Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

Cải tạo công tác tuyển dụng và đào tạo lao động xuất khẩu đi làm việc ở nước ngoài của Công ty Cổ phần nhân lực và thương mại Vinaconex

- Xuất khẩu lao động:
Đến nay, trên thế giới vẫn chưa có một khái niệm chuẩn nào về xuất
khẩu lao động. Vì vậy, chúng ta có thể hiểu xuất khẩu lao động thông qua
khái niệm của tổ chức lao động quốc tế ( ILO) như sau: Xuất khẩu lao động là
hoạt động kinh tế của một quốc gia thực hiện việc cung ứng lao động cho một
quốc gia trên cơ sở những hiệp định hoặc hợp đồng có tính chất hượp pháp
quy định được sự thống nhất giữa các quốc gia đưa và nhận người lao động.
1.1.2. Phân loại xuất khẩu lao động:
- Căn cứ vào cơ cấu người lao động đưa đi:
+ Lao động có nghề: là loại lao động trước khi ra nước ngoài làm việc
đã được đào tạo thành thạo một loại nghề nào đó và khi số lao động này ra
nước ngoài làm việc có thể bắt tay ngay vào công việc mà không phải bỏ ra
thời gian và chi phí để tiến hành đào tạo nữa.
+ Lao động không có nghề: là loại lao động mà khi ra nước ngoài làm
việc chưa được đào tạo một loại nghề nào cả. Loại lao động này thích hợp với
những công việc đơn giản, không cần trình độ chuyên môn hoặc phía nước ngoài
cần phải tiến hành đào tạo cho mục đích của mình trước khi đưa vào sử dụng.
- Căn cứ vào nước xuất khẩu lao động:
+ Nhóm các nước phát triển: Có xu hướng gửi lao động kỹ thuật cao
sang các nước đang phát triển để thu ngoại tệ. Trường hợp này không phải là
chảy máu chất xám mà là đầu tư chất xám có mục đích. Việc đầu tư nhằm
một phần thu lại kinh phí đào tạo cho đội ngũ chuyên gia trong nhiều năm,
một phần khác lớn hơn là phát huy năng lực trình độ đội ngũ chuyên gia, công
nhân kỹ thuật bậc cao ở nước ngoài .v.v để thu ngoại tệ.
+ Nhóm các nước đang phát triển: có xu hướng gửi lao động bậc trung
hoặc bậc thấp sang các nước có nhu cầu để lấy tiền công và tích luỹ ngoại tệ,
giảm bớt khó khăn kinh tế và sức ép việc làm trong nước.
1.1.3. Các hình thức xuất khẩu lao động:
Xuất khẩu lao động thực tế đem lại lợi ích thiết thực cho cả người lao động và
5
phía Nhà nước. Nhận thức rõ điều đó Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng
đưa ra những chủ trương, chính sách tạo điều kiện cho người lao động có cơ
hội đi làm việc ở nước ngoài. Hi?n nay cú m?t s? hỡnh th?c xu?t kh?u lao d?
ng ch? y?u sau:
- Thông qua doanh nghiệp Việt Nam được phép cung ứng lao động
theo hợp đồng ký kết với bên nước ngoài:
Đối tác nước ngoài có nhu cầu sử dụng lao động, đưa ra những yêu cầu cụ thể
về số lượng, tuổi tác, nghề nghiệp, giới tính Các doanh nghiệp, tổ chức kinh
tế của Việt Nam sau khi nhận được đơn đặt hàng của bên nước ngoài sẽ tiến
hành sơ tuyển dựa trên những tiêu chí có sẵn. Để đảm bảo đúng yêu cầu của
mình, bên nước ngoài thực hiện kiểm tra lại một lần nữa trước khi lao động
sang làm việc.
- Thông qua doanh nghiệp Việt Nam nhận thầu, nhận khoán công
trình hoặc đầu tư ở nước ngoài.
Bên nước ngoài đặt hành cho các công trình xây dựng, do vậy phải đưa đi
đồng bộ các đối tượng lao động gồm có kỹ thuật, quản lý, chỉ đạo thi công và
lao động trực tiếp sang nước ngoài làm việc. Sau khi công trình kết thúc thì
cũng chấm dứt hợp đồng đối với người lao động, vì thế xuất khẩu lao động
theo hình thức khoán khối lượng công việc thường không ổn định, tâm lý của
người lao động dễ bị chán nản, không tận tâm với công việc.
- Theo hợp đồng lao động do cá nhân người lao động trực tiếp ký kết
với người sử dụng lao động ở nước ngoài (sau đây gọi là hợp đồng cá
nhân):
Đây là hình thức phổ biến nhất hiện nay, hình thức này đòi hỏi đối tượng lao
động đa dạng tuỳ theo yêu cầu và mức độ phức tạp của công việc. Có những
yêu cầu của người nước ngoài đòi hỏi người có trình độ kỹ thuật, kinh nghiệm
sản xuất, kinh nghiệm tổ chức quản lý, cũng có những yêu cầu chỉ cần người
lao động có trình độ giản đơn.
6
Ngoài những hình thức đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước
ngoài, hình thức xuất khẩu lao động tại chỗ cũng đã trở nên phổ biến hơn ở
Việt Nam. Thông qua các tổ chức kinh tế của ta, người lao động được cung
ứng cho các tổ chức kinh tế nước ngoài dưới những hình thức:
- Các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
- Các khu chế xuất, khu công nghiệp.
- Các tổ chức, cơ quan ngoại giao tại Việt Nam.
1.1.4. Vai trò của xuất khẩu lao động đối với sự phát triển kinh tế:
Xuất khẩu lao động là hoạt động kinh tế quan trọng đối với mỗi quốc
gia, đặc biệt đối với các nước kinh tế kém phát triển. Hoạt động này đem lại
lợi ích cho tất cả các bên tham gia: bên xuất khẩu lao động, bên nhập khẩu lao
động và bản thân người lao động.
1.1.4.1. Xét trên góc độ vĩ mô:
- Với nước xuất khẩu lao động:
Nước xuất khẩu lao động có lợi về nhiều mặt trong đó đặc biệt là các
lĩnh vực: Kinh tế, xã hội, quan hệ đối ngoại.
+ Về kinh tế: Xuất khẩu lao động có vai trò đặc biệt trong hoạt động
kinh tế. Trước hết, nó góp phần giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho
người lao động. Có thẻ nói, xuất khẩu lao động giữ một vị trí rất quan trọng
trong chương trình việc làm quốc gia, nếu không nói là chủ yếu trong chiến
lược giải quyết việc làm, đây là một công cụ hữu hiệu để thực hiện mục tiêu
của Đảng và Nhà nước ta đặt ra tới năm 2010 sẽ xoá hết đói nghèo. Kinh
nghiệm từ một số nước cho thấy, xuất khẩu lao động là một giải pháp khắc
phục tình trạng thất nghiệp có hiệu quả cao.
Bên cạnh những đóng góp trên, xuất khẩu lao động còn đem lại nguồn thu
ngoại tệ đáng kể cho đất nước, góp phần cải thiện cán cân thanh toán quốc tế
do vậy rút ngắn khoảng cách giàu - nghèo giữa nước phát triển và nước đang
phát triển.
7
Xuất khẩu lao động cũng là một kênh đem lại một nguồn thu nhập quan
trọng cho đất nước.
+ Về xã hội: Đối với một nước hơn 82 triệu dân, với trên một nửa là số
người trong độ tuổi lao động, nhưng số người thất nghiệp ở thành thị lên đến
5,6% và số thời gian chưa được sử dụng ở nông thôn lên đến trên 20%, thì xuất
khẩu lao động là một kênh giải quyết việc làm cho người lao động rất có ý
nghĩa. Trong mấy năm gần đây, số lao động đi xuất khẩu của nước ta mỗi năm
đã lên đến trên dưới 70 nghìn người và đến nay đã có khoảng tren 400 nghìn
người Việt Nam đang làm việc ở khoảng trên 40 nước và vùng lãnh thổ.
Thực hiện tốt công tác xuất khẩu lao động sẽ giảm được tệ nạn xã hội do
thất nghiệp gây ra, tạo một hướng lao động tích cực cho người lao động, học
tập được phong cách lao động mới do tổ chức lao động ở nước ngoài trang
bị
+ Về quan hệ đối ngoại: Mở rộng quan hệ đối ngoại, hợp tác trong lĩnh
vực xuất khẩu lao động là vô cùng quan trọng, từ đó quan hệ giữa nước cung
ứng lao động và nước tiếp nhận lao động trở nên gắn bó hơn, hiểu nhau hơn,
tao ra mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước. Cung cấp cho nhau những thông tin
quan trọng về những vấn đề hai nước cùng quan tâm và thống nhất quan điểm
hai bên cùng có lợi. Sự đa dạng hoá các quan hệ hợp tác quốc tế được mở
rộng thông qua hợp tác về lao động sẽ tạo điêù kiện mở rộng hơn nữa các
quan hệ hợp tác khác.
- Với nước nhập khẩu lao động:
+ Nước nhập khẩu lao động thu được những lợi ích đáng kể như: cung
cấp đủ số lao động bù đắp vào các ngành thiếu hụt, khai thác có hiệu qủa tiềm
năng của đất nước. Đồng thời, mở rộng quan hệ và uy tín với nước có lao
động, khai thác kinh nghiệm, kiến thức, tác phong lao động và cung ccáh
quản lý của nước khác, mở rộng nhu cầu thị trường trong nước
8
+ Ngoài ra xuất khẩu lao động cũng góp phần giả quyết nhu cầu lao
động đặc biệt là trong các lĩnh vực mà lao động địa phương ít tham gia tại
nước tiếp nhận lao động.
1.1.4.2. Xét trên góc độ vi mô:
- Với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu lao động:
+ Xuất khẩu lao động là một bộ phận của xuất khẩu do vậy các doanh
nghiệp tham gia trong lĩnh vực này phải tìm hiểu kỹ về nền văn hoá, phong tục
tập quán của nước nhập khẩu, đây là tiền đề tốt trong quá trình hội nhập quốc tế.
+ Doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu lao động là đã tham gia hiệu quả
vào chương trình quốc gia giải quyết việc làm đồng thời thực hiện một phần
thoả thuận hợp tác giữa hai chính phủ.
+ Doanh nghiệp xuất khẩu lao động làm ăn có hiệu quả sẽ thực hiện
nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước.
Tuy nhiên một vấn đề bức xúc đang đặt ra trong giai đoạn hiện nay đó
là tình trạng ngày càng có nhiều lao động không thực hiện hợp đồng đã
ký.Việc này có thể gây ảnh hưởng lớn đối với uy tín của doanh nghiệp cũng
như sự ổn định trên thị trường hiện tại và tiềm năng.
- Với bản thân người lao động:
+ Người đi xuất khẩu lao động có điều kiện giúp gia đình thoát khỏi đói
nghèo cải thiện mức sống của bản thân và gia đình.
+ Người lao động có thể tiếp thu kỹ năng làm việc, quản lý, tích luỹ
trình độ tay nghề và kinh nghiệm thực tiễn để tự tạo việc làm sau khi về nước.
1.1.5. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của hoạt động xuất khẩu lao động:
Hiệu quả là chỉ tiêu so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để
đạt được hiệu quả đó (Hiệu quả H= kết quả - chi phí). Có hai loại hiệu quả
là hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Hiệu quả kinh tế là hiệu quả đạt được
về mặt kinh tế, còn hiệu quả xã hội là hiệu quả đạt được về mặt xã hội. Đây là
9
khái niệm chung để đánh giá hiệu quả, tuy nhiên khi đi vào từng lĩnh vực cụ
thể thì việc đánh giá hiệu quả không đơn giản chút nào, đặc biệt là trong lĩnh
vực xuất khẩu lao động này. Một số chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả của xuất
khẩu lao động
1.1.5.1. Lợi ích kinh tế đạt được
- Số lượng lao động được giải quyết việc làm trong năm:
Công thức tính:
L = Lc + Lx - Ln
Trong đó:
L : Số lao động được giải quyết việc làm trong năm
Lc : Số lao động từ năm trước vẫn còn đang tiếp tục
Lx : Số lao động được đưa sang hoạt động trong năm
Ln : Số lao động kết thúc hợp đồng trở về nước trong năm
Ý nghĩa của chỉ tiêu:
Chỉ tiêu này nêu ra được chi tiết kết quả đạt được trong một năm qua
của công tác xuất khẩu lao động. Nó chỉ ra được những đóng góp của lĩnh vực
này đối với việc tạo công ăn việc làm cho xã hội mà nhà nước ta đã không
phải bỏ vốn đầu tư để tạo việc làm mới, giải quyết một phần tình trạng ứ đọng
lao động của đất nước (mặc dù trước khi đi xuất khẩu lao động những người
lao động này không phải tất cả đều thuộc diện thất nghiệpm).
- Thu nhập quốc dân về ngoại tệ thông qua hoạt động xuất khẩu lao động:
Công thức tính:
P =∑ Yj ( j = 1 đến n)
Yj = Xij . Kj
10
Trong đó:
P : Mức thu của nhà nước
Y: Mức thu của nhà nước ở mỗi thị trường
n : Số thị trường đưa lao động sang
j : Nước đưa lao động sang
K : Tỷ số hối đoái quy đổi ra ngoại tệ quy ước
X : Thuế thu nhập mỗi người phải đóng
Ý nghĩa chỉ tiêu:
Chỉ tiêu này cho biết số tiền nhà nước thu được thông qua xuất khẩu lao
động. Vấn đề ngoại tệ (nhất là ngoại tệ mạnh) đối với Việt Nam có ý nghĩa to
lớn. Tất cả các hoạt động có thể đem về ngoại tệ cho đất nước cần được
khuyến khích. “ Cùng với việc xuất khẩu hàng hoá cần hết sức coi trọng, tạo
điều kiện thuận lợi cho các hoạt động thu ngoại tệ như phát triển du lịch, cung
ứng tàu biển, dịch vụ hàng không, tổ chức gia công hàng xuất khẩu và đưa lao
động đi làm việc ở nước ngoài là những hình thức thích hợp với hàng triệu
người lao động dư thừa hiện nay. Khả năng hợp tác lao động với nước ngoài
của nước ta là rất lớn, nếu chúng ta biết tổ chức và khai thác hết những tiềm
năng đó trong quan hệ kinh tế đối ngoại thì sẽ thu đựơc nguồn ngoại tệ đáng
kể thúc đẩy sản xuất phát triển.”
- Mức tiết kiệm đầu tư vào việc làm của chính phủ:
Công thức tính:
Mtk = m
dt
. L
Trong đó:
Mtk : Mức tiết kiệm vốn đầu tư tạo ra việc làm
m
dt
: Mức đầu tư trung bình tạo ra một chỗ làm việc mới
L : Số người có việc làm thường xuyên ở nước ngoài
11
Ý nghĩa chỉ tiêu:
Cho biết mức độ tiết kiệm không phải bỏ vốn đầu tư tạo ra chỗ làm việc
mới ở trong nước và đồng nghĩa với việc tăng thêm nguồn vốn đầu tư cho giải
quyết việc làm.
- Giá trị hàng hoá do người lao động đưa về:
Công thức tính:
G =∑ Hj
( j = 1 đến n)
Hj =∑ h
ij
. N
j
Trong đó:
G : Giá trị hàng hoá do người lao động đem về
H : Giá trị hàng hoá do người lao động ở mỗi thị trường đem về
h : Giá trị hàng hoá trung bình của một người lao động đem về
N : Số người gửi hàng hoá về trong năm
i : Biến số người
j : Biến số thị trường
Ý nghĩa chỉ tiêu:
Cho biết lượng hàng hoá do người lao động đem về góp phần vào việc
cân đối quỹ hàng hoá trong nước và cải thiện đời sống gia đình, tăng thêm
máy móc thiết bị làm tư liệu sản xuất.
- Thu nhập do lao động đi làm việc ở nước ngoài bổ sung vào thu
nhập quốc dân:
Công thức tính:
Q =∑ (Pj + Vij) . k
j
( j = 1 đến n)
Trong đó:
12
Q : Thu nhập của người lao động làm việc ở nước ngoài tính vào thu
nhập quốc dân
P : Các khoản phải nộp của mỗi người lao động
V : Thu nhập của người lao động sau khi đã khấu trừ phần phải nộp
k : Tỷ giá hối đoái quy đổi ngoại tệ
i : Biến số người
j : Biến số nước sử dụng lao động
Ý nghĩa chỉ tiêu:
Chỉ tiêu cho biết phần thu nhập của người lao động ở nước ngoài được
tính vào thu nhập quốc dân.
Ngoài các chỉ tiêu có thể lượng hoá được để so sánh nói trên còn có một
số chỉ tiêu khác cũng có thể lượng hoá được như số lao động có nghề được
đào tạo nâng cao trình độ, mức tiết kiệm chi phí đào tạo trên một người lao
động song nói chung còn ở mức thấp. Một số khía cạnh khác như việc du
nhập kỹ thuật công nghệ và kinh nghiệm sản xuất mới, việc du nhập nếp sống
tiến bộ, tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa hai nước, tranh thủ sự ủng hộ
quốc tế phản ánh hiệu quả về mặt xã hội.
1.1.5.2. Chi phí bỏ ra:
Bao gồm có các chi phí cho người lao động trong lĩnh vực tham gia, chi
phí cho bộ máy quản lý, tổ chức tuyển mộ, đưa đi và quản lý ở nước ngoài, xử
lý các công việc sau khi đưa người lao động hết hạn trở về nước, tiền nộp phạt
cho nước bạn do người lao động tự ý bỏ hợp đồng
Chi phí về mặt xã hội có ý kiến cho rằng còn có những tiêu cực do lao
động gây ra ở nước ngoài. Song những cái đó là yếu tố chủ quan có thể khắc
phục được nếu có biện pháp và chính sách thích hợp.
1.2. Tuyển dụng lao động đi xuất khẩu lao động
13
1.2.1. Khái niệm, vai trò của tuyển dụng lao động đi xuất khẩu lao động
Khái niệm:
Tuyển dụng lao động đi XKLĐ là quá trình thu hút, tìm kiếm và tuyển chọn
những người lao động có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài
-Tuyển dụng lao động đi XKLĐ bao gồm:
+Tuyển mộ lao động đi XKLĐ. Đây được coi là quá trình đầu tiên của
công tác tuyển dụng. Ở quá trình tuyển mộ, vấn đề quảng bá, tìm kiếm, thu
hút nguồn lao động có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài được đặt lên hàng
đầu. Mỗi công ty XKLĐ sẽ có các phương thức tuyển mộ nguồn lao động có
nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài khác nhau.
+Tuyển chọn lao động đi XKLĐ. Đây là quá trình có vai trò quyết định
đến chất lượng nguồn lao động đi làm việc ở nước ngoài. Thông qua quá trình
tuyển chọn lao động đi XKLĐ công ty XKLĐ sẽ sàng lọc, đánh giá và tuyển
chọn được những người lao động có đầy đủ năng lực, trình độ, phẩm chất
theo yêu cầu của đối tác nước bạn nhập khẩu lao động Việt Nam.
Vai trò:
- Đối với công ty XKLĐ:
+Là hoạt động có vai trò quan trọng đến sự thành công trong kinh
doanh XKLĐ của công ty, đến uy tín và khả năng cạnh tranh của công ty.
+Nếu tuyển dụng được nguồn lao động đi XKLĐ phù hợp với yêu cầu
của phía đối tác nước ngoài (là các công ty, doanh nghiệp, tổ chức nước
ngoài) sẽ giúp công ty giảm bớt được chi phí cho đào tạo, giáo dục định
hướng, cũng như các rủi ro khác
- Đối với người lao động đi XKLĐ:
+ Công tác tuyển dụng nếu được làm tốt sẽ giúp người lao động có nhu
cầu đi XKLĐ có đầy đủ thông tin, nhanh chóng, chính xác về công tác XKLĐ
của công ty XKLĐ. Qua đó giúp người lao động có nhu cầu đi XKLĐ giảm
thiểu được các chi phí tìm kiếm, tìm hiểu , đi lại, , tránh được sự lừa gạt của
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét