P
Q
p
P
1
P
0
Q
1
Q
0
S
1
DD
\
suất của người lao động. Điều này thể hiện qua việc kết quả cải tiến quy trình sản
xuất chuyển dịch sang phải của đường cung phản ánh khả năng nâng cao năng lực
sản xuất.
Kết quả cải tiến quy trình sản xuất
1.2. NĂNG LỰC SẢN XUẤT VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC SẢN XUẤT
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
1.2.1. Năng lực sản xuất trong các doanh nghiệp
Năng lực sản xuất của một doanh nghiệp là khả năng hay trình độ doanh
nghiệp đó trong việc phối , kết hợp các yếu tố của quá trình sản xuất và lực
lượng lao động công cụ lao động và đối tượng lao động để tạo ra những sản
phẩm phù hợp với nhu cầu thị trường từ nguồn lực có sẵn của doanh nghiệp.
Chúng ta cần phải chú ý năng lực sản xuất của một doanh nghiệp không
đồng nhất với quy mô của doanh nghiệp đó mà năng lực sản xuất chính là biểu
hiện bằng những chỉ tiêu hiệu quả quá trình sản xuất kinh doanh như năng suất
lao động , suất hao phí vốn , thời hạn hoàn vốn đầu tư … Một doanh nghiệp có
thể có quy mô lớn chưa chắc đã có năng lực sản xuất, nó chỉ có năng lực sản
xuất khi hiệu quả sản xuất của nó cao. Năng lực sản xuất của một doanh nghiệp
phụ thuộc vào nhiều yếu tố như máy móc thiết bị, nguyên vật liệu đầu vào …ở
đây chúng ta chỉ xem xét tới yếu tố máy móc thiết bị với tư cách là yếu tố trực
tiếp trong quá trình sản xuất.
1.2.2. Nâng cao năng lực sản xuất trong các doanh nghiệp
Trang 5
\
Năng lực sản xuất của các doanh nghiệp được đánh giá bởi nhiều chỉ tiêu
khác nhau như năng suất lao động, hiệu quả sử dụng vốn cố định, vốn lưu
động Có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến năng lực sản xuất như trình độ
người lao động, trình dộ quản lý và đặc biệt là khả năng áp dụng những thành
tựu khoa học công nghệ vào sản xuất . Nâng cao năng lực sản xuất trong các
doanh nghiệp sẽ giúp nâng cao năng lực công nghệ từ đó giúp doanh nghiệp tăng
khả năng áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ mới vào trong sản xuất ,
từ đó tăng khả năng đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp .
1.3. VAI TRÒ CỦA ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TỚI NĂNG LỰC SẢN
XUẤT
Như đã giới thiệu ở trên, máy móc thiết bị là một trong những yếu tố tham
gia trực tiếp của quá trình sản xuất chính vì thế việc hiện đại hoá máy móc thiết
bị hay đổi mới công nghệ là hết sức quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp. Một
doanh nghiệp sản xuất công nghiệp muốn tồn tại và phát triển được cần phải xây
dựng cho mình một kế hoạch đổi mới công nghệ. Tiến bộ khoa học công nghệ,
đổi mới công nghệ sẽ cho phép nâng cao chất lượng sản phẩm tạo ra nhiều sản
phẩm mới, đa dạng hoá sản phẩm, tăng sản lượng, tăng năng suất lao động, sử
dụng hợp lý tiết kiệm nguyên vật liệu …Nhờ vậy sẽ tăng khả năng cạnh tranh ,
mở rộng thị trường, thúc đẩy tăng trưởng nhanh và nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh. Tiến bộ khoa học công nghệ , đổi mới công nghệ thực sự là hướng
đi đúng đắn của một doanh nghiệp công nghiệp giàu tiềm năng.
Trang 6
\
CHƯƠNG 2 :
THỰC TRẠNG Ở VIỆT NAM
2.1. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VỀ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP NHỮNG NĂM
QUA
2.1.1. Thực trạng về đổi mới công nghệ và một số kết quả đạt được
Bước vào đổi mới công nghệ, các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam được tổ
chức sắp xếp lại và giảm đáng kể. Về công nghệ hết sức lạc hậu không đáp ứng
được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Quá trình đổi mới với sự cố gắng, lỗ lực tập
trung đầu tư ứng dụng các thành tựu của khoa học, công nghệ hiện đại vào sản xuất
mà trực tiếp là việc đổi mới máy móc thiết bị kỹ thuật công nghệ phù hợp, đã tạo
được bước tiến mới nâng cao trình độ công nghệ của các doanh nghiệp công nghiệp,
tạo ra năng suất lao động cao chất lượng sản phẩm được cải tiến, là cơ sở để mở
rộng thị trường hàng công nghiệp Việt Nam cả trong nước và ngoài nước.
Nếu nhìn nhận về xu thế đổi mới công nghệ dưới góc độ hướng đi của các doanh
nghiệp thì hai xu thế chủ yếu đang được chú trọng hiện nay ở Việt nam là ứng dụng
công nghệ tự động hoá vào sản xuất và tăng cường kỹ thuật an toàn.
Tự động hoá đã thực sự xâm nhập vào nước ta theo hai hướng rõ rệt. Một là các
doanh nghiệp ở cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế – xã hội có nhu cầu nâng cấp
trình độ hiện có , cải tiến trang thiết bị theo hướng hiện đại hơn.
Hai là các doanh nghiệp trong nước, các khu công nghiệp, các liên doanh đã có
và đang xây dựng mới các nhà máy thiết bị với các trang thiết bị nhập khẩu tiên tiến
và có trình độ công nghệ cao. Tự động hoá đã đem lại nhiều hiệu quả to lớn trong
các hoạt động kinh tế xã hội của đất nước. Do tầm quan trọng của công nghệ tự
động hoá. Ngày 28/3/1997 Chính phủ đã ban hành nghị quyết 27 CP về ứng dụng
và phát triển công nghệ tự động hoá phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước. Nghị quyết 27 CP của Chính phủ đã đề ra mục tiêu ngắn hạn và mục tiêu dài
hạn đến năm 2000.
Trang 7
\
+ Về mục tiêu ngắn hạn : Các doanh nghiệp công nghiệp phải lựa chọn tiếp thu
giám định, làm chủ và khai thác có hiệu quả công nghệ tự động hoá tiên tiến của
nước ngoài khi chuyển giao công nghệ vào Việt Nam.
+ Về mục tiêu dài hạn, nghị quyết khẳng định đến năm 2010 trình độ tự động
hoá ở Việt Nam phải tiếp cận được với các nưóc trong khu vực và thế giới, tiến tới
làm chủ và phát huy cơ bản trong lĩnh vực này. Tiếp đó là quyết định 54 / QĐ -
TTG ngày 3/3/1998 của Thủ tướng chính phủ, việc triển khai ứng dụng tự động hoá
đã thực sự đi vào hoạt động và bước đầu mang lại hiệu quả.
Trong kế hoạch năm 2000 –2001 Nhà nước cho phép triển khai 11 dự án của các
doanh nghiệp với tổng mức đầu tư là 220,893 tỉ đồng, trong đó ngân sách nhà nước
hỗ trợ cho ứng dụng công nghệ tự động hoá qua chương trình kỹ thuật, kinh tế về tự
động hoá là 18,602 tỉ đồng ( tương ứng khoảng 8% ). Hiện nay các dự án đang cơ
bản hoàn thành giai đoạn I .
Để đảm bảo cho việc ứng dụng và phát triển công nghệ tự động hoá ở Việt Nam
đạt được những mục tiêu như trong nghị quyết 27 / CP đã đề ra cần dựa trên những
cơ sở sau :
- Thứ nhất, chiến lược phát triển kinh doanh kinh tế – xã hội của đất nước
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Đến năm 2002 nước
ta phải cơ bản hoàn thành công nghệ với trình độ sản xuất tiên tiến.
- Thứ hai, hiện trạng về trình độ công nghệ tự động hoá và mức độ ứng dụng
trong nền kinh tế của Việt Nam.
- Thứ ba, xu thế phát triển của công nghệ tự động hoá trên thế giới và khu vực
với các dự báo và tầm nhìn phát triển toàn diện.
- Thứ tư, ban hành những cơ chế chính sách ổn định , tập trung nguồn kinh phí
đầu tư cho lĩnh vực công nghệ tự động hoá và một số lĩnh vực công nghệ
trọng điểm.
Thực hiện đường lối chiến lược của Đảng và nhà nước, bộ công nghiệp đã chú
trọng tới vấn đề đảm bảo an toàn, coi đây cũng là một trong những mục tiêu quan
trọng trong việc đầu tư để phát triển và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Về an toàn vệ sinh lao động phân, công công nghệ có một số ngành công nghiệp
trọng điềm nặng nhọc, độc hại, phức tạp, nguy hiểm như khai thác mỏ, xây dựng,
Trang 8
\
thép, hoá chất …. đã được bộ công nghiệp tập trung chú ý đầu tư đổi mới công nghệ
theo hướng tăng cường kỹ thuật an toàn, ngăn cản khả năng xảy ra tai nạn cho người
lao động.
Trong lĩnh vực :
S
T
T Tên đơn vị
Mua sắm
trang bị bảo
hộ lao động ,
chi phí y tế
bảo vệ sức
khoẻ cho
người lao
động .
Mua sắm
trang bị dụng
cụ , kỹ thuật
an toàn phục
vụ sản xuất và
cải tạo môi
trường .
Kinh phí đầu
tư cho công tác
phòng chống
cháy , nổ .
Tổng số
2000 5 năm 2000 5 năm 2000 5 năm 2000 5 năm
1 Tổng cty điện
lực
40000 20000
0
50000 25000
0
5000 2500 9500
0
47500
0
2 Tcty XDCN 6000 30000 2000 6000 32000
3 Tcty than 20170
9
10914
0
31084
9
4 Tcty hoá giấy 7933,
18
85767
5
1759,1
7
10550
5 Tcty hoá chất 27435
6 Tcty thép 4216,
3
21080 67700 350 1750 1610
7
90530
7 Tct máy
&TBCN
920 5066 10000 70 360 2740 15426
8 Tct CNL và mỏ 440,3 2128,
25
2327 10,54 1,142 761 5597
9 Tct máy ĐL &
máy VN
880 7300 10000 3600 120000 6980 29300
10 Tct CP
thiênlương
805
∑
99729
Trang 9
\
Cục kiểm tra giám sát kỹ thuật an toàn công nghiệp.
Nếu ta nhìn nhận việc đổi mới công nghệ dưới góc độ quy mô đổi mới thì quá
trình này được diễn ra với quy mô rộng lớn trên tất cả các ngành, các lĩnh vực sản
xuất công nghiệp.
2.1.2. Thực trạng và ảnh hưởng của đổi mới công nghệ tới nâng cao năng
lực sản xuất trong một số ngành
Ngành cơ khí được coi là lạc hậu trước đây, nhờ quá trình đổi mới công nghệ
năng lực sản xuất đã tăng lên có thể đáp ứng được 60% nhu cầu máy nông nghiệp
trong nước, 25% máy loại nhẹ phục vụ nông nghiệp, 30% máy xây dựng và khai
thác mỏ, 60% thiết bị điện, 20% phương tiện vận tải. Một đơn cử là công ty cơ khí
Hà nội mặc dù là doanh nghiệp từng có thời vang bóng và được mệnh danh là con
chim đầu đàn của ngành cơ khí Việt Nam, ngay từ năm 97 đã mạnh dạn nhanh
chóng bắt tay vào triển khai dự án thử nghiệm công nghiệp hoá các máy gọt hiện có
của công ty, dự án mang mã số KHCN – 05 – DA1 do tiến sĩ Trần Việt Hùng –
giám đốc công ty làm chủ nhiệm. Với đề tài này, bằng kinh nghiệm và năng lực hiện
có cùng với sự giúp đỡ của các chuyên gia nướ ngoài và trong nước, cán bộ công
nhân viên công ty đã nghiên cứu thành công và đưa vào ứng dụng các kĩ thuật điều
khiển số lập trình bằng máy CNC, kĩ thuật điều khiển logic, khả năng lập trình PLC
kĩ thuật đo lường và vi tính hoá, kĩ thuật điều khiển truyền động điện số hoá. Dự án
này đã hược hội đồng nghiệm thu cấp nhà nước đánh giá xuất sắc đạt được giải Ba
giải thưởng sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam – Vi FOTEC 2000 và cũng
chính nhờ dự án này mà đến nay, công ty đã hiện đại hoá được 30 thiết bị ở nhiều
mức độ khác nhau, trong đó có 6 lò nhiệt luyện được lắp đặt hệ thống PLC. Việc
điều khiển tự động hoá quá trình nhiệt đã nâng cao chất lượng nhiệt luyện các sản
phẩm cơ khí, giảm hàng sai hỏng do nhiệt luyện từ 4% xuống còn 1% . Việc thay
thế các bộ phận điều khiển vô cấp bán dẫn đã làm giảm mức tổn thất điện năng từ
20% - 25% xuống dưới 6%. Đặc biệt có 2 thiết bị : máy doa 2B460 với kích thước
bàn quay 1200mm được CNC có khả năng gia công các bề mặt khuôn mẫu lớn các
cánh tua bin thuỷ lực … và máy tiện SUT66 CNC có khả năng gia công các trục
pro.
Trang 10
\
Trong ngành sản xuất giày dép, phần lớn tiến bộ công nghệ dựa vào việc sử dụng
thành quả khoa học của bốn ngành chủ yếu sau :
- Thứ nhất, là sự tiến bộ về chế tạo máy. Máy thay thế bàn tay, sức lực của con
người để thực hiện các thao tác tinh xảo, sản xuất ra được nhanh những đôi giày sát
với mẫu thiết kế thời trang làm cho năng suất lao động tăng lên đột biến. Các nhà
chế tạo máy sản xuất giày đã và sẽ còn chế tạo ra các máy thực hiện được những
công đoạn khó khăn tỉ mỉ, khéo léo, tưởng chừng chỉ có bàn tay con người mới làm
được. Hiện tại và trong tương lai việc sản xuất giày được cơ giới hoá ngày càng cao
và ngày càng chuyên sâu, được máy tính hoá. Tuy nhiên có sự trợ giúp của máy tính
đã đưa năng suất lên rất cao chỉ chủ yếu ở hai công đoạn cắt , chặt vật liệu và vò sáp
giầy. Công đoạn vò sáp giầy bằng rôbốt đã làm cho năng suất đạt đến gần 200 đôi /
người / ngày, tăng gấp 5 – 6 lần gò ráp theo dây truyền bằng tải dài, cổ điển, cần
đông nhân công.
- Thứ hai là áp dụng những thành tựu đã đạt được trong lĩnh vực toán học, vật lí,
hoá học ….vào các công nghệ pha cắt nguyên vật liệu nhằm giảm được từ 3 – 4 %
vật tư tiêu hao, đặc biệt là giảm được nhiều chi phí thiết kế, chế tạo khuôn mẫu chi
tiết giày, các loại giày … Đặc biệt là sử dụng rộng rãi áp lực tia nước, tia la de, lập
trình mẫu trong pha cắt vật liệu, áp dụng các thành tựu mới trong công nghệ ăn mòn
hoá học, chế tạo cơ khí, các cấu trúc của CAD / CAM …
- Thứ ba, áp dụng các thành tựu sản xuất vật liệu mới. Chính nhờ các thành tựu
này mà giầy dép, đồ dùng bằng da đã trở nên phong phú hấp dẫn gây ấn tượng thích
thú cho người dùng. Các vật liệu mới về mũ giầy và đế giầy còn lưu ý đến cả hiệu
quả cao trong sử dụng, an toàn và tiện lợi trong mọi hoạt động, tạo cảm giác thoải
mái cho người dùng, góp phần cho các vận động thể thao , có thể đạt được những
thành tích “ cao hơn, nhanh hơn, mạnh hơn, xa hơn “.
- Thứ tư , công ty đang hướng tới hoàn thiện phương pháp thiết kế giầy với
CAD3D vì nó gần gũi nhất với các phương pháp của nhà tạo mẫu truyền thống và
có các lợi thế như : chỉ sử dụng một yếu tố hình học chung và duy nhất cho các
thành phần chủ yếu của giày, đảm bảo được tính đồng dạng của các bộ phận khác
nhau trên những đôi giày kích cỡ hoặc đối xứng trên cùng một đôi giày, một chiếc
giày, đảm bảo độ chính xác cao khi đúc khuôn, dựa trên mẫu toán học của vật thiết
Trang 11
\
kế được thể hiện trên chương trình CAD3D mà nhà thiết kế có thể tự mình vẽ thành
khuôn mẫu, phương pháp 3D cho phép giảm được nhiều thời gian, công sức lập
công nghệ triển khai sản xuất mẫu giầy thật.
Ngành dệt may đầu tư thêm 121.222 cọc sợ tăng sản lượng sợi lên 10000 –
12000 tấn / năm. Năng lực dệt được đầu tư 1087 máy khổ rộng , hiện đại của Nhật
và các nước Châu âu, sản lượng có thể đạt thêm 50 triệu m/ năm.
Thành công nhất trong quá trình đổi mới công nghệ phải kể đến những ngành,
những doanh nghiệp phát triển công nghệ cao như : điện tử tin học, viễn thông, dầu
khí, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học… Trong đó đáng kể nhất là ngành
Bưu chính viễn thông nhờ đi thẳng vào công nghệ hiện đại nệ doanh số tăng lên 0,4
tỉ đồng năm 2000.
Tóm lại, những kết quả đạt được về đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp
công nghiệp nước ta là đáng khích lệ. Theo phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm thì : “
nhìn chung công nghệ được chuyển vào trong nước thờigian qua có trình độ cao hơn
công nghệ ta hiện có hoặc trong nước chưa có “. Việc đổi mới công nghệ không
những làm tăng năng lực sản xuất, mở rộng mặt hàng, nâng cao chất lượng sản
phẩm tăng hả năng cạnh tranh của hàng hoá công nghiệp trên thị trường trong và
ngoài nước mà còn góp phần tạo ra đội ngũ cán bộ kỹ thuật cán bộ quản lý và đội
ngũ công nhân phù hợp với yếu cầu của công nghệ mới. Thông qua việc ký kết mua
hợp đồng công nghệ, cá doanh nghiệp Việt Nam làm quen với thị trường công nghệ
quốc tế.
2.2. NHỮNG VẤN ĐỀ CÒN TỒN TẠI VÀ NGUYÊN NHÂN CHỦ YẾU
TRONG HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ
2.2.1. Tồn tại về đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp công nghiệp Việt
nam
Một là, tốc độ đổi mới công nghệ còn chậm so với yêu cầu phát triển của doanh
nghiệp, của ngành và yêu cầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh
tế quốc dân.
Theo đánh giá chung hệ số đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp sản xuất
còn thấp mới chỉ đạt dưới 10% . Cơ cấu trình độ công nghệ còn đơn giản chậm đổi
Trang 12
\
mới trong nhiều ngành. Ví dụ như ngành cơ khí, hiện tại chỉ đạt 6 –7 % hệ số đổi
mới do đó sản xuất mới chỉ đáp ứng 10% nhu cầu của đất nước.
Ngành dệt may có nhiều cố gắng đầu tư đổi mới công nghệ, nhưng tỉ lệ thiết bị
hiện đại trung bình mới chỉ đạt 43,5 %. Ngành mía đường phát triển mạnh nhưng
thiết bị chủ yếu nhập từ Trung quốc là loại trung bình tiên tiến, chỉ có một số ít thiết
bị đạt trình độ tiên tiến.
Các doanh nghiệp công nghiệp ở Hà nội và TP. Hồ Chí Minh có yêu cầu tốc độ
đổi mới công nghệ cao hơn các khu vực khác cũng chỉ đạt 6 –7% so với yêu cầu 13
– 15 %. Đánh giá chung, trình độ công nghệ trong các doanh nghiệp công nghiệp
nước ta còn ở mức thấp, đổi mới chậm trong nhiều ngành . Đến nay công nghệ tiên
tiến hiện đại mới chỉ đạt 20,4 – 22,6 %. Công nghệ trung bình trên 50 % như ngành
nhựa và cao su 54%, chế biến thực phẩm 65,5%.
Hai là, trình độ quản lý và năng lực chuyên môn thấp thiếu tinh thần, trách
nhiệm của một số ít cán bộ quản lý xuất nhập khẩu và chuyển giao công nghệ, gây
nên tình trạng nhiều thiết bị cũ, lạc hậu được nhập vào nước ta với giá thành cao,
không phát huy được hiệu quả, gây tổn thất lớn về kinh tế, ảnh hưởng xấu đến môi
trường và xã hội. Do khả năng hạn chế nên các hợp đồng chuyển giao thường do
một bên soạn thảo và trách nhiệm không rõ ràng. Khi có những trục trặc thường bên
giao không chịu trách nhiệm thua thiệt, các doanh nghiệp nước ta hứng chịu. Đã có
không ít trường hợp công nghệ lạc hậu, thiết bị cũ, hàng tân trang được nhập vào
nước ta ( một cuộc khảo sát 700 thiết bị , 3 dây truyền tại 42 nhà máy cho thấy :
76% số máy mới nhập thuộc những năm 1950 – 1960 . 70% số máy đã hết khấu hao
, 50 % là do tân trang lại ). Về giá cả, nhiều dự án đầu tư được phát hiện bị nâng cao
giá, giá bán cao hơn giá trị thực tế, có những dự án bị phía nước ngoài nâng nên gấp
2 – 2.5 lần. ( khảo sát 30 dự án FDI phía Việt Nam bị thua thiệt 50 triệu USD do
phía nước ngoài nâng giá thiết bị nên từ 15 – 20 % ).
Nhiều hợp đồng không được trình duyệt theo đúng quy trình nhằm trốn tránh
thuế và các quy định của pháp luật. Theo báo cáo của bộ khoa học – công nghệ –
môi trường chỉ có khoảng 1/10 dự án được trình duyệt hợp đồng đúng quy định.
Hậu quả của những yếu kém trên dẫn đến hiệu quả sử dụng máy móc thiết bị kém ,
nhiều doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, vốn tồn đọng không có khả năng chi trả, đời
Trang 13
\
sống cán bộ công nhân viên khó khăn. Một số doanh nghiệp công nghiệp đi vào hoạt
động được thì mức độ ô nhiễm môi trường và độc hại cao ( tình trạng ô nhiễm tại 14
doanh nghiệp liên doanh có nhập dây truyền công nghệ : ngàng vật liệu xây dựng
nồng độ bụi ô nhiễm vượt qua tiêu chuẩn cho phép 1,21 lần, ngành hoá chất nồng độ
hơi khí độc cao hơn tiêu chuẩn cho phép 4,8 – 28,5 lần, điều kiện đảm bảo an toàn
lao động kém ).
Ba là, đổi mới công nghệ còn mang tính tự phát chưa có môi trường pháp lí và
quy hoạch tổng thể về chiến lược phát triển khoa học – công nghệ. Sự phối kết hợp
giữa doanh nghiệp ngành và cơ quan nghiên cứu khoa học – công nghệ chưa được
chặt chẽ.
Các doanh nghiệp công nghiệp có nhu cầu đổi mới công nghệ rất lớn, nhưng khi
triển khai lại rất lúng túng khi gặp phải các vấn đề cần giải quyết như : lựa chọn lĩnh
vực đầu tư, loại trình độ công nghệ và thiết bị kỹ thuật, đối tác, giá cả và hợp đồng.
Một phần vì quy hoạch chiến lược phát triển chung về công nghệ của nhà nước của
ngành chưa được triển khai gắn kết với kế hoạch của doanh nghiệp. Một mặt chưa
có sự hướng dẫn giúp đỡ tư vấn từ phía các cơ quan cấp trên đối với doanh nghiệp.
Cơ chế kiểm tra, giám sát các hợp đồng chuyển giao công nghệ chưa được đầy
đủ, rõ ràng và thường xuyên do đó để lọt nhiều trường hợp không đạt yêu cầu thẩm
định, khó quy kết trách nhiệm thuộc về ai.
Một điểm đáng lưu ý hiện nay là các cơ quan nghiên cưú triển khai và các
doanh nghiệp được tổ chức độc lập với nhau, và kế hoạch nghiên cứu lại chủ yếu do
cấp trên giao hoặc do đề xuất từ các bản nghiên cứu , nên quan hệ giữa cơ sở sản
xuất và cơ quan nghiên cứu còn rất nhiều trở ngại, . Thực tế có nhiều đề tài nghiên
cưú được nhà nước cấp kinh phí, thu hút lực lượng đông đảo các nhà khoa học tham
gia và được đánh giá tốt nhưng công tác xã hội hoá kèm ( do cơ chế hoặc nội dung
nghiên cứu không xuất phát từ yêu cầu của doanh nghiệp ). Nên không được áp
dụng vào sản xuất gây lãng phí lớn. Trong khi đó các doanh nghiệp rất cần sự giúp
đỡ từ các cơ quan nghiên cứu về tư vấn kế hoạch, giải pháp công nghệ triển khai thì
không có kinh phí hoặc cơ chế pháp lý về việc sử dụng vốn đầu tư cho nghiên cứu
triển khai không rõ ràng cũng không được thực hiện.
Trang 14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét