Tương tự trái phiếu chính phủ, trái phiếu địa phương là phiếu nợ được chi trả dựa
vào nguồn thuế của địa phương, từ các dự án cụ thể hoặc từ nguồn thu phí giao thông qua
các công trình công cộng.
Thông thường, trái phiếu chính phủ và trái phiếu địa phương được hưởng ưu đãi
thuế, tức là thu nhập từ trái phiếu của trái chủ nếu sống trong địa phương đó sẽ được miễn
thuế thu nhập. Điều này khuyến khích những người có vốn nhàn rỗi tham gia đầu tư vào
ngân sách, tạo điều kiện phát triển đất nước nói chung cũng như địa phương nói riêng.
1.4.3 Trái phiếu kho bạc dài hạn và tín phiếu kho bạc ngắn hạn
Hai loại này thường được phát hành bằng đấu giá thông qua hệ thống ngân hang
Nhà nước và là những công cũ đầu tư chủ yếu của các ngân hang và cá nhân.
1.4.4 Trái phiếu doanh nghiệp
Là những trái phiếu do doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần và công ty trách
nhiệm hữu hạn phát hành để tăng vốn hoạt động.
Để có thể phát hành được trái phiếu, doanh nghiệp phải hội tụ được những điều
kiện sau:
+ Là công ty cổ phần, công ty TNHH, DNNN có mức vốn điều lệ đã góp tại thời
điểm đăng ký phát hành là 10 tỷ đồng VN.
+ Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký phát hành phải có lãi,
đồng thơ không có lỗ luỹ kết đến năm đăng ký chào bán, không có các khoản nợ phải trả
quá hạn trên 1 năm.
+ Có phương án phát hành, phương án sử dụng và trả vốn thu được từ đợt phát hành
trái phiếu.
+ Có cam kết thực hiện nghĩa vụ của tổ chức phát hành đối với nhà đầu tư về điều
kiện phát hành, thanh toán, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và các điều
kiện khác.
5
Trái phiếu doanh nghiệp có nhiều loại và rất đa dạng.
1.4.4.1 Giấy nợ
Giấy nợ là cam kết bảo đảm chi trả lãi suất và vốn gốc, phụ thuộc vào tình hình hoạt
động của công ty. Các chủ nợ thường được ưu tiên trong việc chi trả.
1.4.4.2 Trái phiếu có đảm bảo bằng tài sản
Là loại trái phiếu mà người phát hành dùng một tài sản có giá trị làm vật đảm bảo
cho việc phát hành. Khi nhà phát hành mất khả năng thanh toán, thì trái chủ có quyền thu
và bán tài sản đó để thu hồi lại số tiền người phát hành còn nợ. Trái phiếu bảo đảm thường
bao gồm một số loại chủ yếu sau:
• Trái phiếu có tài sản cầm cố: Là loại trái phiếu bảo đảm bằng việc người phát hành
cầm cố một bất động sản để bảo đảm thanh toán cho trái chủ. Thường giá trị tài sản
cầm cố lớn hơn tổng mệnh giá của các trái phiếu phát hành để đảm bảo quyền lợi
cho trái chủ.
• Trái phiếu bảo đảm bằng chứng khoán ký quỹ: Là loại trái phiếu được bảo đảm
bằng việc người phát hành thường là đem ký quỹ số chứng khoán dễ chuyển
nhượng mà mình sở hữu để làm tài sản bảo đảm.
1.4.4.3 Trái phiếu thu nhập
Là loại trái phiếu kém an toàn hơn trái phiếu thường vì hình thức và thời gian chi trả
lãi suất định trước nhưng lãi suất chỉ được trả đúng hạn nếu công tu có thu nhập được phần
lãi suất vào đúng ngày qui định. Nếu không chi trả được thì được xem như là nợ còn khất
lại.
1.4.4.4 Trái phiếu chuyển đổi
Là loại trái phiếu của công ty cổ phần mà trái chủ được quyền chuyển sang cổ phiếu
của công ty đó. Việc này được quy định cụ thể về thời gian và tỷ lệ khi mua trái phiếu.
1.5Vai trò
1.5.1 Đối với nền kinh tế
6
Thứ nhất, thị trường trái phiếu là một trong những kênh huy động vốn của thị
trường tài chính, thu hút nguồn vốn lớn từ những nhà đầu tư có vốn tiết kiệm nhàn rỗi sang
những người có nhu cầu thực sự về vốn, góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế,
tạo nên những hoạt động đầu tư, kinh doah thực sự có hiệu quả.
Thứ hai, trái phiếu góp phần đa dạng hoá các công cụ tài chính. Bên cạnh thị trường
cổ phiếu với mức độ rủi ro cao thì trái phiếu được xem là kênh đầu tư an toàn hơn và có
hiệu quả cao trong đầu tư dài hạn
Thứ ba, thị trường trái phiếu phát triển giúp Chính phủ thực hiện chính sách tiền tệ,
thực thi chức năng quản lý vĩ mô kinh tế - xã hội có hiệu quả. Trái phiếu chính phủ phát
hành khuyến khích các cá nhân, tổ chức tham gia phát triển kinh tế đất nước, giảm áp lực
cung - cầu tiền mặt trên thị trường, ổn định môi trường tiền tệ, góp phần nâng cao hiệu quả
sử dụng các nguồn lực tài chính trong nước. Đồng thời, nguồn vốn từ trái phiếu chính phủ
được phân bổ hợp lí nhằm phát triển các công trình công cộng, phúc lợi xã hội. Từ đó nâng
cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.
1.5.2 Đối với doanh nghiệp
Thứ nhất, trái phiếu giúp doanh nghiệp có thể huy động vốn một cách dễ dàng.
Trong hoạt động kinh doanh, nhu cầu vốn lúc nào cũng rất lớn. Ngoài hình thức vay vốn
thông qua ngân hang ( huy động vốn gián tiếp ) và phát hành cổ phiếu thì phát hành trái
phiếu giúp doanh nghiệp chủ động trong việc thanh toán lãi suất và vốn gốc tuỳ theo tình
hình cụ thể của công ty.
Thứ hai, khi cần huy động vốn mà doanh nghiệp ngại phát hành cổ phiếu vì nhiều lí
do như bị pha loãng quyền sở hữu, lợi nhuận bị chia đều cho các nhà đầu tư tuỳ thuộc vào
tình hình làm ăn của công ty thì phát hành trái phiếu là một giải pháp tối ưu. Tuy nhiên ,
muốn tham gia phát hành trái phiếu thì doanh nghiệp phải đảm bảo các yêu cầu về qui mô
hoạt động, tình hình làm ăn, hệ thống kế toán - kiểm toán phù hợp với qui định của pháp
luật.
7
1.5.3 Đối với nhà đầu tư
Tuỳ vào tình hình tài chính và khả năng mạo hiểm, nhà đầu tư có thể lựa chọn cho
mình kênh đầu tư thích hợp. Nếu như đầu tư vào cổ phiếu mang lại lợi nhuận cao hơn,
nhưng bên cạnh đó rủi ro tương đối cao thì trái phiếu là giải pháp an toàn dài hạn. Hơn thế
nữa, nếu một doanh nghiệp giải thể hay phá sản thì trái chủ luôn được ưu tiên thanh toán
trước các cổ đông.
1.6 So sánh trái phiếu và cổ phiếu
TRÁI PHIẾU CỔ PHIẾU
Nhà
phát
hành
Công ty
Chính phủ
Địa phương
Công ty cổ phần
Loại
chứng
khoán
Chứng khoán nợ ( quan hệ chủ nợ
đối với nhà phát hành )
Chứng khoán vốn ( thể hiện quyền sở hữu
đối với công ty )
Thời
gian
đáo
hạn
Có thời gian đáo hạn tuỳ vào loại
trái phiếu
Không có thời gian đáo hạn, cổ đông chỉ
được nhận lại vốn gốc khi công ty phá sản
hoặc giải thể
Rủi ro Thấp (được ưu tiên thanh toán
trước cổ đông )
Cao ( là người nhận tài sản cuối cùng khi
công ty phá sản )
Lãi
suất
Lãi suất cố định cổ tức được chia theo tỉ lệ phụ thuộc vào
tình hình làm ăn của công ty ( chỉ chia cổ
tức khi công ty làm ăn có lãi )
Quyền
bầu cử
Không Có
8
CHƯƠNG 2: THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT NAM
2.1 Cơ sở pháp lý cho quá trình phát triển thị trường trái phiếu
2.1.1 Thị trường chứng khoán
Do sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu tích vốn trong xã hội tăng lên và ngày
càng trở nên đa dạng, phong phú; người dùng vốn để đầu tư, người thì có vốn nhàn rỗi
muốn cho vay để sinh lời. Họ tìm gặp nhau trực tiếp trên cơ sở quen biết. Tuy nhiên sau
đó, khi cung cầu vốn không ngừng tăng lên thì hình thức vay, cho vay trực tiếp dựa trên
quan hệ quen biết không đáp ứng được; Vậy cần phải có một thị trường cho cung và cầu
gặp nhau, đáp ứng các nhu cầu tài chính của nhau – Đó là thị trường tài chính.
Ban đầu nhu cầu vốn cũng như tiết kiệm trong dân chưa cao và nhu cầu về vốn chủ
yếu là vốn ngắn hạn. Theo thời gian, sự phát triển kinh tế, nhu cầu về vốn dài hạn cho đầu
tư phát triển ngày càng cao; Chính vì vậy, Thị trường vốn đã ra đời để đáp ứng các nhu cầu
này. Để huy động được vốn dài hạn, bên cạnh việc đi vay ngân hàng thông qua hình thức
tài chính gián tiếp, Chính phủ và doanh nghiệp còn huy động vốn thông qua hình thức phát
hành chứng khoán. Đây chính là sự ra đời của Thị trường chứng khoán với tư cách là một
bộ phận của Thị trường vốn nhằm đáp ứng nhu cầu mua, bán và trao đổi chứng khoán các
loại
Hòa mình vào xu hướng phát triển nền kinh tế thị trường của thế giới, thị trường
chứng khoán Việt Nam cũng ra đời dể đáp ứng nhu cầu khách quan của xã hội
Việc xây dựng và phát triển TTCK là mục tiêu đã được Đảng và Chính phủ Việt
Nam định hướng từ những năm đầu thập kỷ 90 (thế kỷ 20) nhằm xác lập một kênh huy
động vốn mới cho đầu tư phát triển. Trên cơ sở định hướng được nêu tại các Văn kiện Đại
hội Đảng VI, VII, VIII, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 75/1996/NĐ-CP ngày
28/11/1996 về việc thành lập Uỷ ban chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) và ngày
9
12/8/2003 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 90/2003/NĐ-CP quy định chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước nhằm mục đích
quản lý các hoạt động kinh doanh chứng khoán ở Việt Nam. Nghị định số 48/1998/NĐ-CP
ngày 11/7/1998 về chứng khoán và thị trường chứng khoán và Nghị định số 144/2003/NĐ-
CP ngày 28/11/2003 của Chính phủ về chứng khoán và thị trường chứng khoán là những
văn bản tạo cơ sở pháp lý quan trọng để thiết lập, vận hành thị trường chứng khoán Việt
Nam.
Một trong những bước đi đầu tiên có ý nghĩa khởi đầu cho việc xây dựng TTCK ở
Việt Nam là việc thành lập Ban Nghiên cứu xây dựng và phát triển thị trường vốn thuộc
Ngân hàng Nhà nước (Quyết định số 207/QĐ-TCCB ngày 6/11/1993 của Thống đốc Ngân
hàng nhà nước) với nhiệm vụ nghiên cứu, xây dựng đề án và chuẩn bị các điều kiện để
thành lập TTCK theo bước đi thích hợp.
Theo sự uỷ quyền của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã phối hợp với
Bộ Tài chính tổ chức nghiên cứu về các lĩnh vực liên quan đến hoạt động của TTCK, đề
xuất với Chính phủ về mô hình TTCK Việt Nam, đào tạo kiến thức cơ bản về chứng khoán
và TTCK cho một bộ phận nhân lực quản lý và vận hành thị trường trong tương lai; nghiên
cứu, khảo sát thực tế một số TTCK trong khu vực và trên thế giới…
Tháng 9/1994, Chính phủ quyết định thành lập Ban soạn thảo Pháp lệnh về chứng
khoán và TTCK do một đồng chí Thứ trưởng Bộ Tài chính làm Trưởng Ban, với các thành
viên là Phó Thống đốc NHNN, Thứ trưởng Bộ Tư pháp. Trên cơ sở Đề án của Ban soạn
thảo kết hợp với đề án của NHNN và ý kiến của các Bộ, ngành liên quan ngày 29/6/1995,
Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 361/QĐ-TTg thành lập Ban Chuẩn bị tổ chức
TTCK giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc xây
dựng TTCK ở Việt Nam.
2.1.2 Thị trường trái phiếu
10
Những văn bản cơ sở điều chỉnh hoạt động của thị trường trái phiếu:
Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11/07/1998 về chứng khoán và thị trường chứng
khoán. Hướng dẫn về việc phát hành chứng khoán ra công chúng, giao dịch chứng khoán
và các dịch vụ liên quan đến chứng khoán và TTCK. Nghị định được xây dựng để chuẩn bị
cho sự ra đời của TTCK và tạo điều kiện kịp thời cho TTCK nước ta đi vào hoạt động.
Luật Doanh nghiệp được Quốc hội thông qua ngày 12/06/1999 và có hiệu lực ngày
01/01/2000, đã thay thế cho Luật Công ty 1990 và việc phát hành trái phiếu của doanh
nghiệp cũng được điều chỉnh theo Luật Doanh nghiệp.
Nghị định 72/CP ngày 26/07/1994 được thay thế bằng Nghị định 01/2000/NĐ-CP
ngày 13/01/2000 ban hành quy chế phát hành trái phiếu Chính phủ.
Nghị định 141/2003/NĐ-CP ngày 20/11/2003 về việc phát hành TPCP, trái phiếu
được Chính phủ bảo lãnh, TPCQĐP thay thế cho Nghị định 01/2000/NĐ-CP . Tiếp theo,
Chính phủ ban hành Nghị định 144/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 về chứng khoán
và thị trường chứng khoán thay thế cho Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11/07/1998.
Nghị định 52/2006/NĐ-CP ngày 19/05/2006 về việc phát hành trái phiếu doanh
nghiệp thay thế cho Nghị định 120/CP ngày 17/09/1994.
Ngày 29/06/2006 Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 9 đã thông qua Luật chứng khoán.
Để thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán nói chung và thị trường trái
phiếu nói riêng chính phủ đã ra mắt hiệp hội trái phiếu Việt Nam (VBMA) đồng thời cũng
là đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các hội viên, giúp các hội viên liên kết,
phát triển vì một thị trường trái phiếu lành mạnh, bền vững.
Mục tiêu hoạt động của Hiệp hội là chuẩn hoá tập quán thương mại và thông lệ thị
trường đối với các giao dịch trái phiếu và công cụ nợ khác tại thị trường trái phiếu Việt
Nam; thiết lập các quy tắc ứng xử, hành nghề và đạo đức nghề nghiệp để điều chỉnh mối
11
quan hệ giữa các đối tác nhằm đảm bảo sự bình đẳng cho các thành viên tham gia thị
trường; nâng cao tính chuyên nghiệp của thị trường, qua đó lượng phát hành sẽ đa dạng,
phong phú, có cấu trúc thị trường phù hợp, quy mô các lô phát hành sẽ lớn dần.
IFC sẽ tiếp tục hỗ trợ tư vấn cho VBMA trong giai đoạn thành lập và xây dựng
thông lệ thị trường; đồng thời lựa chọn Hiệp hội thị trường trái phiếu Thái Lan (ThaiBMA)
là nhà tư vấn trong quá trình dự thảo bộ quy ước thị trường, bộ thông lệ và quy tắc đạo đức
cho thị trường trái phiếu Việt Nam.
Việc thành lập thị trường trái phiếu là bước đi tất yếu nhằm phát triển năng lực cung
cấp các dịch vụ tài chính của Việt Nam khẳng định sự phát triển của nước ta trong quá
trình xây dựng đất nước. Đây cũng là một kênh huy động vốn rất hữu hiệu cho các dự án
phát triển cơ sở hạ tầng, các dự án y tế và giáo dục khi mà Việt Nam đang tiếp tục phát
triển và phải giải quyết những thách thức về đô thị hoá cũng như tạo thêm nhiều công ăn
việc làm.
Thị trường trái phiếu đã và đang chứng minh được vai trò to lớn và vững chắc của
mình trong quá trình hội nhập và phát triển. Đó là một xu hướng tất yếu và la một biểu
hiện tích cực của quá trình toàn cầu hóa.
2.2 Một số thực trạng của thị trường trái phiếu Việt Nam
2.2.1 Đánh giá chung về thị trường trái phiếu Việt Nam
12
NĂM 2008 NĂM 2009
Dựa vào hai biểu đồ trên ta có thể thấy được xu thế của các loại trái phiếu trên thị
trường Việt Nam qua hai năm 2008 và 2009 như sau:
CÁC LOẠI TRÁI PHIẾU (TP) ĐẶC ĐIỂM
TP Kho bạc Nhà nước Tăng mạnh (17%)
TP doanh nghiệp Tăng nhẹ (3%)
TP chính quyền địa phương Giảm rất nhẹ (- 1%)
TP Ngân hàng Phát triển Việt Nam Giảm mạnh (- 19%)
Có sự biến động trên là do thị trường trái phiếu Chính phủ và trái phiếu doanh
nghiệp ngày càng được đẩy mạnh phát triển cùng với sự phát triển và hội nhập của nền
kinh tế. Mà Kho bạc Nhà nước lại là kênh phát hành trái phiếu Chính phủ chủ yếu.
Loại trái phiếu phát hành thành công nhất trong hai năm qua là trái phiếu Kho bạc
nhưng tỷ lệ bán được cũng chỉ ở mức 15%, còn đa số các loại trái phiếu chỉ bán được dưới
7% so với kế hoạch. Đặc biệt trái phiếu chính quyền địa phương hoàn toàn không thu hút
được sự quan tâm của nhà đầu tư, còn trái phiếu của Ngân hàng Phát triển cũng chỉ bán
được 2% so với tổng khối lượng chào bán.
Bên cạnh đó ta còn có thể thấy được TP Kho bạc Nhà nước chiếm ưu thế hơn hẳn,
là do có được sự tín nhiệm cao nhất của người dân, có đủ nguồn lực để phát hành với số
lượng lớn, nên thị trường trái phiếu này luôn sôi động, đồng thời nhận được sự giúp đỡ từ
các chính sách hổ trợ của Nhà nước nên có được tính thanh khoản cao. Ngược lại TP địa
phương có tỷ lệ thấp nhất, lý do là, đây là một thị trường mới, và thường thị trường của
loại trái phiếu này chỉ gói gọn trong một địa phương nhất định mà chính quyền phát hành.
Ngoài ra, trái phiếu chính quyền địa phương còn thường chỉ được phát hành khi cần vốn để
xây dựng một công trình công cộng nào đó ở địa phương đó, nên đợt phát hành sẽ không
nhiều bằng các loại trái phiếu khác. Hiện nay chỉ có Hà Nội và TPHCM là thường xuyên
phát hành loại trái phiếu này.
2.2.2 Trái phiếu Chính phủ
13
Trái phiếu Chính phủ chiếm khoảng 80% tổng lượng trái phiếu phát hành.
Có ba phương thức phát hành trái phiếu Chính phủ là thông qua Kho bạc Nhà nước,
đấu thầu qua thị trường chứng khoáng và phương thức bảo lãnh phát hành. Hai phương
thức sau mới xuất hiện vào đầu năm 2000, trước đó trái phiếu Chính phủ chỉ được phát
hành thông qua Kho bạc Nhà nước.
GIÁ TRỊ TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ PHÁT HÀNH TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2007
Dựa vào biểu đồ trên ta có thể thấy được sự phát triển vượt bậc của trái phiếu Chính
phủ. Vào năm 2003, giá trị phát hành trái phát bắt đầu có sự tăng nhảy vọt. Sau đó, từ năm
2004 đến năm 2006, giá trị phát hành này lại có sự tăng ổn định, nhưng không nhanh và
nhiều. Tới năm 2007, một lần nữa giá trị phát hành trái phiếu lại tăng đột biến. Song, thực
tế giá trị niêm yết và giá trị giao dịch lại có sự chênh lệch đáng kể.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét