Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Rào cản phi thuế quan trong thương mại của Mỹ đối với hàng thủy sản xuất khẩu từ Việt Nam và giải pháp để vượt qua các rào cản đó

Chuyên đề tốt nghiệp
Hiện nay có nhiều quan niệm về hàng rào phi thuế quan, Tổ chức Hợp tác và
Phát triển kinh tế (OCED) năm 1997 đã định nghĩa: “Hàng rào phi thuế quan là
những biện pháp biên giới nằm ngoài phạm vi thuế quan có thể được các quốc gia sử
dụng, thông thường dựa trên cơ sở lựa chọn nhằm hạn chế nhập khẩu”.
Tương tự như vậy, cơ sở hệ thống dữ liệu của Hệ thống phân tích và Thông tin
Thương mại (TRAINS) của UNCTAD chủ yếu tính đến các biện pháp biên giới.
Phương pháp tiếp cận này bỏ qua phần lớn những biện pháp liên quan đến xuất khẩu
và việc mua sắm của Chính Phủ (như nguyên tắc về hàm lượng giá trị trong nước,
các khoản trợ cấp, giảm thuế, các biện pháp biên giới về phân biệt đối xử và biện
pháp tư nhân chống cạnh tranh). Thực tế, phương pháp tiếp cận về những biện pháp
biên giới được áp dụng nhiều hơn vì các lý do tình thế chứ không phải các tính toán
nghiêm khắc, trí tuệ.
Nghiên cứu của PECC (Hội đồng hợp tác kinh tế Thái Bình Dương) năm 1995
mô tả “các hàng rào phi thuế quan là mọi công cụ phi thuế quan can thiệp vào thương
mại bằng cách này làm biến dạng sản xuất trong nước”. (theo nghiên cứu của tiến sĩ
Nguyễn Hữu Khải- Hàng rào phi thuế quan trong thương mại quốc tế)
Các hàng rào phi thuế quan không nên được xem như một sự đồng nghĩa với
các biện pháp phi thuế quan, mà nên coi là tập hợp một số biện pháp phi thuế quan.
Tất cả các hàng rào phi thuế quan đều là các biện pháp phi thuế quan, song không
phải tất cả các biện pháp phi thuế quan là các hàng rào phi thuế quan. Các biện pháp
phi thuế quan có thể bao gồm các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu, chúng không phải là
rào cản với thương mại. Chính phủ cũng thường dùng thuật ngữ có vẻ trung lập này
để mô tả những biện pháp được sử dụng để quản lý nhập khẩu với mục đích hợp
pháp (ví dụ các thủ tục bảo đảm thực vật được quốc tế công nhận).
Trong thực tế, việc xác định những biện pháp phi thuế quan nào là các hàng rào
phi thuế quan khá khó khăn. Mục đích sử dụng các công cụ, chính sách là quan trọng,
song có những chính sách, biện pháp mà tác dụng của chúng không thể được xác
Chuyên đề tốt nghiệp
định, nếu không có sự điều tra kỹ lưỡng về kết quả, bản chất và hoạt động thực sự
của chúng.
Các hàng rào phi thuế quan là một tập hợp thay thế của các biện pháp phi thuế
quan. Các biện pháp phi thuế quan phải có mục đích bảo vệ sản xuất trong nươc và
không được chấp nhận như một phương sách điều chỉnh chính thống trên phạm vi
quốc tế (như các hạn chế kiểm dịch).
Bên cạnh các định nghĩa đã đề cập đến, theo WTO (tổ chức thương mại quốc
tế): “Biện pháp phi thuế quan là những biện pháp ngoài thuế quan, liên quan hoặc
ảnh hưởng đến sự luân chuyển hàng hóa giữa các nước” (theo nghiên cứu của tiến sĩ
Nguyễn Hữu Khải- Hàng rào phi thuế quan trong thương mại quốc tế)
Từ đó, WTO xây dựng về hàng rào phi thuế quan như sau: “Hàng rào phi thuế
quan là những biện pháp phi thuế quan mang tính cản trở đối với thương mại mà
không dựa trên cơ sở pháp lý, khoa học hoặc bình đẳng”.
Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng, thuật ngữ rào cản hay hàng rào, biện pháp
phi thuế quan tuy được sử dụng khá phổ biến nhưng hiện nay chưa có một định nghĩa
rõ ràng, chính thống nào được chấp nhận trên toàn thế giới. Đây là vấn đề rất phức
tạp vì hiện nay trên thế giới còn rất nhiều loại rào cản tinh vi, và xuất hiện ở hầu hết
mọi lĩnh vực sản xuất kinh doanh.
Trong đề tài này, để thống nhất trong việc nghiên cứu, tôi lựa chọn khái niệm
rào cản phi thuế quan, theo cách hiểu chung nhất, là bất kỳ biện pháp hay hành động
nào gây cản trở đối với thương mại quốc tế.
1.2. Phân loại các biện pháp phi thuế quan
Hiện nay cũng chưa có tài liệu nghiên cứu nào được thống nhất trên toàn thế
giới đề cập tới phân loại các rào cản phi thuế quan vì khái niệm và nội hàm của rào
cản chỉ có tính chất tương đối. Chẳng hạn, biện pháp phi thuế quan sẽ không là rào
Chuyên đề tốt nghiệp
cản nếu nó không đặt quá mức cần thiết và không vi phạm nguyên tắc đối xử quốc
gia, nhưng nó sẽ trở thành hàng rào phi thuế quan nếu như nó gây trở ngại tới thương
mại quốc gia khác.
Tuy nhiên, có cách phân loại hiện nay được áp dụng khá phổ biến là dựa theo
các quy định của WTO-tổ chức thương mại thế giới như sau:
1.2.1.Những biện pháp phi thuế quan không phù hợp với quy định của WTO
Các biện pháp phi thuế quan thuộc nhóm này hoặc là vi phạm rõ ràng quy định
của WTO (ví dụ áp dụng giá nhập khẩu tối thiểu để xác định trị giá tính thuế hải
quan) hay chỉ là phù hợp trong những trường hợp đặc biệt (ví dụ cấm nhập khẩu hàng
hóa có hại cho môi trường). Nhóm này bao gồm tất cả các biện pháp hạn chế nhập
khẩu sau đây:
1.2.1.1.Các biện pháp quản lý định lượng
a. Các trường hợp ngăn cấm bao gồm:
• Cấm hoàn toàn: trừ trường hợp đối với lý do môi trường, sức khỏe, thuần
phong mỹ tục, an ninh quốc gia
• Ngừng cấp giấy phép nhập khẩu
• Cấm theo mùa
• Cấm tạm thời
• Cấm trên cơ sở nguồn gốc (cấm vận)
• Cấm đối với hạng mục sản phẩm nhạy cảm
b. Quản lý bằng hạn ngạch
Chuyên đề tốt nghiệp
Hạn ngạch là quy định của Nhà nước về số lượng hoặc giá trị một mặt hàng
nào đó được nhập khẩu nói chung hoặc từ một thị trường nào đó, trong một thời gian
nhất định.
• Hạn ngạch toàn cầu
- Không xác định
- Xác định đối với các thành phần xuất khẩu
• Hạn ngạch song phương
• Hạn ngạch theo mùa
• Hạn ngạch liên quan đến thực hiện xuất khẩu
• Hạn ngạch liên quan đến bán hàng hóa nội địa
• Hạn ngạch của các hạng mục sản phẩm nhạy cảm
c. Cấp phép không tự động
Được xác định như là các thủ tục hành chính được sử dụng để thực hiện chế độ
cấp phép nhập khẩu, đòi hỏi đệ trình đơn hay các tài liệu khác (không liên quan tới
mục đích hải quan) tới các cơ quan hành chính thích hợp là điều kiện tiên quyết để
được phép nhập khẩu.
• Giấy phép không có tiêu chuẩn thanh toán cụ thể
• Giấy phép đối với người mua chọn lọc
• Giấy phép đối với việc sử dụng cụ thể:
- Liên quan tới hoạt động xuất khẩu
- Đối với mục đích ngoài xuất khẩu
Chuyên đề tốt nghiệp
• Giấy phép liên quan đến nội địa hóa
- Mua hàng hóa trong nước
- Yêu cầu tỷ lệ nội địa hóa
- Thương mại hàng đổi hàng hay mua bán đối lưu
• Giấy phép liên quan đến giao dịch ngoại hối không chính thức
- Chuyển đổi ngoại tệ bên ngoài
- Chuyển đổi ngoại tệ của chính các nhà nhập khẩu
d.Các thỏa thuận hạn chế xuất khẩu
Các hạn chế được đặt ra bởi các nước nhập khẩu nhưng được nước xuất khẩu
quản lý:
• Các thỏa thuận hạn chế xuất khẩu tự nguyện
• Các thỏa thuận tiếp thị có trật tự
• Thỏa thuận liên quan đến hiệp định đa sợi MFA
- Thỏa thuận hạn ngạch
- Thỏa thuận tư vấn
- Thỏa thuận hợp tác hành chính
• Thỏa thuận hạn chế xuất khẩu ngành hàng dệt may ngoài Hiệp định đa sợi
MFA
1.2.1.2. Các biện pháp tương đương thuế quan
Chuyên đề tốt nghiệp
Được định nghĩa như những biện pháp làm tăng chi phí theo cách tương tự đối
với các biện pháp thuế quan. Bao gồm:
• Phụ phí hải quan: Đây là loại chi phí thu thêm của chủ hàng phục vụ cho công
tác quản lý, làm thủ tục của Hải quan. Phụ phí Hải quan còn được hiểu là phí
thu thêm của hoặc bổ sung thêm, là một phương tiện chính sách thương mại
độc lập để tăng thu nhập tài chính hoặc bảo hộ công nghiệp trong nước.
• Thuế và chi phí bổ sung: Chi phí bổ sung bao gồm các loại thuế và lệ phí khác
nhau đặt ra đối với hàng hóa nhập khẩu cũng giống như với phụ phí hải quan
được đặt ra nhằm mục đích tăng thêm một phần thu nhập ngân sách chủ yếu
phục vụ công tác hành thu. Nhưng mặt khác còn có ý nghĩa bảo hộ như một
loại rào cản phi thuế quan khác gồm một số loại cơ bản sau: Thuế đối với các
giao dịch chuyển đổi ngoại tệ; thuế gián tem; lệ phí giấy phép nhập khẩu; lệ phí
hóa đơn lãnh sự; thuế thống kê; thuế đối với các phương tiện vận tải…
• Định giá hải quan theo quy định: Định giá hải quan theo quy định làm biến đổi
thuế theo giá hàng hóa thành một dạng thuế đặc biệt. Biện pháp này được đưa
ra như một phương tiện để tránh gian lận hoặc bảo vệ công nghiệp trong nước.
1.2.1.3. Các biện pháp tài chính
Các biện pháp quy định sự tham gia và chi phí của việc chuyển đổi ngoại tệ đối
với việc nhập khẩu và xác định các điều kiện thanh toán.
• Các yêu cầu thanh toán trước: thanh toán trước các giá trị giao dịch nhập khẩu
trong một thời gian cho phép trước khi nhập khẩu và/hoặc thuế nhập khẩu liên
quan được yêu cầu tại thời điểm giao dịch hoặc cấp giấy phép nhập khẩu:
- Yêu cầu giới hạn tiền mặt: Nghĩa vụ gửi toàn bộ số tiền liên quan đến giá
trị giao dịch hoặc một phần được xác định của số tiền đó trong ngân hàng
Chuyên đề tốt nghiệp
ngoại thương trước khi mở thư tín dụng. Việc thanh toán có thể được yêu
cầu bằng ngoại tệ
- Tiền gửi có thể trả lại đối với các hạng mục sản phẩm nhạy cảm: Việc gửi
lại tiền gửi là chi phí được trả lại khác khi các thùng hàng hoặc các sản
phẩm đã sử dụng được trả lại hệ thống giao nhận
• Tỷ giá hối đoái đa dạng
• Xác định tỷ giá hối đoái chính thức hạn chế, Ủy quyền ngân hàng
• Yêu cầu giao lại chuyển đổi ngoại tệ
• Các quy định liên quan đến điều kiện chi trả đối với nhập khẩu: Các quy định
cụ thể liên quan đến các điều kiện thanh toán của quá trình nhập khẩu và việc
đạt được và sử dụng tín dụng (nước ngoài và trong nước) đối với vấn đề nhập
khẩu tài chính.
• Trì hoãn chuyển giao xếp hàng
1.2.1.4. Các biện pháp liên quan đến doanh nghiệp
• Các hạn chế đối với công ty cụ thể (đầu mối xuất nhập khẩu)
- Hạn ngạch đối với công ty cụ thể
- Phê chuẩn chọn lọc các nhà nhập khẩu
• Các biện pháp độc quyền: các biện pháp tạo nên một tình huống độc quyền,
bằng cách đưa ra các quyền riêng biệt cho một hoặc một nhóm hạn chế các nhà
kinh doanh vì những lí do xã hội tài chính hoặc kinh tế. Bao gồm
- Kênh nhập khẩu duy nhất: tất cả việc nhập khẩu hoặc việc nhập khẩu một
loại hàng hóa chọn lọc phải thông qua các cơ quan nhà nước hoặc các doanh
Chuyên đề tốt nghiệp
nghiệp do nhà nước quản lý. (đôi khi các khu vực tư nhân cũng có những
quy định nhập khẩu riêng biệt). Bao gồm: quản lý doanh nghiệp thương mại
nhà nước; Cơ quan nhập khẩu duy nhất.
- Các dịch vụ quốc gia bắt buộc: các quyền riêng biệt được chính phủ thừa
nhận về bảo hiểm quốc gia và các công ty vận tải biển đối với toàn bộ hoặc
một phần cụ thể của việc nhập khẩu. Bao gồm: bảo hiểm quốc gia bắt buộc,
vận tải quốc gia bắt buộc.
1.2.1.5. Các biện pháp liên quan đến đầu tư
Do quan điểm, mục đích khác nhau giữa các nước phát triển và đang phát triển
về đầu tư nước ngoài, theo đó các quốc gia đang phát triển không muốn thông qua
đầu tư nước ngoài lại làm thị trường nước sở tại bị lũng đoạn. Do vậy, các nước này
thường đặt ra một loạt các biện pháp có thể coi như rào cản phi thuế quan nhằm hạn
chế những tác động mà họ coi là bất lợi như:
• Quy định về tỷ lệ nội địa hóa: ví dụ như năm 1999 Thái Lan đặt ra tỷ lệ nội địa
đối với xe 4 chỗ ngồi là 54%; xe tải nhẹ từ 65 đến 80%
• Quy định về tỷ lệ ngoại hối: ví dụ như Trung Quốc và Thái Lan thường yêu cầu
các công ty nước ngoài phải đảm bảo một tỷ lệ ngoại hối thu được hợp lý giữa
nguồn thu qua xuất khẩu và các nguồn thu khác…
1.2.2. Những biện pháp phù hợp với quy định của WTO nhưng không được
mang tính bảo hộ
Các biện pháp thuộc nhóm này là các biện pháp hạn chế nhập khẩu dựa trên
những tiêu chuẩn rõ ràng được thừa nhận nhưng không mang tính chất bảo hộ
• Các biện pháp kỹ thuật: là các biện pháp đề cập đến sản phẩm có đặc trưng liên
quan đến vấn đề kỹ thuật như chất lượng, an toàn, kích cỡ, trong đó bao gồm
Chuyên đề tốt nghiệp
các điều khoản hành chính như thuật ngữ, ký hiệu, thử nghiệm, đóng gói, đóng
dấu và các yêu cầu dán nhãn.
• Các quy định kỹ thuật: các quy định đưa ra các yêu cầu kỹ thuật, trực tiếp hoặc
bằng việc đề cập đến hoặc kết hợp nội dung của việc định rõ kỹ thuật, tiêu
chuẩn hoặc mã số thực hiện để bảo vệ sức khỏe con người (quy định vệ sinh);
bảo vệ sức khỏe thực vật (quy định vệ sinh thực vật); bảo vệ môi trường hoang
dã; bảo đảm an toàn con người; bảo đảm an ninh quốc gia, ngăn ngừa các hoạt
động gian lận. Bao gồm như sau:
- Các yêu cầu đặc trưng của sản phẩm
- Yêu cầu về ghi ký mã hiệu: các biện pháp xác định thông tin quy định việc
đóng gói hang hóa phải được thực hiện cho việc vận chuyển; hải quan( nước
xuất xứ, cân nặng, ký mã hiệu…)
- Yêu cầu về nhãn mác: các biện pháp quy định loại hình kích cỡ của việc in
gói hàng hoặc và xác định thông tin nên được cung cấp cho khách hàng
- Yêu cầu đóng gói: Các biện pháp quy định về cách thức hàng hóa phù hợp
với nước nhập khẩu về việc điều khiển thiết bị hoặc các lý do khác và xác
định nguyên liệu đóng gói được sử sụng.
- Thử nghiệm, kiểm tra và yêu cầu kiểm dịch: Thử nghiệm bắt buộc các mẫu
sản phẩm bởi một phòng thí nghiệm được ủy quyền trong nước nhập khẩu,
kiểm tra hàng hóa bởi các cơ quan thẩm quyền về sức khỏe trước khi ra khỏi
hải quan hoặc các yêu cầu kiểm dịch đối với động thực vật sống.
• Kiểm tra trước khi xếp hàng lên tàu: Quản lý chất lượng, số lượng và giá cả
bắt buộc của hàng hóa trước khi di chuyển hàng từ nước xuất khẩu, có hiệu lực
bởi một cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu ủy thác. Quản lý giá nhằm
Chuyên đề tốt nghiệp
mục đích tránh dưới mức và trên mức hóa đơn do đó thuế hải quan không bị
trốn tránh hoặc chuyển đổi ngoại tệ không bị thất thoát
1.2.3. Những biện pháp phù hợp với quy định của WTO nhưng mang tính bảo
hộ
Đây là các biện pháp có tính bảo hộ sản xuất trong nước nhưng được các tổ
chức thương mại quốc tế thừa nhận. Các biện pháp thuộc nhóm này được gọi là các
biện pháp bảo vệ thương mại tạm thời. Bao gồm:
• Các biện pháp chống bán phá giá: Các biện pháp chống bán phá giá là quy định
về mức thuế nhập khẩu đặc biệt khi giá hàng hóa của nước xuất khẩu bán phá
giá vào nước nhập khẩu.
- Điều tra chống bán phá giá
- Thuế chống bán phá giá
- Cam kết giá cả
• Các biện pháp chống trợ cấp: đánh thuế nhập khẩu đặc biệt để chống trợ cấp
của chính phủ nước ngoài đối với mặt hàng này. Bao gồm:
- Điều tra chống trợ cấp
- Thuế chống trợ cấp
- Cam kết giá cả
1.2.4. Các biện pháp chưa có quy định cụ thể của các tổ chức thương mại quốc
tế.
Các biện pháp thuộc nhóm này là những biện pháp rất khó xác định có phù hợp
hay không phù hợp với các quy định của tổ chức thương mại quốc tế. Mặt khác

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét