phía thị trờng về chất lợng. Cũng theo tổ chức cà phê quốc tế thì sản lợng cà phê
thế giới vụ 98/99 sẽ lên tới 6,3 triệu tấn so với 5,5 triệu tấn vụ 97/98. Sản lợng của
các nớc sản xuất lớn đều tăng. Nhng những dự báo và ớc tính này còn có thể thay
đổi do tình hình thời tiết có thể xấu đi .
3. Tình hình tiêu thụ và xuất khẩu cà phê thế giới :
3.1 Tiêu thụ.
Nhu cầu tiêu thụ cà phê rất lớn. Hàng năm, lợng tiêu thụ trên thế giới ớc
tính vào khoảng 94,5 triệu bao cà phê nhân (khoảng 5,6 triệu tấn). Có thể chia các
nớc tiêu dùng cà phê thành bốn nhóm chính theo khu vực địa lý nh sau :
- Nhóm các nớc Tây Bắc Âu và Nam Âu .
- Nhóm các nớc Bắc Mỹ: Trong đó thị trờng Mỹ là lớn nhất với nhu cầu hàng
năm khoảng 4 kg/ngời/năm:
- Nhóm các nớc Châu á - Thái Bình Dơng: Trong đó hai thị trờng tiêu biểu là
Hàn Quốc và Nhật Bản .
- Nhóm các nớc Đông Âu và Nga: Đây là những thị trờng mới nổi rất tiềm
năng với sản phẩm cà phê.
Trong những năm qua, mức tăng trởng nhu cầu bình quân của các thị trờng
này khá ổn định ở mức 2% năm. Thị trờng Châu Âu và Bắc Mỹ có xu hớng bão
hoà, trong khi các thị trờng chính trị tại Châu á - Thái Bình Dơng, nh Nhật Bản và
Hàn Quốc, bị ảnh hởng bởi cơn bão tài chính tiền tệ năm 1997 nên nhu cầu giảm
và có khả năng chuyển một phần sang tiêu dùng những loại đồ uống khác chất l-
ợng thấp hơn. Để giải quyết các vấn đề này ngời ta đang hớng sự quan tâm hơn
nữa vào các thị trờng tơng lai nh: Nga, Đông Âu, Trung Quốc. Các thị trờng này
có dân số đông, thu nhập tăng nhanh và hiện tại cha tiêu dùng nhiều loại đồ uống
này.
3.2 Xuất khẩu :
Trong số hơn 80 thành viên của tổ chức cà phê quốc tế (ICO), có tới hơn 40
nớc xuất khẩu cà phê. Các nớc này có thể vừa trồng vừa xuất khẩu hoặc chỉ kinh
doanh cà phê xuất khẩu. Tuy nhiên các nớc sản xuất cà phê lớn trên thế giới đều là
những nớc vừa sản xuất vừa xuất khẩu. Điển hình là các nớc nh: Brazin, Colombia,
Việt Nam, Uganda, Bờ Biển Nga, Ethiopia, ấn Độ, vv Trong đó Brazin và
Colombia là các nớc sản xuất và xuất khẩu cà phê Arabica chủ yếu trên thế giới;
5
các nớc còn lại của Châu á và Châu Phi là các nớc xuất khẩu cà phê Robusta lớn
của thế giới .
Trên thực tế, lợng xuất khẩu cà phê hàng năm của các nớc chính là cung
trên thị trờng cà phê thế giới. Lợng cung này phụ thuộc rất nhiều yếu tố trong đó
sản lợng chỉ là một. Ngoài sản lợng, lợng cung cà phê trên thị trờng thế giới hàng
năm còn phụ thuộc vào tình hình kinh tế của các nớc, chính sách của hiệp hội các
nớc sản xuất cà phê (ACPC) và tổ chức cà phê quốc tế (ICO) cũng nh biến động
nhu cầu giá cả, dự trữ và yếu tố đầu cơ. Trung bình từ vụ 89/90 đến nay, mỗi vụ,
sản lợng xuất khẩu vào khoảng 4,3 đến 4,9 triệu tấn cà phê nhân. Theo dự báo của
ICO thì xuất khẩu cà phê thế giới sẽ tiếp tục biến động xung quanh mức hiện tại,
không có đột biến nào đáng kể.
4. Giá cả :
Giá cà phê phụ thuộc rất nhiều vào tình hình cung cầu cà phê trên thị trờng
thế giới. Thông thờng, để xác lập giá xuất khẩu những ngời xuất khẩu cà phê th-
ờng lấy giá ở những sở giao dịch hàng hoá lớn nh ở London, New york,
Rotterdam, Asterdam làm chuẩn để xây dựng giá của mình. Giá tại các thị trờng
này thờng phản ánh tơng đối chính xác các biến động cung cầu trong từng thời
điểm xong nó lại mang nặng yếu tố tâm lý nên luôn biến động thất thờng.
0
100000
200000
300000
400000
500000
1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 ước
1999
Biểu đồ 2: Giá cà phê thế giới
Robusta Arabica
6
Nhìn chung giá cà phê thập kỷ 90 có xu hớng giảm so với thập kỷ 80 và bến
động phức tạp vì nhiều nguyên nhân. Nguyên nhân cơ bản là cung tăng nhanh hơn
cầu. Và thị trờng cà phê trở thành tự do không có một cơ chế chặt chẽ quản lý sau
khi hệ thống hạn ngạch của ICO bị huỷ bỏ. Các nớc có khả năng về xuất khẩu cà
phê có dịp xuất khẩu ồ ạt ra thị trờng làm cho cung tăng nhanh khi nhu cầu tiêu
thụ lại ổn định theo xu hớng giảm. Khủng hoảng tài chính tiền tệ diễn ra ở Châu á
từ khoảng tháng 7 năm 1997 đến cuối năm 1998 cũng là một nguyên nhân khác,
tuy không thuyết phục bằng. Cuộc khủng hoảng này làm giảm thu nhập có thể sử
dụng của ngời dân ở thị trờng các nớc Châu á: làm thu hẹp diện có việc làm ở
Châu Âu và tạo ngòi nổ cho sự mất giá đồng tiền ở Brazin (Châu Mỹ) dẫn đến
giảm thu nhập có thể sử dụng của ngời dân do đó gián tiếp gây giảm nhu cầu về
những đồ uống đắt tiền trong đó có cà phê .
Nếu so sánh mặt bằng giá cà phê năm 1985-1986 thì giá cà phê năm
1990-1991 chỉ bằng 40 đến 42%. Giá cà phê còn thấp và giảm hơn vào năm
1992-1993, nhất là từ quý II năm 1992 đến quý III năm 1993. Sau đó lên dần.
Năm 1997 giá cà phê phục hồi và tăng nhanh nh biểu đồ đã chỉ ra : nhng cuối năm
1997 đầu 1998 giá cà phê giảm liên tục; cuối năm 1998 đầu 1999 thì tình hình xấu
đi và diễn biến phức tạp làm cho các nhà xuất khẩu không dám xuất hoặc chỉ xuất
cầm chừng. Hiện tại giá cà phê xuất khẩu vần là một vấn đề cha khắc phục đợc do
cha có một cơ chế hiệu quả quản lý nguồn cung cà phê trên thị trờng thế giới.
7
Sơ đồ bộ máy quản lí của công ty
8
Giám đốc
Phó giám đốc sản xuất Phó giám đốc kinh doanh
Phòng
nghiệp
vụ tổng
hợp
Phòng
XNK 2
Xí
nghiệp
may xuất
khẩu
Chi
nhánh
TP HCM
Đảng,
đoàn
thể
Phòng
tổ chức
hành
chính
Ban xuất
khẩu lao
động
Chi
nhánh
Quảng
Ninh
Tổ
dịch
vụ
xuất
khẩu
Phòng
tài chính
kế toán
Phòng
XNK 1
Phòng
XNK 3
Phòng
XNK 4
Phòng
XNK 5
Chi
nhánh
Hải
Phòng
Liên
phòng
Hantex
Văn
phòng tại
Hoa Kì
Văn phòng
tại CHLB
Đức
II.Tình hình sản xuất và xuất khẩu cà phê của Việt Nam
1.Vị trí của cây cà phê ở Việt Nam.
Trong nhiều năm gần đây, cà phê là một mặt hàng nông nghiệp xuất khẩu
quan trọng của Việt Nam có kim ngạch hàng năm từ 400 đến 600 triệu Đôla Mỹ,
chỉ đứng sau gạo. Không chỉ đem về nhiều ngoại tệ cho đất nớc, cây cà phê đang
ngày càng giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế của nớc ta. Cụ thể là: sản xuất
chế biến và xuất khẩu cà phê thu hút đợc nhiều lao động đặc biệt là lao động trẻ
cha có việc làm. Tính đến năm 1995 đã có 150 đến 200 nghìn ngời lao động tham
gia trong lĩnh vực sản xuất cà phê .
- Cây cà phê có thể trồng thay thế cây thuốc phiện ở những khu vực trớc kia
trồng cây thuốc phiện nh khu vực các tỉnh miền núi phía bắc .
- Sản xuất và xuất khẩu cà phê làm cho quan hệ kinh tế thơng mại giữa Việt
Nam và các nớc đợc củng cố và phát triển .
Hiện nay cà phê Việt Nam đã xuất hiện trên khắp các châu lục từ Bắc Mỹ,
Tây Âu, Đông Âu đến úc, Nam á, Bắc á.vv Chất lợng cà phê ở Việt Nam cũng
đợc thị trờng quốc tế thừa nhận và a chuộng. Đảng và nhà nớc ta luôn coi cà phê là
một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nông nghiệp nói riêng và của n-
ớc ta nói chung lên đã dành cho cây cà phê sự quan tâm đặc biệt. Từ sau giải
phóng, diện tích cà phê liên tục tăng từ vài chục nghìn hecta nay đã lên tới gần
300 nghìn hecta cho năng suất cao tạo chỗ vững chắc cho xuất khẩu cà phê tăng tr-
ởng. Tiềm năng của cây cà phê Việt Nam rất lớn và phần lớn còn đang chờ sự khai
thác có hiệu quả cao, do vậy trong thời gian tới nghành cà phê cần có những giải
pháp cụ thể để phát huy tối đa tiềm năng này.
2. Sản xuất :
Cây cà phê đã đợc đa vào Việt Nam từ rất lâu và đợc trồng đại trà từ năm
1888. Do điều kiện khí hậu và đất đai thích hợp nên cây đợc phát triển trên quy
9
mô rộng và cho hạt chất lợng tốt không kém sản phẩm của những nớc sản xuất và
xuất khẩu cà phê lớn trên thị trờng. Tuy nhiên phải đến sau giải phóng ngành cà
phê Việt Nam mới đi vào thời kỳ phát triển, sản lợng sản xuất ra chủ yếu để xuất
khẩu. Theo số liệu của tổng cục thống kê và nghành cà phê thì sản xuất cà phê của
ta mỗi năm một tăng:
Bảng 1: Diện tích và sản lợng cà phê Việt Nam qua các giai đoạn:
Niên vụ Diện tích Sản lợng sản xuất
1991 - 1992 135.000 101.000
1995 - 1996 225.000 245.270
1997 - 1998 295.000 410.530
(Nguồn: Tạp chí thơng mại số tháng 8/1998.)
Năng suất cà phê bình quân cả nớc cũng tăng liên tục. Nếu năm 1990 đạt
1000 kg nhân /ha thì năm 1994 là 1300, năm 1997 là 1500. Cho đến năm 1995,
Việt Nam đã đứng thứ 7 trong số các nớc sản xuất cà phê nhiều nhất trên thế giới
và đứng thứ hai trên thế giới về sản xuất cà phê Robusta .
Cũng trong những năm qua, cà phê không chỉ đợc mở rộng diện tích ở Tây
Nguyên, Đông Nam Bộ vv là những vùng chủ yếu trồng cà phê Robusta ,mà còn
phát triển khá mạnh cà phê Arabicarơ các tỉnh biên miền núi phía Bắc nh Sơn La,
Lai Châu, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang vv Nhằm nâng cao tỷ trọng xuất
khẩu cà phê giống ngon, giá cao.
Những vùng này có điều kiện thổ nhỡng, khí hậu Phù hợp với cà phê
Arabica nên tơng lai cho năng xuất cao. Đây là tín hiệu tốt lành cho ngành cà phê
Việt Nam trong xu thế chuộng chất lợng của cà phê thế giới .
3. Xuất khẩu :
Do sản xuất tăng nhanh nên xuất khẩu cà phê của ta hàng năm cũng tăng
nhanh cả về số lợng cũng nh kim ngạch. Giá xuất khẩu trung bình hàng năm cũng
tăng đáng kể mặc dù vẫn bị ảnh hởng rất nhiều từ những biến động trên thị trờng
10
cà phê thế giới. Số ngoại tệ thu về hàng năm đã tăng lên tới hàng trăm triệu đôla
mỹ, riêng vụ 97/98 vừa qua con số kim ngạch đã là gần 600 triệu và sẽ còn cao
hơn nữa trong thời gian gần đây.
Bảng 2: Sản lợng, kim ngạch cà phê xuất khẩu của Việt Nam những năm 90.
NIên vụ
Số lợng xuất
khẩu (tấn)
Tốc độ tăng
trởng
Kim ngạch
(Triệu USD)
Tốc độ tăng kim
ngạch so với vụ
trớc
1993 - 1994 158.520 21,5% 225,7 51.3%
1994 - 1995 212.038 33,7% 560,3 147%
1995 - 1996 233.000 9,8% 422 -24,6%
1996 - 1997 346.000 48,5% 414 -2%
1997 -1998 395.419 12,5% 599 45%
(Nguồn: Báo cáo tình hình cà phê xuất khẩu niên vụ 97/98 của bộ thơng mại.)
Tuy nhiên, qua số liệu trong bảng 2 ta có thể thấy trừ niên vụ 94/95 kim
ngạch xuất khẩu cà phê của ta tăng vọt 147% lên hơn 560 triệu Đôla Mỹ so với
hơn 200 triệu Đôla Mỹ của vụ trớc đó, còn lại các niên vụ tiếp sau kim ngạch xuất
khẩu của ta không những không tăng mà còn giảm mạnh trong khi sản lợng xuất
khẩu thì vẫn tăng đều đặn. Nguyên nhân của hiện tợng này phần lớn là do cung
cầu trên thị trờng thế giới mất cân bằng dẫn tới giá cả giảm sút nhng cũng một
phần do chất lợng cà phê xuất khẩu của ta cha đáp ứng đợc yêu cầu của khách
hàng. Thậm chí bao cà phê của Việt Nam xuất sang các nớc trong nhiều trờng hợp
còn có tạp chất nh đinh và nút chai lẫn bên trong. Chính vì vậy mặc dù đã có nhiều
tiến triển tốt nhng vẫn còn một khoảng cách không nhỏ giữa giá xuất cà phê của
chúng ta và giá trung bình của cùng loại cà phê trên thị trờng thế giới.
Theo dự đoán, vụ cà phê 98/99 sản lợng sản xuất và sản lợng xuất khẩu của
Việt Nam giảm do hạn hán ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ kéo dài cộng với ma ở
nhiều nơi đặc biệt là Đắk Lắk. Thời tiết xấu cũng sẽ làm giảm chất lợng cà phê
xuất khẩu của ta nên có thể ảnh hởng tới yếu tố giá cà phê cũng nh uy tín của cà
phê Việt Nam trên thị trờng.
Về thị trờng tiêu thụ, tính đến vụ cà phê 97/98 thị trờng cà phê của Việt
Nam đã đợc mở rộng tới 52 nớc và vùng lãnh thổ trên thế giới. Những nớc nhập
khẩu số lợng lớn là Mỹ, Canada, các nớc Tây Âu và các nớc Nhật Bản, Hàn Quốc
ở Châu á. Tuy nhiên, để cây cà phê xứng đáng với những triển vọng từ phía thị tr-
11
ờng bên ngoài, chúng ta cũng cần quan tâm tới việc ổn định thị trờng trong nớc,
khắc phục tính manh mún, thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa ngời sản xuất, ngời
xuất khẩu và các thành phần có liên quan nhằm từng bớc xây dựng chiến lợc hợp
lý và lâu dài cho cây cà phê xuất khẩu.
12
Chơng 2
Tình hình kinh doanh cà phê xuất khẩu
tại công ty Prosimex
I. Giới thiệu tóm lợc về công ty
1. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty sản xuất kinh doanh xuất
nhập khẩu prosimex.
Công ty sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu prosimex là một doanh
nghiệp nhà nớc, có t cách pháp nhân, hạch toán kinh doanh độc lập đợc nhà nớc
giao vốn, đất đai và các nguồn lực khá. Doanh nghiệp có nhiệm vụ sử dụng có
hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn đợc giao, có quyền và nghĩa vụ với nhà nớc, tự
chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh trong phạm vi vốn do nhà nớc giao.
Công ty ra đời và phát triển hoàn toàn dựa vào chính khả năng và sự cố
gắng của mình. Tiền thân của công ty là cơ sở sản xuất tăng gia, chăn nuôi của văn
phòng bộ kinh tế đối ngoại từ những năm 1970, nhằm để cải thiện đời sống cho
cán bộ công nhân viên. Theo quyết định 778/KTĐN/TCCB ngày 25/11/1989 của
Bộ kinh tế đối ngoại (nay thuộc bộ thơng mại), xí nghiệp gia công hàng xuất khẩu
trực thuộc văn phòng Bộ kinh tế đối ngoại ra đời. Ngày 24/03/1993, nghị định số
388/CP của chính phủ và kèm theo quyết định số 448/M/TCCB của Bộ Thơng
Mại, xí nghiệp gia công sản xuất đổi tên thành công ty sản xuất gia công hàng
xuất khẩu và nay là công ty sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu.
Cơ sở vật chất ban đầu của công ty rất thiếu thốn. Tổng số vốn ban đầu chỉ
khoảng 3.785 triệu đồng, mà chủ yếu là TSCĐ (ôtô, máy sản xuất đinh, nhà xởng
và đât đai). Năm 1990, năm hoạt động đầu tiên, kim ngạch xuất khẩu đạt 3,214
triệu USD trong đó xuất khẩu đạt 1,786 triệu USD và nhập khẩu đạt 1,428 triệu
USD. Đến năm 1998, tổng kim ngạch xuất khẩu của Công ty đạt tới 74,120 triệu
USD trong đó xuất khẩu đạt 43,033 triệu USD, nhập khẩu đạt 31,078 triệu USD.
Cùng với sự tăng trởng về kim ngạch xuất khẩu, công ty đã chú trọng việc mở
rộng sản xuất, đầu t thêm trang thiết bị, máy móc cho sản xuất, tìm kiếm bạn hàng
và chú trọng vào các mặt hàng truyền thống nh thuê ren, may mặc, nông sản.
Năm 1993, công ty đã liên doanh may mặc xuất khẩu Hà nội< hentex> giải
quyết việc làm cho rất nhiều công nhân và hàng năm đều mang lại lợi nhuận cho
Công ty.
13
Công ty sản xuất kinh doanh xuất khẩu prosimex là một đơn vị hạch
toán độc lập về tài chính, có t cách pháp nhân có tài khoản tiền Việt Nam và ngoại
tệ ở Ngân hàng, có con dấu riêng để giao dịch.
Tên giao dịch quốc tế : IMPORT - EXPORT PRODUCTION AND
TRADING CORPORATION <PROSIMES >
Trụ sở chính: Khơng Đình - Thanh Xuân - Hà nội
Điện thoại: 8583672 - 8584278
Fax: 84(4)8585009
Vốn điều lệ ban đầu : 5.135.000.000 đồng
Trong đó:
- Vốn cố định : 951.000.000 đồng
- Vốn lu động : 4.184.000.000 đồng
Đăng ký kinh doanh số: 108296 DO TRọNG TàI KINH Tế cấp ngày
30/04/1993.
Ngành nghề kinh doanh: ngành ngoại thơng, nghề sản xuất và gia công
hàng xuất khẩu, kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu hàng may mặc, dệt thủ công mỹ
nghệ, nông lâm sản, kim khí, điện máy, hàng tiêu dùng và các loại vật t sản xuất,
vật liệu xây dựng, phơng tiện vận tải, hải sản, thiết bị phụ tùng .
Công ty đợc xây dựng trên khu đất rộng khoảng 10.500 m
2
trong đó
2000m
2
nhà 3 tầng, đây là nơi làm việc của các phòng ban, 5500m2 nhà khung để
sản xuất, 2000 m
2
dùng để làm nhà kho và 1000 m
2
để làm vờn cây và khu vui
chơi giải trí của cán bộ công nhân viên. Ngay từ ngày đầu mới thành lập ,vừa hoàn
thiện công tác tổ chức nhân sự và triển khai thực hiện kế hoạch sản xuất kinh
doanh, đơn vị đã thu đợc những thành quả đáng khích lệ. Nguồn vốn tích luỹ cũng
nh cơ sở vật chất ngày càng dồi dào. Đội ngũ cán bộ nhân viên không ngừng đợc
đào tạo có tay nghề cao, đóng góp nghĩa vụ cho nhà nớc tăng dần theo các năm.
Chỉ tiêu năm 1999 2000 2001
Doanh thu 158.566.388.03
6
172.476.323.469 184.378.393.12
7
Tổng lợi nhuận sau
thuế
212.468.81
1
352.150.913 364.171.49
5
Số đóng góp ngân sách 18.753.521.33
7
20.597.634.155 23.725.654.32
5
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét