Chuyên đề tốt nghiệp - 5 –
- Người vay lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính nên không có đủ
khả năng thanh toán nợ cho ngân hàng.
- Do thiếu thông tin về khách hàng nên ngân hàng đã cho những khách
hàng kinh doanh kém hiệu quả vay vốn, nên việc thu nợ gặp khó khăn,
đến hạn khách hàng không trả được nợ cho ngân hàng.
- Cán bộ ngân hàng bất cập về trình độ hoặc vi phạm đạo đức trong kinh
doanh, dẫn tớicho vay khống, cho vay không đúng mục đích, thẩm định
dự án đầu tư, phương án kinh doanh không chính xác.
- Giá trị tài sản đảm bảo tiền vay không đáp ứng được yêu cầu thu nợ của
ngân hàng.
- Quá trình trọng về lợi tức, đặt kì vọng về lợi tức cao hơn khoản nợ cho
vay lành mạnh.
- Các nguyên nhân khác như: người vay cố ý không trả nợ, hoặc các lý
do bất khả kháng như người vay chết hoặc mất tích.
Mức độ rủi ro tín dụng được đánh giá qua chỉ tiêu: tỉ lệ nợ quá hạn/ tổng
dư nợ; tỉ lệ nợ khó đòi/ tổng dư nợ quá hạn. Các chỉ tiêu này có kết quả
càng nhỏ thể hiện chất lương tín dụng của ngân hàng càng cao và rủi ro tín
dụng của ngân hàng thấp.
b. Rủi ro lãi suất
Lãi suất là giá cả của sản phẩm ngân hàng, nên có tác động trực tiếp tới
giá trị của tài sản Có và tài sản Nợ của Ngân hàng. Mọi sự thay đổi của lãi
suất đều có thể tác động đến việc tăng, giảm thu nhập, chi phí và lơi nhuận
của ngân hàng. Nều thu nhập từ lãi không lớn hơn chi phí về lãi thì ngân
hàng sẽ gặp rủi ro về lãi suất. Như vậy, rủi ro lãi suất là rủi ro do sự biến
động của lãi suất gây nên. Nếu ngân hàng có tài sản Nợ nhạy cảm với lãi
suất lớn hơn thì tài sản có nhạy cảm với lãi suất, thì khi lãi suất tăng lên lợi
nhuận của ngân hàng sẽ bị giảm. Ngược lại, khi lãi suất giảm sẽ làm tăng
lợi nhuận của ngân hàng.
SV: Trần Quyền
5
Chuyên đề tốt nghiệp - 6 –
Nguyên nhân chính gây rủi ro lãi suất là do sự không cân xứng giữa các
kì hạn của tài sản Nợ và tài sản Có. Nếu ngân hàng dùng tài sản Nợ ngắn
hạn để đầu tư vào tài sản Có dài hạn thì khi lãi suất ngắn hạn tăng lên,
trong khi lãi suất dầu tư vẫn giữ nguyên, ngân hàng sẽ gặp rủi ro. Ngược
lại, nếu ngân hàng dùng tài sản Nợ dài hạn để đầu tư vào tài sản Có ngắn
hạn thì khi lãi suất đầu tư giảm ngân hàng cũng có nguy cơ bị rủi ro.
Ngoài ra rủi ro lãi suất còn có thể xảy ra do các nguyên nhân khác như:
Do bất lợi trong cạnh tranh, buộc ngân hàng phải tăng lãi suât huy động và
hạ lãi suất cho vay để thu hút khácg hàng, do đó đã làm tăng chi phí và
giảm thu nhập của ngân hàng; do cung tiền tệ nhỏ hơn cầu tiền, nên ngân
hàng phải tăng lãi suất để huy động vốn, do chính sách ưu đãi trong cho
vay của nhà nước nên ngân hàng phải cắt giảm lãi suất cho vay.
c. Rủi ro thanh toán.
Rủi ro thanh khoản phát sinh khi những người gửi tiền đồng thời có nhu
cầu rút tiền gửi ở ngân hàng ngay lập tức.Trong trường hợp như vậy thì Ngân
hàng phải đi vay bổ sung nguồn vốn thanh toán hoặc phải bán tài sản có của
mình để đáp ứng nhu cầu rút tiền của người gửi tiền.Trong cơ cấu tài sản có
thì tiền mặt có độ thanh khoản cao nhất, do đó trước hết ngân hàng sẽ dùng
tiền mặt để đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng.Bởi vì tiền mặt tại quĩ
không mang lại thu nhập lãi suất, cho nên trong trường hợp bình thường, ngân
hàng chỉ duy trì một lượng tiền mặt ở mức tối ưu đủ để đáp ứng nhu cầu
thường xuyên của người gửi mà không gây ảnh hưởng đến độ thanh khoản
của ngân hàng.Trong trường hợp thiếu hụt tạm thời, ngân hàng chỉ cần đi vay
bổ sung một cách thông thường trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng.
Tuy nhiên, ngân hàng vẫn có thể đối mặt với rủi ro thanh khoản, ví dụ như
trong tình huống dân chúng mất lòng tin vào ngân hàng, hoặc nhu cầu rút tiền
có tính chất thời vụ mà ngân hàng không dự tính được đòi hỏi ngân hàng phải
chi trả tức thời một khoản tiền lớn hơn bình thường.Trong bối cảnh đó, hầu
hết các ngân hàng đều phải đối phó với tình huống tương tự, thì chi phí để huy
SV: Trần Quyền
6
Chuyên đề tốt nghiệp - 7 –
động vốn bổ sung tăng lên đáng kể do lượng vốn cung ứng trên thị trường
giảm.Hậu quả là, Ngân hàng phải bán một số tài sản có độ thanh khoản thấp
để đáp ứng nhu cầu rút tiền của người gửi.Điều này khiến cho ngân hàng gặp
phải rủi ro thanh khoản nghiêm trọng và buộc phải bán tháo ngay số tài sản
khó chuyển nhượng với giá rẻ.Do bán khẩn cấp một số tài sản với giá thấp
khiến cho khả năn thanh toán cuối cùng của ngân hàng bị đe doạ.Trong
trường hợp rủi ro thanh khoản ngày càng nghiêm trọng, nếu tất cả mọi người
gửi tiền đồng loạt rút tiền thì dẫn đến ngân hàng phải đối mặt với rủi ro phá
sản.
d. Rủi ro hoạt động ngoại bảng.
Một xu hướng đang phát triển mạnh mẽ trong hoạt động của các ngân hàng
hiện đại là việc mở rộng các hoạt động ngoại bảng.Hoạt động ngoại bảng là
các hoạt động không thuộc bảng cân đối tài sản(nội bảng), bởi vì các hoạt
động này không liên quan đến việc nắm giữ các chứng khoán hay giấy nhận
nợ hoặc ngân hàng phát hành các chứng khoán.Tuy nhiên, các hoạt động
ngoại bảng có ảnh hưởng đến trạng thái tương lai của bảng cân đối tài sản, bởi
vì các hoạt động ngoại bảng có thể tạo ra những tài sản có và tài sản nợ bổ
sung cho bảng cân đối nội bảng.
Xuất phát từ tính chất của các hoạt động ngoại bảng là ngân hàng thu được
phí trong khi không phải sử dụng đến vốn kinh doanh cho nên đã khuyến
khích phát triển các hoạt động ngoại bảng này càng phát triển.Tuy nhiên,
những hoạt động này cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro, khiến cho ngân hàng phải sử
dụng vốn kinh doanh của mình để trang trải những chi phí ngoại bảng.Trong
trường hợp thua lỗ nghiêm trọng trong hoạt động ngoại bảng là nguyên nhân
chính khiến cho ngân hàng có thể bị phá sản.
e. Rủi ro hối đoái.
Rủi ro hối đoái là rủi ro do sự biến động của tỷ giá hối đoái gây nên. Những
rủi ro này có thể phát sinh trong tất cả các nghiệp vụ có liên quan đến ngoại tệ
SV: Trần Quyền
7
Chuyên đề tốt nghiệp - 8 –
của ngân hàng như: Cho vay, huy động vốn bằng ngoại tệ; Mua bán ngoại tệ;
đầu tư chứng khoán bằng ngoại tệ…
Trong các giao dịch ngoại hối và trong cân đối tài sản bằng ngoại tệ của
ngân hàng, bất cứ một trạng thái ngoại hối” trường” hay “đoản” đều có thể
gặp rủi ro hối doái khi tỷ giá ngoại tệ thay đổi. Nếu ngân hàng ở trạng thái
ngoại tệ trường thì khi ngoại tệ tăng giá ngân hàng sẽ có lãi, ngược lại ngân
hàng sẽ bị lỗ khi ngoại tệ đó xuống giá. Nếu ngân hàng ở trạng thái đoản về
một loại ngoại tệ nào đó , khi ngoại tệ lên giá ngân hàng sẽ bị lỗ và ngược lại.
Như vậy, việc tạo ra các trạng thái ngoại tệ”trường” hay “đoản” chính là
nguyên nhân gây rủi ro hối đoái cho ngân hàng.Đây chính là kết quả của việc
ngân hàng thực hiện các giao dịch ngoại tệ phục vụ cho khách hàng và cho
chính bản thân mình, hoặc ngân hàng huy động vốn bằng ngoại tệ và đầu tư
vào các tài sản có bằng ngoại tệ.
f. Rủi ro công nghệ và hoạt động.
Trong thời đại ngày nay, đổi mới công nghệ ngân hàng đã trở thành chủ đề
được các ngân hàng quan tâm hơn bao giờ hết.Mục tiêu để phát triển công
nghệ ngân hàng nhằm giảm chi phí bình quân trên một đơn vị sản phẩm:
- Nhờ mở rộng qui mô hoạt động của ngân hàng;
- Nhờ tăng cường khai thác tiềm năng của công nghệ ngân hàng;
Hiệu quả kinh tế nhờ mở rộng quy mô hoạt động bao hàm khả năng ngân
hàng đã hạ thấp được giá thành hoạt động bình quân bằng cách mở rộng đầu
ra của các dịch vụ tài chính do ngân hàng cung cấp.Hiệu quả do tăng cường
khai thác tiềm năng công nghệ bao hàm khả năng của ngân hàng với các dịch
vụ của ngân hàng với quy mô công nghệ nhất định có thể cung cấp nhiều hơn
các dịch vụ khác nhau cho khách hàng.
Rủi ro công nghệ phát sinh khi những khoản đầu tư cho phát triển công
nghệ không tạo ra được khoản tiết kiệm trong chi phí như đã dự tính khi mở
rộng quy mô hoạt động.Tính không hiệu quả trong đầu tư công nghệ phát sinh
trong trường hợp: dung lượng đầu tư quá lớn dẫn đến công nghệ không sử
SV: Trần Quyền
8
Chuyên đề tốt nghiệp - 9 –
dụng đến và hậu qủa là tổ chức bộ máy trở nên quan liêu kém hiệu quả, hoặc
qui mô hoạt động không được mở rộng mặc dù đã đầu tư công nghệ mới Rủi
ro hoạt động và rủi ro công nghệ có mối liên hệ chặt chẽ, và có thể phát sinh
bất cứ khi nào nếu hệ thống công nghệ bị trục trặc hoặc là khi hệ thống hỗ trợ
bên trong ngừng hoạt động, điều đó có thể làm khả năng cạnh tranh của ngân
hàng giảm xuống đáng kể và là nguyên nhân phá sản của ngân hàng trong
tương lai.
g. Các loại rủi ro khác.
Ngoài những rủi ro cơ bản trên hoạt động ngân hàng còn chịu những rủi ro
khác như:
- Rủi ro môi trường: là rủi ro do môi trường hoạt động của ngân hàng
gây nên, bao gồm: rủi ro do sự biến động của thiên nhiên (lũ lụt, động
đất), rủi ro về kinh tế (khủng hoảng, suy thoái kinh tế), rủi ro do sự thay
đổi chính sách pháp luật của nhà nước gây bất lợi cho ngân hàng. Rủi
ro môi trường là những rủi ro mà ngân hàng khó kiểm soát được, chũng
có thể làm suy yếu khả năng chịu đựng rủi ro của ngân hàng hoặc gây
cho ngân hàng những thiệt hại về tài chính.
- Các rủi ro khác : rủi ro hoạt động, rủi ro quốc gia, rủi ro pháp lý….
1.2 Nợ quá hạn trong kinh doanh tín dụng của ngân hàng.
1.2.1 Khái niệm nợ quá hạn
Nợ quá hạn là hiện tượng đến thời hạn thanh toán các khoản nợ, người đi
vay không có khả năng thực hiện ngay nghĩa vụ của mình đối với người cho
vay. Nợ quá hạn trước hết vi phạm đặc trưng cơ bản của tín dụng là tính thời
hạn. Sau nữa, nợ quá hạn có thể dẫn đến sự vi phạm đặc trưng tiếp theo là:
tính hoàn trả, gây nên sự đổ vỡ lòng tin của người cấp tín dụng đối với người
nhận tín dụng. Một khoản tín dụng được cấp luôn luôn xác định về mặt thời
gian và giá trị hoàn trả( gốc và lãi).Nợ quá hạn phát sinh khi đáo hạn, người
vay không có khả năng trả một phần hay toàn bộ khoản vay. Nợ quá hạn là
SV: Trần Quyền
9
Chuyên đề tốt nghiệp - 10 –
biểu hiện của rủi ro tín dụng, có thể gây cho ngân hàng rủi ro đọng vốn (khách
hàng chậm trả), hoặc rủi ro mất vốn (khách hàng không trả được nợ).
1.2.2 Phân loại nợ quá hạn.
* Căn cứ vào thời gian
Theo Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN nợ quá hạn được chia thành 5
nhóm:
+ Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày: được xếp vào các khoản nợ nhóm
1(Nợ đủ tiêu chuẩn).
+ Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày: được xếp vào nợ nhóm 2
(Nợ cần chú ý).
+ Các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày: được xếp vào nợ nhóm 3(Nợ
dưới tiêu chuẩn).
+ Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày: được xếp vào nợ nhóm 4
(Nợ nghi ngờ).
+ Các khoản nợ quá hạn trên 361 ngày: được xếp vào nợ nhóm 5 (Nợ có
khả năng mất vốn).
* Căn cứ vào khả năng thu hồi, nợ quá hạn được chia làm 3 loại:
+ Nợ quá hạn thu hồi được 100%
+ Nợ quá hạn thu hồi được một phần.
+ Nợ quá hạn mất trắng.
* Căn cứ vào mức độ đảm bảo, nợ quá hạn được chia làm 3 loại:
+ nợ quá hạn được đảm bảo hoản toàn.
+ Nợ quá hạn được đảm bảo một phần.
+ Nợ quá hạn không được đảm bảo.
1.2.3 Các dấu hiệu của khoản vay thể hiện nguy cơ quá hạn.
(Xem phụ lục)
SV: Trần Quyền
10
Chuyên đề tốt nghiệp - 11 –
1.2.4 Nguyên nhân phát sinh nợ quá hạn.
1.2.4.1 Nguyên nhân chủ quan làm phát sinh nợ quá hạn.
a. Sự quản lý yếu kém của ngân hàng.
Sự quản lý yếu kém của ngân hàng luôn đi đôi với tình trạng nợ quá hạn
cao.Sơ hở trong khâu kiểm tra, xét duyệt hồ sơ khách hàng hoặc phân tích tín
dụng dẫn đến chấp nhận các khách hàng rủi ro quá mức chắc chắn sẽ phải
chấp nhận tỷ lệ nợ quá hạn cao vào một ngày nào đó. Điều này có thể nhận
thấy rõ ràng khi ta thực hiện một phép phân tích đơn giản đối với danh mục
tín dụng của Ngân hàng thương mại Việt Nam. Sự tập trung tín dụng quá mức
vào một khu vực khách hàng, sự thiếu vắng các biện pháp điều chỉnh danh
mục tín dụng trước các diễn biến kinh tế vĩ mô bất lợi, thiếu hệ thống các
chuẩn mực đánh giá khách hàng và những rủi ro đạo đức tiềm năng chính là
những yếu tố chủ yếu đẩy ngân hàng thương mại rơi vào tình trạng nợ quá hạn
cao.
b. Quy trình nghiệp vụ ngân hàng còn thiếu chặt chẽ, thiếu đồng bộ.
Do qui trình nghiệp vụ thiếu chặt chẽ dẫn đến việc khách hàng lợi dụng lừa
đảo, chiếm dụng vốn của ngân hàng. Chính sách cho vay không phù hợp với
đặc điểm thực trạng nên kinh tế có thể dẫn đến hậu quả tỷ lệ nợ quá hạn tăng
cao.Thực tế cho thấy, sự hoạt dộng của một ngân hàng dựa trên cơ sở chính
sách tín dụng, nhất quán hợp lý có hiệu quả hơn là dựa vào kinh nghiệm và
trao quyền quyết định cho một cá nhân lãnh đạo. Một chính sách cho vay
không đồng bộ, thiếu tính thống nhất có thể là nguyên nhân tiềm ẩn rủi ro cho
ngân hàng.
Ngoài ra, sự chậm trễ trong việc sửa đổi các quy định tín dụng chưa hoặc
không còn phù hợp với điều kiện thực tế cũng làm cho ngân hàng gặp phải
khó khăn khi xử lý tài sản đảm bảo cho các khoản vay.Ví dụ, đối với các
khoản cho vay dựa trên tài sản đảm bảo là bất động sản, việc định giá tài sản
cao hơn giá trị thị trường, thiêu chính xác (không tính đến khả năng rủi ro thị
SV: Trần Quyền
11
Chuyên đề tốt nghiệp - 12 –
trường bất động sản đóng băng) thì việc xử lý tài sản đảm bảo kó khăn, kéo
dài dây dưa, phát sinh nhiều tốn kém cho ngân hàng.
Với chính sách mở rộng tín dụng để chiếm thị phần, các Ngân hàng thương
mại có thể đơn giản hoá các thủ tục cho vay, hạ thấp các tiêu chuẩn đánh giá
khách hàng, tìm cách lách hàng rào kiểm soát, thông tin sai lệch nên dễ gặp
phải rủi ro. Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt,một số ngân hàng
còn coi đây là cách để thu hút khách hàng.
c. Hệ thống pháp luật chưa đầy đủ và đồng bộ.
Hệ thống pháp luật của Việt Nam vừa thiếu vừa không ổn định đôi khi
lại không rõ ràng nên đôi khi có kết luận rồi mà vẫn không áp dụng được, gây
khó khăn cho ngân hàng.
Chính sách của ngành ngân hàng hay thay đổi.Nhiều vấn đề thực tế phát
sinh nhưng chưa có qui định điều chỉnh kịp thời.
d. Cơ chế trích lập và sử dụng quĩ dự phòng rủi ro không hợp lý.
Sự bất hợp lý trong việc trích lập và sử dụng quĩ dự phòng rủi ro của Ngân
hàng thương mại là một trong những nguyên nhân quan trọng làm cho các
khoản nợ xấu không được xử lý dứt điểm.Chẳng hạn, trước đây Việt Nam qui
định cơ chế trích lập quĩ DPRR từ nguồn lợi nhuận sau khi nộp ngân sách đã
không đủ để đáp ứng nhu cầu của các Ngân hàng thương mại bù đắp những
tổn thất phát sinh trong quá trình hoạt động.Điều đó dẫn tới tỉ lệ nợ quá hạn và
nợ xấu của các Ngân hàng thương mại vẫn ở mức quá cao so với tiêu chuẩn
đề ra.
e. Trình độ nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ tín dụng ngân hàng còn non
kém.
Cán bộ tín dụng NH chưa được đào tạo đầy đủ, không am hiểu về khía
cạnh kinh tế-kỹ thuật của dự án, của ngành kinh doanh mà NH đầu tư, không
đủ năng lực thẩm định một cách đầy đủ, toàn diện và khoa học dẫn đến xác
định sai hiệu quả của dự án, khả năng trả nợ của người vay. Việc không am
hiểu về pháp luật cũng có thể dẫn đến các khoản vay không bảo đảm yếu tố
SV: Trần Quyền
12
Chuyên đề tốt nghiệp - 13 –
pháp lý, không bảo đảm được quyền lợi cho NH khi xảy ra tranh chấp trước
pháp luật.
f. Cơ cấu cho vay không hợp lý
Lợi nhuận của ngân hàng Việt Nam chủ yếu là từ mảng tín dụng.Dư nợ
cho vay chiếm 60-80% tổng tài sản có của mỗi Ngân hàng thương mại.Trong
đó, tín dụng ngắn hạn chiếm trên 70% tổng dư nợ nên rủi ro rất cao.Nguồn lợi
nhuân thu từ mảng dịch vụ khách hàng chỉ chiếm 20-30%.
Việc quản lý tín dụng vẫn theo kiểu truyền thống quá chú trọng đến tài sản
đảm bảo là bất động sản, đất trong khi thị trường bất động sản Việt Nam chứa
nhiều bất ổn.
g. Một số nguyên nhân khác.
Cạnh tranh giữa các ngân hàng trong hoạt động tín dụng
Qui mô ngân hàng nhỏ bé nên không có điều kiện: vốn, mạng lưới… để cải
tiến, áp dụng khoa học công nghệ hiện đại theo tiêu chuẩn quốc tế nên rủi ro
cao dễ phát sinh nợ quá hạn.
Thị trường bảo hiểm chưa phát triển: các loại hình bảo hiểm cho các loại
tín dụng hầu như chưa có.
1.2.4.2 Nguyên nhân khách quan làm phát sinh nợ quá hạn.
a. Khách hàng gặp rủi ro trong kinh doanh.
Nguyên nhân bất khả kháng như thiên tai, lũ lụt, hoả hoạn…
Nhóm nguyên nhân bất khả kháng đối với con nợ như: Biến động thị trường,
thay đổi lãi suất, tỷ giá, ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế khu vực, biến động
chính trị và những thay đổi về chính sách vĩ mô ở nước con nợ
Trong những năm trước đây, tồn tại các hoạt động cho vay theo sự chỉ định
của chinh phủ, theo kế hoạch của nhà nước đã gây rủi ro lớn cho các Ngân
hàng thương mại nước ta.
Chính sách cơ chế không ổn định, hay thay đổi trong thời gian chuyển đổi
nên kinh tế từ tập trung quan liêu sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà
SV: Trần Quyền
13
Chuyên đề tốt nghiệp - 14 –
nước với những biện pháp vừa làm vừa sửa đã gây rủi ro lớn cho Ngân hàng
thương mại và các con nợ.
b. Môi trường pháp lý chưa đầy đủ.
Kẽ hở trong luật sẽ tạo điều kiên cho khách hàng tìm cách lừa đảo, chiếm
dụng vốn của ngân hàng, chây ỳ không trả nợ hoặc gây khó khăn cho quá
trình xử lý nợ xấu của ngân hàng.
Kinh tế thị trường ngày càng phát triển, nhiều lĩnh vực ngành nghề Luật
còn chưa đề cập tới hợăc còn đang dự thảo nên gây khó khăn ch họt động của
ngân hàng.Nhiều luật còn gây tranh cãi khiễn các cơ quan có thẩm quyền
đứng ra xét xử còn lúng túng, chưa minh bạch…
c. Các khoản cho vay theo chỉ định của chinh phủ.
Chính phủ mỗi quốc gia sẽ chỉ định Ngân hàng thương mại cho vay để
thực hiện chính sách phát triển của đất nước.Hầu hết các khoản cho vay này
các Ngân hàng thương mại không đủ cơ sở để tự quyết định cho vay hoặc quá
thẩm quyền phán quyết, Chính vì vậy khoản cho vay này co hiệu quả thấp, độ
rủi ro cao và khả năng đảm bảo cho khoản vay của khách hàng rất hạn chế.
1.2.5 Tác động của nợ quá hạn.
1.2.5.1 Đối với ngân hàng.
Nợ quá hạn gây ứ đọng vốn làm mất vốn kinh doanh của Ngân hàng
thương mại.Nợ quá hạn làm chậm vòng quay vốn, giảm tốc độ chu chuyển
vốn, làm giảm hiệu quả hoạt động và hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
Nợ quá hạn làm giảm, thậm chí làm mất khả năng thanh toán của ngân
hàng và có thể dẫn tới sự sụp đổ của ngân hàng.
Nợ quá hạn làm tăng chi phí, giải quyết, đồng thời làm giảm khả năng
cạnh tranh cũng như uy tín của ngân hàng, làm ảnh hưởng tới các hoạt động
kinh doanh khác.
SV: Trần Quyền
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét