Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014
Luận văn thạc sĩ về Một số giải pháp phát triển khu chế xuất Công nghiệp TP. Hồ Chí MInh đến năm 2020
5
DANH MỤC BẢNG BIỂU – HÌNH VẼ TRONG LUẬN VĂN
Bảng 2.1 : Các KCX – KCN hiện nay của Tp. HCM
Bảng 2.2 : Tình hình đầu tư và thu hút đầu tư tại các KCX, KCN Tp. HCM
Bảng 2.3 : Hiệu quả đầu tư tại các KCX, KCN Tp.HCM
Bảng 2.4 : Vốn đầu tư bình quân cho 1 dự án tại các KCX, KCN tại Tp.HCM và các tỉnh
lân cận
Bảng 2.5 : Cơ cấu ngành nghề đầu tư tại các KCX – KCN TP. HCM
Bảng 2.6 : Tình hình chuyển dịch CCNN đầu tư tại các KCX, KCN Tp.HCM
Bảng 2.7 : Tình hình lao động tại các KCX, KCN Tp.HCM
Bảng 2.8 : Cơ cấu lao động theo ngành nghề tại các KCX, KCN Tp.HCM đến
31/12/2006
Bảng 2.9 : Tình hình lao động tại các KCX, KCN Tp.HCM tính đến 31/12/2006
Bảng 2.10 : Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu theo ngành hàng tại các KCX-KCN TP.HCM
Bảng 2.11 : Tình hình chuyển dịch cơ cấu sản phẩm XK tại các KCX, KCN Tp.HCM
Bảng 2.12 : Tình hình NK tại các doanh nghiệp KCX, KCN từ năm 2000 – 2006
Bảng 2.13 : Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong (IFE)
Bảng 2.14 : So sánh giá cho thuê đất giữa các địa phương
Bảng 2.15 : Ma trận hình ảnh cạnh tranh
Bảng 2.16 : Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài (EFE)
Bảng 3.1 : Ma trận SWOT
Bảng 3.2 : Ma trận QSPM nhóm SO
Bảng 3.3
: Ma trận QSPM nhóm ST
Bảng 3.4
: Ma trận QSPM, nhóm WO
Bảng 3.5 : Ma trận QSPM nhóm WT
Hình 2.1 : Vị trí thuận lợi của các KCX, KCN tại Tp. HCM
Hình 2.2 : Sơ đồ định hướng phát triển không gian các KCX, KCN Tp. HCM đến năm 2020
Hình 2.3 : Biểu đồ cơ cấu ngành nghề tại các KCX-KCN TP.HCM 2001 – 2006
Hình 2.4 : Cơ cấu lao động theo ngành nghề tại các KCX, KCN Tp.HCM đến
31/12/2006
Hình 2.5 : Biểu đồ cơ cấu sản phẩm xuất khẩu tại các KCX-KCN TP.HCM 2001 – 2006
6
CÁC CHỮ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN VĂN
- CNH : Công nghiệp hoá
- CNH – HĐH : Công nghiệp hoá – hiện đại hoá
- CCNN : Cơ cấu ngành nghề
- FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài
- GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
- HEPZA : Ban quản lý các khu chế xuất, khu công nghiệp Tp.Hồ Chí Minh
- KCX, KCN : Khu chế xuất, khu công nghiệp
- Tp. HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
- XK : Xuất khẩu
- NK : Nhập khẩu
- UBND : Ủy ban nhân dân
- WTO : Tổ chức Thương mại thế giới
- CN : Công Nghiệp
7
LỜI MỞ ĐẦU
1. Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Xây dựng và phát triển các KCN, KCX ở Việt Nam còn mới mẻ so với thế
giới và nhiều nước trong khu vực, nhưng đã được khẳng định là mô hình sản xuất
công nghiệp hiệu quả, mang lại nhiều lợi ích trong giai đoạn nền kinh tế đang chuyển
đổi ở nước ta. Xây dựng và phát triển các KCX, KCN ở nước ta còn có ý nghĩa lớn là
phát huy nội l
ực và là động lực đẩy mạnh công nghiệp hoá đất nước. Bởi vậy định
hướng phát triển KCX, KCN ở nước ta vừa cấp thiết, vừa có tính chiến lược. Nghị
quyết lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá 8 ghi : “Phát triển từng bước
và nâng cao hiệu quả hoạt động của các KCN, KCX. Nghiên cứu xây dựng thí điểm
một vài đặc khu kinh tế, khu mậu dịch tự do ở những đị
a bàn ven biển có đủ điều
kiện”. Theo tinh thần đó, Chính phủ đã ban hành chính sách khuyến khích đầu tư với
những quy định thông thoáng, tạo khung pháp lý thuận lợi hơn cho đầu tư phát triển
sản xuất kinh doanh, đặc biệt là cho các doanh nghiệp ở KCN.
Mỗi KCN ra đời đã trở thành địa điểm quan trọng trong việc thu hút nguồn
vốn đầu tư trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), tạ
o động lực lớn cho
quá trình tiếp thu công nghệ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công lại lao động
phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, góp phần
nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, hạn chế tình trạng ô nhiễm do chất
thải công nghiệp gây ra. Việ
c phát triển KCX, KCN thu hút đầu tư cũng thúc đẩy
việc hình thành và phát triển các đô thị mới, phát triển các ngành phụ trợ và dịch vụ,
tạo việc làm cho người lao động, góp phần đào tạo phát triển nguồn nhân lực, xây
dựng kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật.
Tuy rằng trong thời gian qua các KCN đạt được những thành quả tốt nhưng
vẫn còn nhiều hạn chế tồn tại làm cả
n trở quá trình thu hút đầu tư và phát triển các
KCN, tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định vì phát triển nhanh sẽ kèm theo những hậu quả
về môi trường, về xã hội không chỉ cho Tp. HCM mà liên đới tới các địa phương
lân cận khác trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước. Vì vậy cần cải
tiến khắc phục để thu hút đầu tư và phát triển ổn định, tận dụng lợi thế sẵn có m
ột
cách triệt để hơn. Đòi hỏi trách nhiệm cao của các cơ quan Nhà nước đảm bảo cho
8
sự phát triển lâu dài, ổn định của các KCN và KCX của Tp. HCM, cũng như các
tỉnh lân cận trong khu vực và cả nước trong thời gian tới.
Xuất phát từ tầm quan trọng của vấn đề phát triển bền vững các KCN và
KCX Tp. HCM từ nay đến năm 2020, nên tôi chọn đề tài luận văn là:
“Một số giải pháp phát triển các KCX và KCN Tp. HCM đến năm
2020”
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Đánh giá thực trạng hoạt động các KCN ở Tp. HCM trong những n
ăm gần
đây, rút ra những thành tựu và các tồn tại trong quá trình phát triển các KCN của
thành phố.
Nghiên cứu nguyên nhân của những khó khăn tồn tại của các KCN trên địa
bàn Tp. HCM.
Đề xuất một số giải pháp phát triển các KCN của Thành phố đến năm 2020.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các KCX, KCN Tp. HCM.
Đề tài nghiên cứu một số chỉ tiêu có xem xét tương quan, so sánh với một số
KCN thuộc các tỉnh khác và các n
ước khác trong khu vực.
Thời gian, nội dung đánh giá hoạt động lấy mốc thời gian từ năm 1991 đến
năm 2006 trong đó chủ yếu là những năm gần đây.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu:
- Phân tích, tổng hợp, thống kê mô tả số liệu và so sánh: bằng cách tập hợp
các báo cáo, phân tích các số liệu thống kê nhằm rút ra những nét nổi bật, những
đặc
điểm qua các năm để nhận định và đánh giá.
- Điều tra, khảo sát thực tế: nhằm đánh giá hiện trạng và thu thập thông tin
liên quan phục vụ công tác nghiên cứu.
- Phương pháp chuyên gia: được sử dụng để lấy ý kiến của Lãnh đạo các
Phòng ban, các chuyên viên trong ban quản lý các KCX, KCN Tp. HCM (HEPZA).
9
5. Ý NGHĨA KHOA HỌC THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Khi Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới WTO
dòng vốn đầu tư nước ngoài sẽ có xu hướng tăng mạnh vào Việt Nam. Tuy nhiên,
hiện nay, các KCX, KCN Tp.HCM không còn quỹ đất nhiều cho đầu tư, lượng lao
động phổ thông không đủ đáp ứng cho các ngành thâm dụng lao động. Cho nên,
việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp phát triển cho các KCX, KCN Tp. HCM
hy vọng sẽ đáp
ứng được yêu cầu cấp bách trong bối cảnh hiện nay. Từ đó góp phần
phục vụ mục tiêu thực hiện thành công công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đưa Việt Nam về cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào
năm 2020.
6. ĐIỂM MỚI CỦA ĐỀ TÀI
Xem xét một cách tổng hợp những vấn đề trong và ngoài KCN trong mối
tương quan hợp tác với các địa ph
ương khác trong vùng.
Đánh giá thực trạng phát triển KCN của Thành phố, thực tế và trung thực
nhất.
Cơ sở, mục tiêu và giải pháp là nhằm giúp cho các KCN của thành phố phát
triển trong một thời kỳ nhất định đến năm 2020.
7. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn gồm có 03 chương
chính cụ thể:
Chương 1:
Tổng quan về các KCN, KCX
Chương 2: Thực trạng phát triển các KCN tại Tp. HCM.
Chương 3: Một số giải pháp phát triển các KCX, KCN tại Tp. HCM đến năm
2020
Luận văn gồm 75 trang nội dung chính và phụ lục, tài liệu tham khảo.
10
Chương I
TỔNG QUAN VỀ CÁC KHU CHẾ XUẤT – KHU CÔNG NGHIỆP
1.1. NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ KCX - KCN
1.1.1. Khu công nghiệp
1.1.1.1. Định nghĩa:
Khu công nghiệp (KCN) là khu tập trung các doanh nghiệp sản xuất hàng
công nghiệp và thực hiện các dịch vụ sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác
định có dân cư sinh sống; do Chủ tịch UBND tỉnh/Thành phố ra quyết định thành
lập sau khi có văn bản chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ. Trong KCN có thể có
KCX, doanh nghiệp chế xuất.
1.1.1.2. Đặc
điểm
- KCN có vị trí địa lý xác định, có thể có hoặc không có hàng rào ngăn cách,
không có cư dân sinh sống.
- KCN được thành lập để thu hút các doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ phục
vụ sản xuất công nghiệp.
- Đơn vị chủ đầu tư KCN thuê đất Nhà nước và đầu tư hạ tầng và thu phí.
- Được quản lý bởi một cơ quan chuyên trách là Ban quản lý KCN cấp tỉnh
theo cơ chế ủy quyền của các b
ộ ngành, với cơ chế một cửa, một đầu mối, ưu đãi
thuế thu nhập doanh nghiệp, không phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường.
1.1.2. Khu chế xuất
1.1.2.1. Định nghĩa:
Khu chế xuất (KCX) là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất
hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động
xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh s
ống, do Chính phủ
hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập.
1.1.2.2. Đặc điểm
Ngoài những đặc điểm của KCN, KCX có một số đặc điểm riêng như:
- Quan hệ giữa trong KCX và bên ngoài là quan hệ xuất nhập khẩu, người ra
vào KCX phải có thẻ kiểm tra, nhưng không coi như là xuất nhập cảnh.
- Bắt buộc có hàng rào phân cách giữa KCX và nội địa.
11
1.1.3. Khu công nghệ cao
1.1.3.1. Định nghĩa
Khu Công nghệ cao là khu kinh tế - kỹ thuật đa chức năng, có ranh giới xác
định, do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, nhằm nghiên cứu, phát triển và
ứng dụng công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao, đào tạo nhân lực
công nghệ cao và sản xuất, kinh doanh sản phẩm công nghệ cao. Trong khu công
nghệ cao có thể có KCX, kho ngoại quan, khu bảo thuế và khu nhà ở.
1.1.3.2. Đặc điểm:
- Có ranh giới địa lý nhất định
- Ngoài hoạt động sản xuất và dịch vụ phục vụ sản xuất, còn có hoạt động
nghiên cứu khoa học và triển khai, chuyển giao công nghệ, huấn luyện và đào tạo
nhân lực có trình độ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao. Sản phẩm mang
hàm lượng cao về công nghệ và chất xám, ít tiêu hao năng lượng.
- Nơi thu hút chuyên gia và lao động giỏi,
- Được hưởng chế độ ư
u đãi đặc biệt về thuế, tài chính tín dụng, bảo hộ
quyền sở hữu trí tuệ.
- Có nhiều khu vực đặc biệt khác như KCX, kho ngoại quan, khu bảo thuế và
khu nhà ở.
1.1.4. Cụm công nghiệp:
1.1.4.1. Định nghĩa:
Cụm Công nghiệp là khu vực sản xuất và dịch vụ phục vụ sản xuất do địa
phương (cấp quận, huyện) quản lý, không bị điều chỉnh c
ủa quy định pháp luật như
KCN, KCX, khu công nghệ cao nêu trên.
1.1.4.2. Đặc điểm:
- Được quy hoạch chủ yếu phục vụ cho sản xuất nhỏ của địa phương, không
đủ năng lực tài chính thuê dất trong các KCN tập trung.
- Cấp quản lý trực tiếp là UBND cấp quận/huyện mà không theo quy chế
KCN tập trung, việc đầu tư hạ tầng chủ yếu dựa vào ngân sách địa phương.
1.2. VAI TRÒ CỦA KCX - KCN ĐỐI VỚI S
Ự PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ
HỘI CỦA ĐẤT NƯỚC
1.2.1. Thu hút vốn đầu tư để phát triển nền kinh tế
Đặc điểm của mô hình phát triển các KCN và KCX là các nhà đầu tư trong
và ngoài nước cùng đầu tư trên vùng không gian lãnh thổ, là nơi kết hợp sức mạnh
12
của nguồn vốn trong và ngoài nước. Việc kết hợp này được thể hiện trong mối quan
hệ giữa cơ quan quản lý nhà nước và các nhà đầu tư, giữa các doanh nghiệp trong
nước và ngoài nước, giữa người lao động và người sử dụng lao động. Sự kết hợp
này còn được thể hiện qua việc kết hợp giữa KCN và KCX với nền kinh tế nội địa.
Nếu các mối quan hệ này được th
ực hiện tốt sẽ góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát
triển.
Về đầu tư trực tiếp nước ngoài (ĐTNN) năm 2006 các KCN đã thu hút thêm
được 315 dự án mới với tổng vốn đăng ký trên 2 tỷ USD, chiếm gần một nửa tổng
vốn ĐTNN mới cấp phép của cả nước và tăng 40% so với năm trước. trong đó có
dự án lớn như dự án thép không gỉ vớ
i vốn đầu tư trên 700 triệu USD tại KCN Mỹ
Xuân A (Bà Rịa – Vũng Tàu). Đồng thời các KCN còn có 370 dự án cũ được bổ
sung vốn, với tổng vốn tăng thêm trên 1,2 tỷ USD chiếm khoảng 65% tổng vốn bổ
sung của các dự án trong cả nước. Trong đó, có nhiều dự án có vốn tăng thêm ở quy
mô khá lớn, trên 50-60 triệu USD/dự án. Tính chung cả vốn cấp mới và vốn bổ sung,
năm 2007 các KCN đã thu hút thêm được 3,1 tỷ
USD, tăng 32% so với năm 2006.
Đây là năm các KCN Việt Nam bội thu lớn nhất về ĐTNN, kể từ trước đến nay.
Theo số liệu từ vụ quản lý KCN và KCX thuộc bộ kế hoạch đầu tư, tính đến
hết năm 2006, các KCN bao gồm cả KCX trên cả nước có 4.416 dự án còn hiệu lực,
trong đó có 2.202 dự án ĐTNN với tổng vốn đăng ký 17,5 tỷ USD và 2.232 dự án
đầu tư trong nước vớ
i tổng vốn đăng ký gần 120 nghìn tỷ đồng (Tương đương
khoảng 7,5 tỷ USD). Trên 2.400 dự án đã đi vào sản xuất kinh doanh và trên 900 dự
án đang triển khai xây dựng cơ bản. Ngoài ra còn 31.300 tỷ đồng thuộc những dự án
đầu tư phát triển hạ tầng KCN.
Do đó, việc phát triển các KCN và KCX sẽ giúp cho nước sở tại thu hút được
một nguồn vốn khá quan trọng để phát triển kinh tế quốc gia. Trong việc quy ho
ạch
lại các mạng lưới doanh nghiệp công nghiệp, Chính phủ rất khuyến khích các doanh
nghiệp trong nước đầu tư vào các KCN và KCX.
1.2.2. Góp phần giải quyết công việc làm cho xã hội.
Các KCN trên thực tế thu hút rất nhiều lao động trực tiếp và gián tiếp. Theo
số liệu từ vụ quản lý KCN và KCX thuộc bộ kế hoạch đầu tư, tính đến 31/12/2006,
các KCN đã thu hút thêm gần 70 ngàn lao động trực tiếp, nâng tổng số lao động
13
trực tiếp lên hơn 83 ngàn người, không kể gần 2 triệu lao động gián tiếp khác và dự
kiến vào năm 2010 tổng số lao động trong các KCN sẽ lên đến 2,5 triệu người. Điển
hình như tại Hà Nội chỉ tính 73 doanh nghiệp đi vào hoạt động đã thu hút gần
29.000 lao động bằng 38% số lao động làm việc tại các doanh nghiệp có vốn FDI
trên địa bàn, góp phần làm gia tăng chất lượng nguồn nhân lực kể cả lao
động quản
lý và kỹ năng lao động trực tiếp. Với lực lượng lao động lớn, máy móc thiết bị hiện
đại, trình độ quản lý cao sẽ tạo áp lực cho các cơ quan Nhà nước tăng cường đào tạo
nguồn nhân lực và bản thân doanh nghiệp cũng có nhiều cơ hội lựa chọn lao động.
1.2.3. Tăng kim ngạch xuất khẩu
Tập trung sản xuất với vốn đầu t
ư cao, KCN trở thành nơi cung cấp hàng
xuất khẩu nhanh cùng với tốc độ thu hút vốn đầu tư và phát triển KCN. Với điều
kiện thuận lợi về dịch vụ hạ tầng, dịch vụ phụ trợ, đầu vào, đầu ra, Nhà nước ưu đãi,
khuyến khích sản xuất hàng xuất khẩu là những điều kiện giúp tăng nhanh kim
ngạch xuất khẩu tại các KCN.
Theo quy định c
ủa KCN và KCX, các doanh nghiệp trong các KCX chủ yếu
sản xuất hàng hoá để xuất khẩu. Do đó, Kim ngạch xuất khẩu từ các KCN ngày
càng chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng kim ngạch xuất khẩu quốc gia.
Theo số liệu từ vụ quản lý KCN và KCX thuộc bộ kế hoạch đầu tư, trong
năm 2006 các doanh nghiệp trong KCN của cả nước đã tạo ra giá trị sản xuất công
nghiệp trên 16 tỷ USD (chiếm g
ần 40% tổng giá trị sản xuất của ngành công nghiệp
cả nước).
Bên cạnh đó, kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá của các doanh
nghiệp trong KCN và KCX đạt khoảng 16,3 tỷ USD (chiếm khoản 23,5% tổng kim
ngạch xuất khẩu và nhập khẩu của cả nước). Trong đó xuất khẩu đạt gần 8 tỷ USD.
Ngoài ra, hình thức xuất khẩu tại chỗ thông qua việc cung ứng nguyên liệu
của các doanh nghiệ
p trong nước cho các doanh nghiệp KCX sản xuất hàng xuất
khẩu góp phần vào quá trình nội địa hóa trong cơ cấu giá trị sản phẩm của các DN
trong KCX. Sự phát triển của các KCN và KCX còn ảnh hưởng đến quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa và hướng về xuất khẩu.
Do đặc điểm của mô hình KCN và KCX là tập trung nhiều doanh nghiệp
cùng sản xuất trên một vị trí địa lý, do đó trong quá trình sản xuất hàng xu
ất khẩu,
14
nhiều doanh nghiệp đã tận dụng lợi thế này để liên kết sản xuất, hợp tác cung ứng.
Thành phẩm của doanh nghiệp này có thể trở thành nguyên liệu của doanh nghiệp
khác.
Ngoài ra, các doanh nghiệp trong KCX còn tổ chức gia công một số công
đoạn tại một số doanh nghiệp nội địa. Những đặc điểm sản xuất trên, xét về khía
cạnh nào đó, sẽ làm tăng năng lực cạ
nh tranh trong quá trình xuất khẩu sản phẩm ra
nước ngoài.
1.2.4. Góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển kinh tế quốc dân.
Các KCN còn có tác dụng kích thích cạnh tranh, đổi mới và hoàn thiện môi
trường kinh doanh. Các doanh nghiệp trong các KCN đóng vai trò kích thích việc
cải cách và hoàn thiện thể chế kinh tế, hệ thống pháp luật, thủ tục hành chính, nhất
là thể chế tiền tệ và tín dụng, ngoại hối của các địa phương nói riêng và của cả nước
nói chung. Các doanh nghiệp này c
ũng đã góp phần làm thay đổi bộ mặt và cấu trúc
mạng lưới thương mại hàng hóa và dịch vụ xã hội.
1.2.5. Góp phần hình thành mối liên kết giữa các địa phương và nâng
cao năng lực sản xuất ở từng vùng, miền.
Các KCN đã và đang tạo điều kiện cho các địa phương phát huy thế mạnh
đặc thù của địa phương mình. Đồng thời hình thành mối liên kết, hỗ trợ phát triể
n
sản xuất trong vùng, miền và cả nước. Các KCN của Hà Nội trong tuyến hành lang
kinh tế có suất đầu tư bình quân bằng 9,8 triệu USD/DA.
Các KCN góp phần tạo ra những năng lực sản xuất mới, ngành nghề mới và
các công nghệ mới, làm cho cơ cấu kinh tế của nhiều Tỉnh, Thành phố và khu vực
toàn tuyến hành lang kinh tế nói chung từng bước chuyển biến theo hướng một nền
kinh tế công nghiệp hoàn toàn mới có hàm lượng v
ốn lớn, công nghệ cao như thiết
bị văn phòng (Canon), điện tử (Orion Hanel…) phụ tùng ô tô, xe máy, vật liệu xây
dựng, sản phẩm thép… Theo đánh giá những công nghệ đang sử dụng ở các dự án
FDI trong các KCN đều thuộc công nghệ hiện đại hơn công nghệ vốn có của nước
ta, đa số đều là những dây chuyền tự động hoá, tương đối hiện đại, một số sản phẩ
m
điện tử vi mạch… được sản xuất bằng những công nghệ tiên tiến.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét