Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2014

Hoàn thiện kế toán nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá và thành phẩm tại công ty TNHH Sao Thuỷ Tinh

Chuyên đề tốt nghiệp Trờng ĐH Thơng Mại Hà Nội
1.1. Các phơng thức tiêu thụ hàng hoá.
Do sự đa dạng của nền kinh tế thị trờng, quá trình tiêu thụ cũng rất đa
dạng. Nó tuỳ thuộc vào hình thái thực hiện giá trị của hàng hoá từ nơi sản xuất
đến nơi tiêu dùng.
Các phơng thức bán nh: bán buôn, bán lẻ, đại lý
1.1.1. Bán buôn.
Bán buôn là phơng thức bán hàng cho các tổ chức kinh tế, các đơn vị th-
ơng mại, các đơn vị sản xuất để họ tiếp tục chuyển bản cho ngời tiêu dùng hay
tiếp tục gia công chế biến.
Đặc điểm chủ yếu của phơng thức bán buôn là khối lợng hàng hoá giao
dịch lớn, bán theo từng lô nhng mặt hàng không phong phú, đa dạng nh trong
bán lẻ. Bán buôn đợc thực hiện qua 2 phơng thức:
a. Bán buôn qua kho:
Là phơng thức bán hàng mà hàng bán đợc xuất ra từkho bản quản của
doanh nghiệp. Trong phơng thức này có 2 hình thức:
- Bán buôn qua kho theo hình thức chuyển hành: Theo hình thức này,
định kỳ doanh nghiệp xuất kho hàng hoá để gửi cho ngời mua băng phơng tiện
vận chuyển của doanh nghiệp hay thuê ngoài, chuyển đến giao cho bên mua
theo thoả thuận trong hợp đồng đã đợc ký kết, chi phí vận chuyển do bên bán
hoặc bên mua dựa theo thoả thuận trớc. Hàng hoá sau khi chuyển bán vẫn
thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Số hàng này đợc xác định là tiêu thụ
khi doanh nghiệp nhận đợc tiền do bên mua thanh toán hoặc nhận đợc giáy báo
chấp nhận thanh toán của bên mua.
- Bán buôn qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp. Theo hình thức
này, bên mua cử đại diện đến kho của doanh nghiệp để nhận hàng của doanh
nghiệp xuất kho hàng bán giao trực tiếp cho đại diện bên mua. Sau khi nhận đủ
hàng bên mua thanh toán tiền hoặc chấp nhận nợ. Thì hàng hoá đợc xác định là
đã tiêu thụ.
b. Bán buôn chuyển thẳng.
Khuất Nhật Thanh Lớp 4B Văn bằng 2
5
Chuyên đề tốt nghiệp Trờng ĐH Thơng Mại Hà Nội
Các doanh nghiệp thơng mại sau khi mua hàng, nhận hàng không đa
nhập về kho của mình mà chuyển thẳng cho bên mua. Phơng thức này đợc thực
hiện qua hai hình thức:
- Bán buôn chuyển thẳng theo hình thức chuyển hàng: theo hình thức
này doanh nghiệp thơng mại sau khi mua hàng, nhận hàng bằng phơng tiện
vận chuyển của mình hay thuê ngoài cghuyển hàng đến giao cho bên mua ở
một địa điểm đã thoả thuận. Trong trờng hợp này, hàng hoá vẫn thuộc quyền
sở hữu của doanh nghiệp. Hàng chỉ đợc xác định là tiêu thụ khi doanh nghiệp
nhận đợc tiền thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán của bên mua.
- Bán giao tay ba là phơng thức của doanh nghiệp thơng mại và bên mua
đều đến nhận hàng tại kho của nhà cung cấp.
1.1.2. Bán lẻ
Là phơng thức bán hàng hoá đợc cung cấp trực tiếp cho ngời tiêu dùng.
- Đặc điểm của bán lẻ là khối lợng hàng bán nhỏ, nhng chủng loại mẫu
mã phong phú, đa dạng. Hàng hoá khi đã đợc bán thì tách khỏi lu thông và đi
vào tiêu dùng, vì vậy giá trị hàng hoá đã đợc thực hiện hoàn toàn.
Thời điểm xác định là hàng hoá đợc tiêu thụ là khi nhận đợc báo cáo
bán hàng của mậu dịch viên.
- Các phơng thức bán lẻ :
+ Bán lẻ trực tiếp: là hình thức bán truyền thống. Trong đó mậu dịch
viên tại quầy vừa chịu trách nhiệm vật chất về hàng hoá vừa thu tiền bán hàng,
vì vậy để đảm bảo an toàn cho hàng và tiền khi cuối ca hay cuối ngày bán hàng
mậu dịch viên phải nộp toàn bộ số tiền thu đợc cho thủ quỹ. Theo bảng kê giấy
nộp tiền. Sau đó kiểm kê số hàng còn tồn tại quầy, xác định số lợng hàng xuất
bán, làm cơ sở cấp báo cáo bán hàng (phản ánh số đã đợc thực hiện) trên cơ sở
đó xác định tiền thừa, thiếu khi bán hàng.
- Hình thức bán tự phục vụ: Khách hàng tự chọn hàng hoá, trớc khi
mang hàng hoá ra khỏi cửa hàng thì mang đến bộ phận thu tiền để thanh toán,
nhân viên thu tiền cấp hoá đơn bán hàng, thu tiền của khách hàng hết ca hoặc
hết ngày nộp tiền cho thủ quỹ và lập báo bán hàng.
Khuất Nhật Thanh Lớp 4B Văn bằng 2
6
Chuyên đề tốt nghiệp Trờng ĐH Thơng Mại Hà Nội
- Hình thức bán trả góp: Khi bán hàng doanh nghiệp chỉ thu đợc một
phần tiền nhất định ban đầu. Số còn lại ngời mua trả dần, nhng ngời mua phải
chịu lãi trả góp. Giá bán trả góp bao giờ cũng lớn hơn giá bán thông thờng
phần chênh lệch chính là lãi trả góp phải thu.
1.1.3. Phơng thức gửi hàng đại lý - ký gửi
- Theo phơng thức này đơn vị có hàng gửi, chuyển hàng cho đơn vị nhận
bán đại lý, ký gửi bán hộ và thanh toán tiền hoa hồng cho bên nhận bán. Thông
báo đã bán đợc hàng hay trả tiền về hàng nhận bán thì hàng đợc xác định là đã
tiêu thụ. Chứng từ bán hàng là bảng thanh toán hàng đại lý.
1.2. Các phơng pháp xác định giá mua của hàng bán.
- Giá bán hàng đóng vai trò quyết định trong quá trình tiêu thụ hàng
hoá. Nó giúp doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh trong nền kinh tế thị tr-
ờng: Vì vậy , mỗi doanh nghiệp cần xác định cho mình những chính sách giá
phù hợp để thu hút đợc khách hàng và sản xuất kinh doanh đợc có lãi. Bên
cạnh việc xác định giá bán cho phù hợp thì việc xác định giá mua của hàng
bán.
- Việc tính giá mua của hàng bán sẽ rất đơn giản khi tất cả các đơn vị
hàng hoá đợc nhập cùng một đơn giá ổn định từ kỳ này sang kỳ khác. Tuy
nhiên khi các loại hàng hoá giống nhau đợc nhập với những đơn giá khác nhau
thì phát sinh vấn đề là sử dụng đơn giá nào để tính giá mua của hàng hoá tuỳ
thuộc vào yếu cầu của công tác quản lý và cách đánh giá hàng hoá, phản ánh
trang tài khoản và trang sổ kế toán mà doanh nghiệp vận dụng cách tính giá
mua của hàng hoá xuất bán.
- Có 4 phơng pháp thờng đợc sử dụng:
+ Phơng pháp gía thực tế đích danh.
+ Phơng pháp bình quân gia quyền.
+ Phơng pháp nhập trớc xuất trớc.
+ Phơng pháp nhập sau xuất trớc.
a) Phơng pháp giá thực tế đích danh.
Khuất Nhật Thanh Lớp 4B Văn bằng 2
7
Chuyên đề tốt nghiệp Trờng ĐH Thơng Mại Hà Nội
Theo phơng pháp này, các doanh nghiệp này phải sớm nắm bắt đợc các
đơn vị hàng hoá tồn kho và các đơn vị hàng hoá xuất bán. Thuộc những lần
mua nào và dùng đơn giá của những lần mua đó để xác định giá vốn của hàng
hoá tồn kho cuối và trị giá mua của hàng hoá xuất bán.
Đây là phơng pháp hợp lý nhất trong các phơng pháp vì nó phản ánh giá
trị thực chất nhất. Tuy nhiên phơng pháp này chỉ thích hợp với các doanh
nghiệp kinh doanh ít mặt hàng, ít chủng loại và hàng có giá trị cao.
b) Phơng pháp bình quân gia quyền
Phơng pháp này đợc áp dụng trong trờng hợp hàng tồn kho và hàng xuất
bán không xác định đợc là mua lần nào. Vì vậy phải phân tích đơn giá bình
quân của từng loại hàng hoá.
c) Phơng pháp nhập trớc xuất trớc.
Theo phơng pháp này, giả định các đơn vị hàng hoá tồn kho đầu kỳ sẽ đ-
ợc xuất bán trớc tiên. Số hàng bán tiếp theo, giả định chúng đợc mua theo thứ
tự. Nh vậy hàng tồn kho cuối kỳ bao gồm những đơn vị hàng hoá mua vào sau
cùng. Tuy nhiên trong thực tế sự vận động của hàng hoá không theo thứ tự
nhập trớc xuất trớc.
d) Phơng pháp nhập sau xuất trớc
Phơng pháp nhập sau xuất trớc đợc giả định hàng hoá xuất bán là những
hàng hoá đợc mua sau cùng và cứ nh vậy hàng hoá tồn kho cuối kỳ, là những
hàng hoá đợc mua laau nhất, cũ nhất. Trị giá vốn của hàng hoá mua vào sau
cũng đợc tính cho trị giá vốn của hàng bán. Trên thực tế hàng hoá không xác
định theo thứ tự nhập sau xuất trớc.
Bốn phơng pháp định giá trên đều đợc thừa nhận. Trong điều kiện giá cả
ổn định không thay đổi từ kỳ này sang kỳ khác thì cả bốn phơng pháp sẽ cho
cùng một kết quả. Tuy nhiên trong điều kiện thị trờng không ổn định giá cả lên
xuống thất thờng thì mỗi phơng pháp sẽ cho mỗi kết quả khác nhau và nh vậy
mỗi phơng pháp đều có ảnh hởng nhất định đến báo cáo tài chính của doanh
nghiệp. Vì vậy doanh nghiệp lựa chọn phơng pháp nào đều phải công khai
Khuất Nhật Thanh Lớp 4B Văn bằng 2
8
Chuyên đề tốt nghiệp Trờng ĐH Thơng Mại Hà Nội
trong bảng thuyết minh báo cáo tài chính của doanh nghiệp và phải nhất quán
giữa các kỳ kế toán, giúp cho việc kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động kinh
doanh đợc chính xác.
1.3. Thời điểm ghi chép hàng bán
Trong các doanh nghiệp thơng mại thời điểm ghi chép vào sổ sách kế
toán về hàng hoá là thời điểm hàng hoá đợc xác định là bán, thời điểm đó đợc
quy định theo từng phơng thức, hình thức bán hàng sau:
- Bán buôn qua kho, bán vận chuyển thẳng theo theo hình thức giao
hàng trực tiếp: Thời điểm ghi bán hàng là khi đại diện been mua ký nhận đủ
hàng và thanh toán tiền hoặc chấp nhận nợ.
- Bán buốn qua kho và bán buôn chuyển thẳng theo hình thức chuyển
hàng: Thời điểm ghi chép hàng bán là khi nhận đủ tiền của bên mua hoặc bên
mua xác nhận là đã nhận đủ hàng và chấp nhận thanh toán.
- Bán lẻ hàng hoá: Thời điểm ghi chép hàng bán là thời điểm nhận đợc
báo cáo bán hàng của mậu dịch viên.
- Phợng thức gửi đại lý: Thời điểm ghi chép hàng bán là thời điểm nhận
ddợc tiền do bên nhận đại lý thanh toán hoặc chấp nhận nợ.
2. Nhiệm vụ của kế toán nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá.
- Kế toán nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá có ý nghĩa rất quan trọng trong
quá trình phản ánh thu thập và xử lý, cung cấp thông tin cho chủ doanh nghiệp,
giúp doanh nghiệp lựa chọn phơng án kinh doanh phù hợp để mang lại hiệu
quả cao. Vì vậy, nhiệm vụ của kế toán nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá sản phẩm
gồm:
+ Ghi chép phản ánh đầy đủ tình hình bán hàng của doanh nghiệp.
Ngoài kế toán tổng hợp ghi trên các tài khoản của kế toán, kế toán tiêu thụ cần
phải theo dõi chi tiết. Việc ghi chép theo số lợng, chủng loại, theo từng đơn vị
trực thuộc, giám sát hàng ở mọi trạng thái: Hàng đang đi đờng, hàng đang ở
trong kho, hàng ở quấy.
Khuất Nhật Thanh Lớp 4B Văn bằng 2
9
Chuyên đề tốt nghiệp Trờng ĐH Thơng Mại Hà Nội
+ Xác định chính xác thời điểm hàng đợc coi là tiêu thụ, phản ánh
doanh thu.
+ Xác định đúng và tập hợp đầy đủ giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng
phát sinh trong quá trình tiêu thụ cũng nh chi phí quản lý doanh nghiệp. Phân
bổ chi phí hợp lý và giúp xác định kết quả kinh doanh và xác định các khoản
phải nộp ngân sách.
+ Kiểm tra tình hình tiêu thụ bán hàng và quản lý tiền bán hàng. Đối với
hàng hoá bán chịu cần phải mở sổ sách chi tiết theo từng khách hàng, từng lô
hàng, số tiền nợ và thời hạn phải trả.
+ Tổ chức tốt công tác quản lý chứng từ ban đầu và trình tự luân chuyển
chứng từ, đảm bảo việc kiểm tra và ghi sổ kế toán đợc thuận tiện, tránh trùng
lặp, bỏ sót.
+ Phản ánh tình hình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch tiêu thụ; mức bán
ra, doanh thu bán. Các chỉ tiêu kế toán phải phù hợp với các chỉ tiêu kế hoạch
để đảm bảo tính chất có thể so sánh đợc khi xem xét.
Đảm bảo thực hiện tốt các nhiệm vụ trên giúp cho các nhà quản lý nắm
bắt kịp thời, nhanh chóng các quá trình vận động của hàng hoá, tiền tệ nhằm đ-
a ra những quyết định chính xác trong nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá để phù hợp
với thị trờng.
3.Phơng pháp xác định giá vốn của hàng bán.
3.1. Đánh giá hàng hoá theo giá vốn
- Giá thành hàng hoá nhập kho đợc xác định phù hợp với từng nguồn
nhập:
+ Hàng hoá do doanh nghiệp sản xuất, chế tạo đợc đánh giá theo chi phí
sản xuất, kinh doanh thực tế bao gồm: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí
sản xuất chung.
+ Hàng hoá thuê ngoài gia công, đợc đánh giá theo chi phí thực tế gia
công gồm: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp đem gia công. Chi phí thuê noài
gia công và các chi phí khác liên quan trực tiếp đến quá trình gia công nh chi
Khuất Nhật Thanh Lớp 4B Văn bằng 2
10
Chuyên đề tốt nghiệp Trờng ĐH Thơng Mại Hà Nội
phí vạan chuyển, chi phí làm thủ tục xuất kho nguyên vật liệu đem gia công,
nhập kho thành phẩm để hoàn thành gia công.
- Đối với hàng hoá xuất kho cũng phải đợc thể hiện theo giá vốn thực tế.
Hàng hoá xuất kho cũng có thể theo những giá thực tế khác nhau ở từng thời
điểm trong kỳ hạch toán, nên việc hạch toán xác định giá trị thực tế hàng hoá
xuất kho có thể áp dụng một trong các phơng pháp chủ yếu sau :
+ Phơng pháp giá đơn vị bình quân:
Theo phơng pháp này, giá thực tế vật liệu xuất dùng trong kỳ đợc tính
theo giá bình quân ( bình quân cả kỳ dự trữ, bình quân cuối kỳ trớc hoặc bình
quân sau mỗi lần nhập).
Giá thực tế vật
liệu xuất dùng
=
Số lợng vật liệu xuất
dùng
x
Giá đơn vị bình
quân
Trong đó:
Giá đơn vị bình
quân cả kỳ dự trữ
=
Giá thực tế vật liệu tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
Lợng thực tế vật liệu tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
Phơng pháp giá đơn vị bình quân cả kỳ dự trữ tuy đơn giản, dẽ làm nh-
ng độ chính xác không cao. Hơn nữa, công việc tính toán dồn vào cuối tháng
gây ảnh hởng đến công tác quyết toán chung.
Giá đơn vị bình
quân cuối kỳ trớc
=
Giá thực tế đơn vị tồn đầu kỳ (hoặc cuối kỳ trớc)
Lợng thực tế vật liệu tồn đầu kỳ (hoặc cuối kỳ trớc)
Phơng pháp này mặc dầu quá đơn giản và phản ánh kịp thời tình hình
biến động vật liệu trong kỳ tuy nhieen không chính xác vì không tính đến sự
biến động của giá vật liệu kỳ này.
Giá đơn vị bình quân
sau mỗi lần nhập
=
Giá thực tế vật liệu tồn trớc khi nhập cộng số nhập
Lợng thực tế vật liệu tồn trớc khi nhập cộng lợng nhập
Phơng pháp giá đơn vị bình quân sau mỗi lần nhập lại khắc phục nhợc
điểm của 2 phơng pháp trên, vừa chính xác, vừa cập nhật. Nhợc điểm của ph-
ơng pháp này là tốn nhiều công sức, tính toán nhiều lần.
Khuất Nhật Thanh Lớp 4B Văn bằng 2
11
Chuyên đề tốt nghiệp Trờng ĐH Thơng Mại Hà Nội
+ Phơng pháp nhập trớc, xuất trớc (FIFO).
Theo phơng pháp này, giả thiết rằng số vật liệu nhập trớc thì xuất trớc,
xuât hết số nhập trớc mới đến số nhập sautheo giá thực tế của từng số hàng
xuất. Nói cách khác, cơ sở của phơng pháp này là giá thực tế vật liệu mua trớc
sẽ đợc dùng làm giá thực tế vật liệu xuất trớc và do vậy giá trị vật liệu tồn kho
cuối kỳ sẽ là giá thực tế của số vật liệu mua vào sau cùng. Phơng pháp này
thích hợp trong trờng hợp giá cả ổn định hoặc có xu hớng giảm.
+ Phơng pháp nhập sau xuất trớc (LIFO).
Phơng pháp này giả định vật liệu mua sau cùng sẽ đợc xuất trớc tiên, ng-
ợc lại với phơng pháp nhập trớc, xuất trớc ở trên. Phơng pháp nhập sau xuất tr-
ớc thích hợp trong trờng hợp lạm pháp.
+ Phơng pháp trực tiếp:
Theo phơng pháp này, vật liệu đợc xác định giá trị theo đơn chiếc hay
từng lô và giữ nguyên từ lúc nhập vào cho đến lúc xuất dùng (trừ trờng hợp
điều chỉnh). Khi xuất vật liệu nào sẽ tính theo giá thực tế của vật liệu đó. Do
vậy, phơng pháp này còn có tên gọi là phơng pháp đặc điểm riêng hay phơng
pháp giá trị thực tế đích danh và thờng sử dụng với các loại vật liệu có giá trị
cao và có tính tách biệt.
+ Phơng pháp giá hạch toán:
Theo phơng pháp này, toàn bộ vật liệu biến động trong kỳ đợc tính giá
hạch toán (Giá kế hoạch hoặc một loại giá ổn định tronh kỳ). Cuối kỳ kế toán
sẽ tiến hành điều chỉnh từ giá hạch toán sang giá thực tế theo công thức:
Giá vật liệu thực tế xuất
dùng (hoặc tồn kho cuối kỳ)
=
Giá hạch toán vật liệu xuất
dùng (hoặc tồn kho cuối kỳ)
x
Hệ số giá
vật liệu
Hệ số giá có thể tính cho từng loại, từng nhóm hoặc từng thứ vật liệu
chủ yếu tuỳ thuộc vào yêu cầu và trình độ quản lý.
3.2. Đánh giá hàng hoá theo giá hạch toán.
Việc đánh giá hàng hoá theo giá thực tế đôi khi không đáp ứng đợc yêu
cầu kịp thời của công tác kế toán, bởi vì giá thành sản xuất thực tế thờng cuối
Khuất Nhật Thanh Lớp 4B Văn bằng 2
12
Chuyên đề tốt nghiệp Trờng ĐH Thơng Mại Hà Nội
kỳ hạch toán mới xác định đợc mà công việc nhập xuất hàng hoá lại diễn ra th-
ờng xuyên vì vậy ngời ta còn sử dụng giá hạch toán.
Giá hạch toán là giá ổn định trong kỳ. Nó có thể là giá thành kế hoạch
hoặc giá nhập kho thống nhất. Đánh giá hàng hoá theo giá hạch toán đến cuối
kỳ phải tính chuyển giá hạch toán sang giá thực tế bằng cách:
Trị giá thực tế hàng hoá xuất
kho trong kỳ
=
Trị giá hạch toán hàng hoá
xuất kho trong kỳ
x Hệ số giá
Hệ số giá =
Trị giá thực tế hàng hoá
tồn kho đầu kỳ
+
Trị giá thực tế hàng hoá
nhập kho trong kỳ
Trị giá hạch toán hàng
hoá tồn kho đầu kỳ
+
Trị giá hạch toán hàng hoá
nhập kho trong kỳ
Phơng pháp này áp dụng với mọi loại hình doanh nghiệp nhng thờng là
doanh nghiệp có loại quy mô lớn, khối lợng hàng hoá tiêu thụ nhiều, tình hình
nhập xuất diễn ra thờng xuyên, việc xác định giá hàng ngày khó khăn và ngay
cả tronh trờng hợp xác định đợc song tốn kém nhiều chi phí, không hiệu quả
cho công tác kế toán. Phơng pháp này đòi hỏi doanh nghiệp phải xây dựng đợc
hệ thống giá hạch toán khoa học, hợp lý.
II. Nội dung quản lý nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá và phơng pháp kế toán.
Do sự phức tạp của nghiệp vụ tiêu thụ mà việc quản lý nghiệp vụ này
bao gồm:
- Quản lý về giá cả hàng hoá: Là một công tác quan trọng trong quá
trình bán hàng, việc định giá và thực hiện giá bán là nội dung trọng tâm. kế
toán nghiệp vụ tiêu thụ là một bộ phận trực tiếp về giá cả hàng hoá. Việc phản
ánh giá cả hàng hoá vào sổ kế toán phải căn cứ vào các chứng từ xuất nhập
hàng hoá, các chứng từ hạch toán tiền hàng, các chứng từ này phải hợp pháp và
có sự xác nhận của cả bên mua và bên bán.
Khuất Nhật Thanh Lớp 4B Văn bằng 2
13
Chuyên đề tốt nghiệp Trờng ĐH Thơng Mại Hà Nội
Mặt khác việc quản lý giá cả hàng hoá còn giúp các nhà quản lý theo
dõi đợc sự biến động của giá. trong từng thời kỳ từ đó có thể rút ra quy luật
vận động của giá (Chẳng hạn các mặt hàng theo mùa, vụ ) phục vụ cho công
tác kế toán mua bán hàng hoá trong hoạt động kinh doanh.
- Quản lý về số lợng, chất lợng và giá trị của hàng hoá cả khi hàng vẫn
thuộc sở hữu của doanh nghiệp.
- Quản lý thu hồi tiền bán hàng: Đây cũng là một khâu quan trọng trong
quá trình bán. việc thu hồi tiền phải đảm bảo nhanh chóng và đầy đủ, để thực
hiện đợc điều đó ngời quản lý phải tính đúngtính đủ số tiền phải thu, đã thu
theo từng khách hàng, theo từng hình thức thanh toán. mỗi chứng từ thanh toán
phải hợp pháp, có đầy đủ chữ ký của cả hai bên mua và bán.
Khi tiêu thụ đợc nhanh chóng sẽ giúp tằng vòng quya của vốn và kịp
thời huy động vốn cho sản xuất kinh doanh.bbbbbbbb
III.Phơng pháp kế toán nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá.
1. Hạch toán tiêu thụ hàng hoá theo phơng pháp kê khai thờng xuyên.
1.1. Các chứng từ kế toán sử dụng.
- Hoá đơn GTGT.
- Hoá đơn bán hàng.
- Hoán đơn tự in, chứng từ đặc thù.
- Bảng kê bán lẻ.
- Giấy báo Có của ngân hàng, phiếu thu
1.2. Các tài khoản kế toán sử dụng.
- Tài khoản 155 - Thành phẩm: Tài khoản này đợc sử dụng để phản ánh
giá trị hiện có, tình hình biến động của các loại thành phẩm nhập kho của
doanh nghiệp theo giá thành thực tế (giá thành công xởng thực tế)
Bên Nợ: Các Nghiệp vụ ghi tăng giá thành thực tế thành phẩm.
Bên Có: Các Nghiệp làm giảm giá thành thực tế thành phẩm.
Khuất Nhật Thanh Lớp 4B Văn bằng 2
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét