh sản và
hành vi nguy cơ.

 Do giới tính của mình, nên nam giới và nữ giới nhận những thông điệp khác nhau về
hành vi sức khoẻ sinh sản – như trách nhiệm đối với việc tránh thai và có thai ngoài
ý muốn.

 Việc đề cập tới những vấn đề về giới khi thực hiện giáo dục Sức khoẻ sinh sản – đặc
biệt là nhấn mạnh rằng sức khoẻ sinh sản là trách nhiệm chung của cả nam và nữ ,
là một điều quan trọng.

 Khuyến khích trách nhiệm và tham gia của nam giới vào sức khỏe sinh sản cũng là
một điều quan trọng. Thông thường, thanh thiếu niên không để ý đến những vấn đề
sức khoẻ sinh sản cho đến khi họ có vấn đề về sức khoẻ sinh sản, thí dụ như một
bệnh lây nhiễm qua đường tình dục.
7. Hiểu biết về sự đa dạng của tình dục

 Quan trọng là nhận ra rằng một số thanh thiếu niên đặc biệt có thể không chắc chắn
về giới tính của mình, họ nhìn nhận bản thân như những người đồng tính nam, ái
nam ái nữ, hay đồng tính nữ. Nghiên cứu chỉ ra rằng đồng tính nam và đồng tính nữ
trẻ tuổi thường:
- Cảm thấy cô lập và thiếu hỗ trợ.
- Trải qua quấy rối và bạo hành.
- Thiếu tiếp cận những thông tin đúng đắn về sức khoẻ tình dục.
- Có tỉ lệ trầm cảm và tự tử cao.

 Do vậy, đồng tính nam và đồng tính nữ trẻ tuổi có thể có nguy cơ mắc những vấn
12
đề về sức khoẻ sinh sản cũng như tâm lý cao hơn. Khi cung cấp những thông tin và
giáo dục về sức khoẻ sinh sản, điều quan trọng là xem xét đến nhu cầu của những
người này.
8. Cách tiếp cận về kỹ năng sống

 Kỹ năng sống là những kỹ năng cá nhân, xã hội cho phép một người đối phó với các
vấn đề hàng ngày trong cuộc sống, phản ứng tích cực đối với các thách thức về sức
khỏe sinh sản của họ.
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cho rằng để bảo vệ sức khoẻ sinh sản của mình, con
người cần những kỹ năng để:

 Đưa ra quyết định lành mạnh về các mối quan hệ, về hoạt động hoạt tình dục, đồng
thời đứng lên bảo vệ những ý kiến đó của mình.

 Chống lại những áp lực về tình dục không mong muốn hoặc sử dụng các chất kích
thích.

 Nhìn nhận ra tình huống có thể dẫn đến nguy hiểm hoặc bạo lực, và có thể lên kế
hoạch trước.

 Biết cách thương lượng để có tình dục an toàn và các dạng khác của tình dục an toàn
khi đã sẵn sàng cho những mối quan hệ tình dục.

 Biết làm cách nào và có thể yêu cầu giúp đỡ và hỗ trợ ở đâu.
Cẩm nang này tập trung vào việc giảng dạy những kỹ năng sống sau:

 Tự nhận thức.

 Đưa ra quyết định.

 Giải quyết vấn đề.

 Kỹ năng giao tiếp và quan hệ.

 Kỹ năng từ chối.
13
CÁCH SỬ DỤNG CẨM NANG
1. Cấu trúc cẩm nang
Cẩm nang này gồm một chương trình tập huấn 5 ngày, trong đó có các hoạt động tập
huấn về chủ đề Sức khoẻ sinh sản, kỹ năng sống, kỹ năng giáo dục đồng đẳng và những
hoạt động được liệt kê ở trên. Mỗi buổi tập huấn có 4 phần học, mỗi phần kéo dài từ 1.5
đến 2 tiếng. Trong khi chương trình được thiết kế để thực hiện trong 5 ngày liên tiếp,
chương trình cũng có thể được tổ chức lại thành một chương trình 4 buổi, kèm theo
một buổi tổng kết. Cũng có thể sắp xếp lại thứ tự các phần học và hoạt động phù hợp
với nhu cầu của mỗi nhóm được tập huấn.
Cẩm nang này còn có thể được sử dụng cho các khoá học tiếp theo và tập huấn củng
cố cho giáo dục viên đồng đẳng. Giáo dục viên đồng đẳng cũng có thể sử dụng một số
hoạt động của mình.
Mỗi phần học có cùng một cấu trúc, bao gồm:

 Mục tiêu học tập – Những gì học viên sẽ học được sau khi kết thúc mỗi phần học
về phương diện nâng cao sự hiểu biết, cải thiện kỹ năng, và thay đổi quan điểm.

 Tiếp sức cho nhóm – Mỗi phần học bắt đầu với một trò chơi hoặc hoạt động khởi
động nhằm giúp tiếp sức cho nhóm và mang đến cho học viên một cách học vui vẻ,
giúp tìm hiểu lẫn nhau. Phần tiếp sức nên được sử dụng tại những thời điểm khác
nhau trong suốt phần học để duy trì động lực của nhóm.

 Hoạt động – Mô tả một chủ đề cụ thể, một hoạt động học tập, và những bước liên
quan đến việc thực hiện hoạt động đó. Bạn có thể đưa những hoạt động học tập mà
bạn đã quen thuộc. Mỗi một hoạt động bao gồm các vấn đề cần thảo luận và các câu
hỏi.

 Thời gian cần thiết – chỉ ra bao nhiêu thời gian cần thiết để thực hiện những hoạt
động trong các chủ đề nhỏ.
Lưu ý: Thời gian phân bổ cho mỗi chủ đề chỉ mang ý nghĩa hướng dẫn. Bạn có
thể sử dụng thời gian nhiều hơn hoặc ít hơn cho một hoạt động cụ thể, theo yêu
cầu của nhóm bạn mà làm việc cùng.

 Tài liệu giảng dạy – Là những tài liệu trong đó tóm tắt những thông tin chính được
đề cập đến ở mỗi chủ đề. Nó được sử dụng như một tài liệu nguồn cho tập huấn viên
nhằm hỗ trợ trong việc hướng dẫn phần học, điều khiển các cuộc thảo luận và trả lời
các câu hỏi.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét