5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.1.2. Vai trò của thanh toán quốc tế.
1.1.2.1. Thanh toán quốc tế đối với nền kinh tế.
Trước xu thế kinh tế thế giới ngày càng được quốc tế hoá, các quốc gia
đang ra sức phát triển kinh tế thị trường, mở cửa, hợp tác và hội nhập; trong bối
cảnh đó, thanh toán quốc tế nổi lên như là chiếc cầu nối giữa kinh tế trong nước
với phần kinh tế thế giới bên ngoài, có tác dụng bôi trơn và thúc đẩy hoạt động
xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ, đầu tư nước ngoài, thu hút kiều hối và các
quan hệ tài chính, tín dụng quốc tế khác. Hoạt động thanh toán quốc tế ngày
càng được khẳng định trong hoạt động kinh tế quốc dân nói chung và hoạt động
kinh tế đối ngoại nói riêng. Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, mỗi quốc gia đều
đặt hoạt động kinh tế đối ngoại lên hàng đầu, coi hoạt động kinh tế đối ngoại là
con đường tất yếu trong chiến lược phát triển kinh tế của mỗi nước.
Thanh toán quốc tế là khâu quan trọng trong quá trình mua bán hàng hoá,
dịch vụ giữa các tổ chức, các cá nhân thuộc các quốc gia khác nhau. Nếu không
có hoạt động thanh toán quốc tế thì hoạt động kinh tế đối ngoại khó tồn tại và
phát triển được. Nếu hoạt động thanh toán quốc tế được nhanh chóng, an toàn,
chính xác sẽ giải quyết được mối quan hệ lưu thông hàng hoá - tiền tệ giữa người
mua và người bán một cách trôi chảy và hiệu quả. Về giác độ kinh doanh, người
mua thanh toán, người bán giao hàng thể hiện chất lượng của một chu kỳ kinh
doanh, phản ánh hiệu quả kinh tế và tài chính trong hoạt động của các doanh
nghiệp.
1.1.2.2. Thanh toán quốc tế đối với các ngân hàng thương mại.
Trong thương mại quốc tế, không phải lúc nào các nhà xuất nhập khẩu
cũng có thể thanh toán tiền hàng trực tiếp cho nhau, mà thường phải thông qua
ngân hàng thương mại với mạng lưới chi nhánh và hệ thống ngân hàng đại lý
rộng khắp toàn cầu. Khi thay mặt khách hàng thực hiện dịch vụ thanh toán quốc
tế, các ngân hàng trở thành cầu nối trung gian thanh toán giữa hai bên mua bán.
Nguyễn Hải Tân Lớp: TTQTC_K7
5
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Với vai trò thanh toán, các ngân hàng tiến hành thanh toán theo yêu cầu
của khách hàng, bảo vệ quyền lợi cho khách hàng trong giao dịch thanh toán, tư
vấn, hướng dẫn khách hàng những biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ thanh toán quốc
tế nhằm hạn chế rủi ro, tạo sự tin tưởng cho khách hàng trong quan hệ giao dịch
mua bán với nước ngoài. Mặt khác, trong quá trình thực hiện thanh toán quốc tế,
khách hàng không đủ năng lực về vốn sẽ cần đến sự tài trợ của ngân hàng, ngân
hàng sẽ thực hiện tài trợ xuất nhập khẩu cho khách hàng một cách chủ động và
tích cực. Nhìn chung, ngân hàng là người cung cấp hoàn hảo các loại dịch vụ kỹ
thuật và tài chính nhằm hỗ trợ cho các khách hàng thực hiện hoạt động thương
mại quốc tế. Ngân hàng cung cấp các phương án lựa chọn phương thức thanh
toán quốc tế, tài trợ xuất nhập khẩu, đảm bảo quyền lợi cho cả hai bên mua bán,
thông qua đó thúc đẩy ngoại thương phát triển và mở rộng quan hệ với các quốc
gia trên thế giới.
1.1.3. Các phương tiện dùng trong thanh toán quốc tế.
Phương tiện thanh toán quốc tế thể hiện bằng các chứng từ tài chính được
sử dụng trong việc chi trả tiền lẫn cho nhau. Hiện nay, các phương tiện thanh
toán đang được sử dụng chủ yếu bao gồm: Tiền mặt, hối phiếu, kỳ phiếu, séc và
thẻ ngân hàng. Trong thanh toán quốc tế, các phương tiện được sử dụng chủ yếu
bao gồm: hối phiếu, kỳ phiếu và séc. Tuy nhiên việc sử dụng công cụ nào còn
phụ thuộc vào đặc điểm của giao dịch thương mại, phương thức thanh toán, thảo
thuận giữa người mua, người bán và pháp luật của từng nước.
1.1.3.1. Hối phiếu.
Là tờ mệnh lệnh vô điều kiện do một người ký phát để đòi tiền người khác
bằng việc yêu cầu người này, khi nhìn thấy hối phiếu hoặc đến một ngày nhất
định hoặc đến một ngày có thể xác định trong tương lai, phải trả số tiền nhất định
cho người hưởng lợi quy định trên hối phiếu, hoặc theo lệnh của người này trả
cho người khác; hoặc trả cho người cầm phiếu.
Nguyễn Hải Tân Lớp: TTQTC_K7
6
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.1.3.2. Kỳ phiếu.
Kỳ phiếu là một cam kết trả tiền vô điều kiện do người lập phiếu ký phát
hứa trả một số tiền nhất định cho một người khác, hoặc trả theo lệnh của người
này hoặc trả cho người cầm phiếu.
Về quy tắc lưu thông thì hối phiếu và kỳ phiếu là giống nhau. Ta có thể coi
kỳ phiếu như là một hối phiếu đã được chấp nhận bởi người trả tiền. Các điều mà
luật dùng để điều chỉnh hối phiếu cũng được áp dụng tương tự cho một kỳ phiếu.
1.1.3.3. Séc – Cheque
Séc là một tờ mệnh lệnh vô điều kiện do một người (chủ tài khoản), ra
lệnh cho ngân hàng trích từ tài khoản của mình một số tiền nhất định để trả cho
người được chỉ định trên séc, hoặc trả theo lệnh của người này, hoặc trả cho
người cầm séc.
Séc ra đời từ chức năng làm phương tiện thanh toán và được sử dụng rộng
rãi trong những nước có hệ thống ngân hàng phát triển cao. Hiện nay séc là
phương tiện chi trả được dùng hầu như phổ biến trong giao dịch nội địa của tất
cả các nước. Séc cũng được sử dụng rộng rãi trong thanh toán quốc tế về hàng
hoá, cung ứng lao vụ, du lịch và về các chi trả phi mậu dịch khác.
1.1.3.4. Thẻ ngân hàng.
Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, ra đời từ
phương thức mua bán chịu hàng hoá bán lẻ và phát triển gắn liền với việc ứng
dụng công nghệ tin học trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Thẻ ngân hàng là
công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành cấp cho khách hàng sử dụng để
thanh toán tiền mua hàng, dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư tiền gửi
của mình hoặc hạn mức tín dụng được cấp. Thẻ ngân hàng còn dùng để thực hiện
các dịch vụ thông qua hệ thống giao dịch tự động hay còn gọi là hệ thống tự
phục vụ ATM.
1.1.4. Các phương thức dùng trong thanh toán quốc tế.
Nguyễn Hải Tân Lớp: TTQTC_K7
7
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Phương thức thanh toán quốc tế là toàn bộ quá trình, cách thức nhận trả
tiền hàng trong giao dịch mua bán ngoại thương giữa người nhập khẩu và người
xuất khẩu. Hiện nay trong quan hệ ngoại thương có rất nhiều phương thức thanh
toán khác nhau như: Chuyển tiền, nhờ thu, tín dụng chứng từ, ghi sổ. Mỗi
phương thức thanh toán đều có ưu điểm và nhược điểm. Do đó các bên cần phải
bàn bạc thống nhất và ghi vào hợp đồng mua bán ngoại thương phương thức
thanh toán được áp dụng.
1.1.4.1. Phương thức ghi sổ.
Là phương thức thanh toán mà trong đó người xuất khẩu khi xuất khẩu
hàng hoá, cung ứng dịch vụ thì ghi nợ cho người nhập khẩu, theo dõi vào một
cuốn sổ ghi riêng và việc thanh toán các khoản nợ này sẽ được thực hiện sau một
thời kỳ nhất định.
Phương thức ghi sổ có các đặc điểm:
- Không có sự tham gia của ngân hàng với chức năng là người mở tài
khoản và thực hiện thanh toán.
- Chỉ có hai bên tham gia thanh toán là nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu.
- Chỉ mở tài khoản đơn biên, không mở tài khoản song biên. Nếu người
nhập khẩu mở tài khoản để ghi thì tài khoản này chỉ là tài khoản theo dõi, không
có hiệu lực thanh quyết toán.
- Hai bên mua bán phải thực sự tin tưởng lẫn nhau.
- Dùng chủ yếu trong mua bán hàng đổi hàng thay cho một loạt các
chuyến hàng thường xuyên, định kỳ trong một thời gian nhất định.
- Giá hàng trong phương thức ghi sổ thường cao hơn giá hàng bán trả tiền
ngay.
Hiện nay, có khoảng 60% kim ngạch buôn bán giữa nước Anh và các nước
EU sử dụng phương thức thanh toán ghi sổ; bởi vì giữa các nước này có sự
Nguyễn Hải Tân Lớp: TTQTC_K7
8
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tương đồng về văn hoá, tập quán kinh doanh, luật lệ, các khách hàng có mối
quan hệ kinh doanh truyền thống, thường xuyên, lâu dài và tin tưởng lẫn nhau.
Ý nghĩa của phương thức ghi sổ:
- Đối với nhà nhập khẩu:
+ Chưa phải trả tiền cho đến khi nhận được hàng hoá và chấp nhận hàng
hoá.
+ Giảm được áp lực tài chính do được thanh toán chậm.
- Đối với nhà xuất khẩu:
+ Là phương thức bán hàng đơn giản, dễ thực hiện, chi phí thấp, thường
được thực hiện giữa các đối tác không có sự hoài nghi về độ tín nhiệm và các rủi
ro trong thanh toán không phát sinh.
+ Do chi phí bán hàng thấp nên nhà xuất khẩu có thể giảm giá bán nhằm
tăng khả năng cạnh tranh, thu hút thêm đơn đặt hàng mới với số lượng lớn, tăng
được doanh thu và lợi nhuận.
1.1.4.2. Phương thức chuyển tiền.
Là phương thức thanh toán quốc tế trong đó người nhập khẩu yêu cầu
ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho người hưởng lợi theo
một địa điểm nhất định và trong một thời gian nhất định.
Chuyển tiền là phương thức đơn giản, trong đó, người chuyển tiền và
người nhận tiền tiến hành thanh toán trực tiếp với nhau. Ngân hàng khi thực hiện
chuyển tiền chỉ đóng vai trò trung gian thanh toán theo uỷ nhiệm để hưởng hoa
hồng và không bị ràng buộc bất cứ trách nhiệm gì đối với người chuyển tiền và
người thụ hưởng. Trong thanh toán chuyển tiền, việc có trả tiền hay không phụ
thuộc vào thiện chí của người mua. Người mua sau khi nhận hàng có thể không
tiến hành chuyển tiền, hoặe cố tình dây dưa, kéo dài thời hạn chuyển tiền nhằm
chiếm dụng vốn của người bán, do đó, làm cho quyền lợi của người bán không
được bảo đảm. Chính vì nhược điểm này mà trong ngoại thương chuyển tiền
Nguyễn Hải Tân Lớp: TTQTC_K7
9
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thường chỉ được áp dụng trong các trường hợp các bên mua bán có uy tín và tin
cậy lẫn nhau.
1.1.4.3. Phương thức thanh toán nhờ thu.
Là phương thức thanh toán trong đó người xuất khẩu sau khi đã hoàn
thành nghĩa vụ giao hàng thì tiến hành uỷ thác cho ngân hàng phục vụ mình thu
hộ tiền hàng trên cơ sở hối phiếu do người xuất khẩu lập. Có hai hình thức nhờ
thu là nhờ thu trơn và nhờ thu kèm chứng từ.
Nhờ thu trơn (Clean Collection): Nhờ thu phiếu trơn là phương thức thanh
toán, trong đó chứng từ nhờ thu chỉ bao gồm chứng từ tài chính, còn các chứng
từ thương mại được gửi trực tiếp cho người nhập khẩu không thông qua ngân
hàng.
1.1.4.4. Phương thức tín dụng chứng từ.
Khái niệm: Là một thoả thuận mà trong đó một ngân hàng (ngân hàng phát
hành thư tín dụng) đáp ứng những yêu cầu của khách hàng (người mở thư tín
dụng) cam kết hay cho phép một ngân hàng khác (ngân hàng phục vụ người xuất
khẩu) chi trả hoặc chấp thuận những yêu cầu của nhà xuất khẩu theo đúng những
điều kiện và chứng từ thanh toán phù hợp với thư tín dụng.
Giao dịch qua L/C có một số đặc điểm sau:
- L/C là hợp đồng kinh tế hai bên: L/C là hợp đồng kinh tế độc lập chỉ của hai bên
là ngân hàng phát hành và người thụ hưởng. Mọi yêu cầu và chỉ thị của người
xin mở L/C đã do ngân hàng đại diện, do dó, tiếng nói chính thức của người xin
mở L/C không được thể hiện trong L/C.
- L/C độc lập với hợp đồng ngoại thương: L/C là một giao dịch hoàn toàn độc lập
với hợp đồng ngoại thương hoặc hợp đồng khác mà hợp đồng này là cơ sở để
hình thành giao dịch L/C. Trong mọi trường hợp ngân hàng không liên quan đến
hoặc bị ràng buộc vào hợp đồng như vậy, ngay cả khi L/C có bất cứ dẫn chiếu
nào đến hợp đồng này.
Nguyễn Hải Tân Lớp: TTQTC_K7
10
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- L/C chỉ giao dịch bằng chứng từ và thanh toán chỉ căn cứ vào chứng từ: Các
ngân hàng chỉ trên cơ sở chứng từ, kiểm tra việc xuất trình để quyết định xem
trên bề mặt chứng từ có tạo thành một xuất trình phù hợp hay không. Các chứng
từ trong giao dịch L/C có tầm quan trọng đặc biệt, nó là bằng chứng về việc giao
hàng của người bán, là đại diện cho giá trị hàng hoá đã được giao, do đó chúng
trở thành căn cứ để ngân hàng trả tiền, là căn cứ để nhà nhập khẩu hoàn trả tiền
cho ngân hàng, là chứng từ đi nhận hàng của nhà nhập khẩu. . .
- L/C yêu cầu tuân thủ chặt chẽ của bộ chứng từ: Vì giao dịch chỉ bằng chứng từ
và thanh toán chỉ căn cứ vào chứng từ, nên yêu cầu tuân thủ chặt chẽ của chứng
từ là nguyên tắc cơ bản của giao dịch L/C. Để được thanh toán, người xuất khẩu
phải lập được bộ chứng từ phù hợp, tuân thủ chặt chẽ các điều khoản và điều
kiện của L/C, bao gồm số loại, số lượng mỗi loại và nội dung chứng từ phải đáp
ứng được chức năng của chứng từ yêu cầu.
- L/C là công cụ thanh toán, hạn chế rủi ro hay là công cụ từ chối thanh toán và
lừa đảo? Xét về giác độ là công cụ thanh toán và phòng ngừa rủi ro cho nhà xuất
khẩu và nhà nhập khẩu, thì L/C có ưu điểm vượt trội so với các phương thức
thanh toán khác. Chính vì vậy mà phương thức này đã tồn tại và phát triển như
ngày nay. Tuy nhiên, trong thực tế thương mại quốc tế, do diễn biến của thị
trường, giá cả mà L/C có thể bị lạm dụng trở thành công cụ để từ chối nhận
hàng, từ chối thanh toán và là công cụ để gian lận và lừa đảo.
Nguyễn Hải Tân Lớp: TTQTC_K7
11
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Quy trình nghiệp vụ L/C:
NHPH
(Issuing Bank)
NHTB
(Advising Bank)
Nhà nhập khẩu
(Importer)
Nhà xuất khẩu
(Exporter)
(3)
(6)
(7)
(4)
(6)
(7)
(1)
(5)
(8)
(2)
Hình 1.4. Quy trình nghiệp vụ thanh toán L/C
Bước 1: Hai bên mua bán ký kết hợp đồng ngoại thương với điều khoản
thanh toán theo phương thức L/C.
Bước 2: Trên cơ sở các điều khoản và điều kiện của hợp đồng ngoại
thương, nhà nhập khẩu làm đơn (theo mẫu) gửi đến ngân hàng phục vụ mình yêu
cầu phát hành một L/C cho nhà xuất khẩu hưởng.
Bước 3: Căn cứ vào đơn xin mở L/C, nếu đồng ý, NHPH lập L/C và thông
qua ngân hàng đại lý hoặc chi nhánh của mình ở nước nhà xuất khẩu để thông
báo L/C cho nhà xuất khẩu.
Bước 4: Khi nhận được L/C, NHTB thông báo L/C cho nhà xuất khẩu.
Bước 5: Nhà xuất khẩu nếu chấp nhận L/C thì tiến hành giao hàng, nếu
không chấp nhận thì đề nghị sửa đổi , bổ sung L/C cho phù hợp với hợp đồng
ngoại thương.
Nguyễn Hải Tân Lớp: TTQTC_K7
12
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bước 6: Sau khi giao hàng, nhà xuất khẩu lập bộ chứng từ theo yêu cầu
của L/C và xuất trình (thông qua NHTB hoặc một ngân hàng khác) cho NHPH
để được thanh toán.
Bước 7: NHPH sau khi kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy xuất trình phù hợp
thì tiến hành thanh toán cho nhà xuất khẩu, nếu thấy không phù hợp thì từ chối
thanh toán và gửi trả lại toàn bộ và nguyên vẹn bộ chứng từ cho nhà xuất khẩu.
Bước 8: NHPH đòi tiền nhà nhập khẩu và chuyển bộ chứng từ cho nhà
nhập khẩu sau khi đã nhận được tiền hoặc chấp nhận thanh toán.
1.2. Các nhân tố tác động tới hoạt động thanh toán quốc tế tại các ngân hàng.
Các nhân tố tác động tới hoạt động thanh toán quốc tế tại các ngân hàng
bao gồm hai nhóm nhân tố chính đó là các nhân tố khách quan và các nhân tố
chủ quan.
1.2.1. Các nhân tố khách quan.
Nhóm các nhân tố khách quan bao gồm các nhân tố thuộc về môi trường
kinh tế, môi trường pháp luật, môi trường chính trị phân tích các yếu tố này
nhằm tìm ra cơ hội và thách thức trong việc thực hiện hoạt động thanh toán quốc
tế tại ngân hàng.
- Môi trường kinh tế: Các nhân tố thuộc về môi trường kinh tế ảnh hưởng đến hoạt
động thanh toán quốc tế đó là: Sự tăng trưởng nền kinh tế, mức độ mở cửa của
nền kinh tế tăng dần qua các năm, sự linh hoạt, mức độ mở cửa và độ liên kết
của thị trường tài chính trong nước với thị trường tài chính quốc tế.
Nền kinh tế tăng trưởng thường xuyên sẽ thúc đẩy hoạt động thanh toán
quốc tế phát triển. Các doanh nghiệp tiến hành hoạt động kinh doanh xuất nhập
khẩu thường rất chú trọng tới yếu tố tỷ giá hối đoái. Sự lên xuống của tỷ giá hối
đoái ảnh hưởng tới nhiều hoạt động trong nền kinh tế trong đó có hoạt động
thanh toán quốc tế
Nguyễn Hải Tân Lớp: TTQTC_K7
13
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Môi trường chính trị: Các doanh nghiệp luôn muốn tìm kiếm thị trường
ổn định về chính trị để tiến hành hoạt động kinh doanh, vì môi trường chính trị
ổn định sẽ giảm bớt rủi ro cho doanh nghiệp khi tiến hành kinh doanh tại thị
trường này. Môi trường chính trị ổn định sẽ giúp quốc gia tiến hành xuất nhập
khẩu dễ dàng hơn, điều này sẽ góp phần thúc đẩy hoạt động thanh toán quốc tế
phát triển. Ngược lại, môi trường chính trị không ổn định sẽ gây nhiều rủi ro cho
doanh nghiệp do vậy kém hấp dẫn các doanh nghiệp, ảnh hưởng đến hoạt động
kinh doanh của ngân hàng.
Môi trường luật pháp: Một hành lang pháp lý chặt chẽ là cơ sở để các
doanh nghiệp có thể bảo đảm hoạt động kinh doanh của mình. Nếu hành lang
pháp lý không chặt chẽ có thể gây khó khăn cho doanh nghiệp khi tiến hành kinh
doanh tại quốc gia đó. Điều này sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh dịch vụ
thanh toán quốc tế tại ngân hàng.
1.2.2. Các nhân tố chủ quan.
Nhóm các nhân tố chủ quan gồm các nhân tố như quy mô hoạt động của
ngân hàng, chiến lược kinh doanh của ngân hàng, uy tín của ngân hàng, trình độ
các thanh toán viên, qua việc phân tích các nhân tố này sẽ tìm ra giải pháp
nhằm phát huy các điểm mạnh và hạn chế các điểm yếu của hoạt động thanh
toán quốc tế tại ngân hàng.
- Quy mô hoạt động của ngân hàng: nếu ngân hàng có quy mô hoạt động
lớn, có uy tín trên thị trường sẽ tạo niềm tin cho khách hàng khi sử dụng dịch vụ
thanh toán quốc tế tại ngân hàng này, do vậy hoạt động thanh toán quốc tế tại
ngân hàng sẽ phát triển hơn. Ngược lại, nếu một ngân hàng có quy mô nhỏ bé,
khách hàng ít biết đến thì sẽ rất khó tạo niềm tin cho khách hàng, đặc biệt là
những khách hàng nước ngoài, điều này sẽ gây khó khăn rất lớn trong việc thực
hiện hoạt động thanh toán quốc tế.
Nguyễn Hải Tân Lớp: TTQTC_K7
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét