Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

nguồn vốn FDI và lĩnh vực phân phối bán lẻ

LỜI MỞ ĐẦU
Với hơn 86 triệu dân, nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, thu nhập và
đời sống của người dân ngày càng được cải thiện, tiêu dùng cá nhân tăng ngay
cả trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu…, các chuyên gia nhận định, thị
trường phân phối bán lẻ của Việt Nam đang phát triển nhanh nhất trong khu vực
châu Á.Bên cạnh đó, theo đung cam kết khi gia nhập WTO, ngày 01/01/2009,
Chính phủ Việt Nam đã chính thức mở cửa ngành bán lẻ cho các công ty nước
ngoài. Việc này khiến ngành kinh doanh bán lẻ Việt Nam đứng trước những
thách thức to lớn bởi sự cạnh tranh của các tập đoàn bán lẻ hàng đầu thế giới
như Metro Cash & Carry, Big C, Dairy Farm, Wal-Mart và Carrefour Tuy vậy,
các tập đoàn phân phối này cũng sẽ gặp không ít khó khăn khi thâm nhập thị
trường Việt Nam và họ sẽ còn mất nhiều thời gian để lấy được niềm tin của đại
đa số người tiêu dùng. Thế nhưng không phải vì thế mà các doanh nghiệp bán lẻ
trong nước có thể yên tâm bởi điểm mạnh của các doanh nghiệp bán lẻ nước
ngoài là họ có tiềm lực tài chính mạnh, trình độ quản lý chuyên nghiệp, và việc
nắm bắt thị trường Việt Nam một cách nhanh chóng là không quá khó.Trong khi
đó, các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam vẫn “giậm chân tại chỗ”. Có thể thấy
trong một tương lai không xa, việc doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam bị chi phối và
mất dần thị phần về tay các nhà bán lẻ nước ngoài là điều có thể xảy ra. Nhiều
người am hiểu đã nhận xét rằng những nhà đầu tư khôn ngoan với tiềm lực tài
chính dồi dào không bao giờ nhìn thị trường ngắn hạn mà họ tính đến “hái quả”
ở những năm sau. Cuộc đổ bộ của những nhà bán lẻ nước ngoài vào Việt Nam
trong thời gian tới cũng sẽ có quá trình mà trước mắt những nhà bán lẻ ở thế yếu
có thể tính toán lại phương án liên kết, chuyển nhượng quyền kinh doanh, hoặc
thuê các chuyên gia nước ngoài điều hành hoạt động kinh doanh Dù với
5
phương án nào thì các nhà bán lẻ của Việt Nam cũng cần phải nhanh chóng khắc
phục những điểm yếu của mình để “giữ giá”.
Mở cửa thị trường, thu hút vốn đầu tư nước ngoài là một việc rất cần thiết
trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của nước ta. Tuy nhiên, lĩnh vực phân
phối bán lẻ được coi là huyết mạch của nền kinh tế do nó liên quan đến cả sản
xuất và tiêu dùng. Nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực phân phối bán lẻ
không chỉ tác động về mặt kinh tế mà còn tạo ra không ít những tác động về mặt
xã hội ở Việt Nam. Làm thế nào để vừa thu hút được vốn đầu tư nước ngoài vào
lĩnh vực này để tận dụng được những ảnh hưởng tích cực lại vừa hạn chế những
ảnh hưởng tiêu cực của dòng vốn ấy chính là chìa khóa cho sự phát triển kinh tế
nước ta.
Trước câu hỏi đó, chúng em xin chọn đề tài “Thực trạng đầu tư trực
tiếp nước ngoài vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam” làm đề tài thảo
luận.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, bài tiêu luận gồm ba chương là:
Chương 1: Tổng quan về nguồn vốn FDI và lĩnh vực phân phối bán lẻ của
Chương 2: Hệ thống phân phối bán lẻ và thực trạng đầu tư trực tiếp nước
ngoài lĩnh vào vực này tại Việt Nam
Chương 3: Giải pháp nhằm tận dụng tốt nhất dòng vốn FDI vào lĩnh vực
phân phối bán lẻ của Việt Nam
6
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ NGUỒN VỐN FDI VÀ
LĨNH VỰC PHÂN PHỐI BÁN LẺ
1.1. Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
1.1.1 Khái niệm
• Theo Tổ Chức Thương Mại Thế giới ( WTO) thì:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI- Foreign Direct Investment) xảy ra khi
một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước
khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản
lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường
hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở
kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là
"công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty"
• Theo Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế () lại có một định nghĩa khác về FDI:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI (foreign direct investment) là một công
cuộc đầu tư ra khỏi biên giới quốc gia, trong đó người đầu tư trực tiếp ( direct
investor) đạt được một phần hay toàn bộ quyền sỡ hữu lâu dài một doanh nghiệp
đầu tư trực tiếp ( direct investment enterprise) trong một quốc gia khác. Quyền
sở hữu này tối thiểu phải là 10% tổng số cổ phiếu mới được công nhận là FDI.
Tuy có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng chung quy lại có thể hiểu: Đầu
tư trực tiếp nước ngoài(FDI)xảy ra khi công dân của một nước (nước đầu tư)
nắm giữ quyền kiểm soát các hoạt động kinh tế ở một nước khác(nước chủ nhà
hay nước nhận đầu tư).Trong khái niệm này,thật sự không có sự đầu tư gia tăng
về kinh tế hay một sự chuyển giao ròng giữa các quốc gia mà đơn thuần chỉ là
một sự di chuyển tư bản từ quốc gia này sang quốc gia khác.Các công ty nắm
quyền kiểm soát hoạt động ở nhiều quốc gia được xem như các công ty đa quốc
7
gia, các công ty xuyên quốc gia hay các công ty toàn cầu.Sự phát triền hoạt động
của các công ty này chính là động lực thúc đầy sự phát triển trong thương mại
quốc tế thông qua hình thức đầu tư trực tiếp vào các quốc gia khác trên thế giới
1.1.2. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài:
1.1.2.1 Phân theo hình thức đầu tư:
Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh: Đây là một văn bản được ký kết
giữa một chủ đầu tư nước ngoài và một chủ đầu tư trong nước (nước nhận đầu
tư) để tiến hành một hay nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước chủ nhà
trên cơ sở quy định về trách nhiệm và phân phối kết quả kinh doanh mà không
thành lập một công ty, xí nghiệp hay không ra đời một tư cách pháp nhân mới
nào.Hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài này có đặc điểm.
• Cả hai bên cùng hợp tác kinh doanh trên cơ sở văn bản hợp đồng đã ký
kết giữa các bên về sự phân định trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ.
• Không thành lập một pháp nhân mới,tức là không cho ra đời một công ty
mới.
• Thời hạn của hợp đồng hợp tác kinh doanh do hai bên thoả thuận, phù
hợp với tính chất hoạt động kinh doanh và sự cần thiết để hoàn thành
mục tiêu của hợp đồng.
• Vấn đề vốn kinh doanh không nhất thuyết phải được đề cập trong văn
bản hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Hình thức công ty hay xí nghiệp liên doanh: Xí nghiệp hay công ty liên
doanh được thành lập giữa một bên là một thành viên của nước nhận đầy tư và
một bên là các chủ đầu tư ở nước khác tham gia. một xí nghiệp liên doanh có thể
gồm hai hoặc nhiều bên tham gia liên doanh. đặc điểm của hình thức liên doanh
này là:
• Cho ra đời một công ty hay một xí nghiệp mới, với tư cách pháp nhân
mới và được thành lập dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn.
• Thời gian hoạt động, cơ cấu tổ chức quản lý của công ty, xí nghiệp liên
doanh được quy định tùy thuộc vào luật pháp cụ thể của mỗi nước.
8
• Các bên tham gia liên doanh phải có trách nhiệm góp vốn liên doanh,
đồng thời phân chia lợi nhuận và rủi ra theo tỉ lệ góp vốn.
Hình thức công ty hay xí nghiệp 100%vốn từ nước ngoài: Đây là hình
thức các công ty hay xí nghiệp hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của tổ chức cá
nhân nước ngoài và do bên nước ngoài tự thành lập, tự quản lý và hoàn toàn
chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Đặc điểm của các công ty này là:
• Được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn và là một
pháp nhân mới ở nước nhận đầu tư.
• Hoạt động dưới sự chi phối của Luật pháp nước nhận đầu tư
Các hình thức khác: Đầu tư vào các khu chế xuất, khu phát triển kinh tế,
thực hiện những hợp đồng xây dựng - vận hành - chuyển giao (B.O.T). Những
dự án B.O.T thường được chính phủ các nước đang phát triển tạo mọi điều kiện
thuận lợi để thực hiện việc nâng cấp cơ sở hạ tầng kinh tế.
1.1.2.2 Phân theo bản chất đầu tư:
Đầu tư phương tiện hoạt động: là hình thức FDI trong đó công ty mẹ đầu
tư mua sắm và thiết lập các phương tiện kinh doanh mới ở nước nhận đầu tư.
Hình thức này làm tăng khối lượng đầu tư vào.
Mua lại và sáp nhập: là hình thức FDI trong đó hai hay nhiều doanh
nghiệp có vốn FDI đang hoạt động sáp nhập vào nhau hoặc một doanh nghiệp
này (có thể đang hoạt động ở nước nhận đầu tư hay ở nước ngoài) mua lại một
doanh nghiệp có vốn FDI ở nước nhận đầu tư. Hình thức này không nhất thiết
dẫn tới tăng khối lượng đầu tư vào.
1.1.2.3. Phân theo tính chất dòng vốn
Vốn chứng khoán: Nhà đầu tư nước ngoài có thể mua cổ phần do một
công ty trong nước phát hành ở một mức đủ lớn để có quyền tham gia vào các
quyết định quản lý của công ty.
9
Vốn tái đầu tư:Doanh nghiệp có vốn FDI có thể dùng lợi nhuận thu được
từ hoạt động kinh doanh trong quá khứ để đầu tư thêm.
Vốn vay nội bộ hay giao dịch nợ nội bộ: Giữa các chi nhánh hay công ty
con trong cùng một công ty đa quốc gia có thể cho nhau vay để đầu tư hay mua
cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp của nhau.
1.1.2.4. Phân theo động cơ của nhà đầu tư
Vốn tìm kiếm tài nguyên: Đây là các dòng vốn nhằm khai thác nguồn tài
nguyên thiên nhiên rẻ và dồi dào ở nước tiếp nhận, khai thác nguồn lao động có
thể kém về kỹ năng nhưng giá thấp hoặc khai thác nguồn lao động kỹ năng dồi
dào. Nguồn vốn loại này còn nhằm mục đích khai thác các tài sản sẵn có thương
hiệu ở nước tiếp nhận (như các điểm du lịch nổi tiếng). Nó cũng còn nhằm khai
thác các tài sản trí tuệ của nước tiếp nhận. Ngoài ra, hình thức vốn này còn
nhằm tranh giành các nguồn tài nguyên chiến lược để khỏi lọt vào tay đối thủ
cạnh tranh.
Vốn tìm kiếm hiệu quả: Đây là nguồn vốn nhằm tận dụng giá thành đầu
vào kinh doanh thấp ở nước tiếp nhận như giá nguyên liệu rẻ, giá nhân công rẻ,
giá các yếu tố sản xuất như điện nước, chi phí thông tin liên lạc, giao thông vận
tải, mặt bằng sản xuất kinh doanh rẻ, thuế suất ưu đãi, v.v
Vốn tìm kiếm thị trường: Đây là hình thức đầu tư nhằm mở rộng thị
trường hoặc giữ thị trường khỏi bị đối thủ cạnh tranh giành mất. Ngoài ra, hình
thức đầu tư này còn nhằm tận dụng các hiệp định hợp tác kinh tế giữa nước tiếp
nhận với các nước và khu vực khác, lấy nước tiếp nhận làm bàn đạp để thâm
nhập vào các thị trường khu vực và toàn cầu.
1.1.3. Lợi ích của việc thu hút đầu tư nước ngoài
Bổ sung cho nguồn vốn trong nước: Trong các lý luận về tăng trưởng kinh
tế, nhân tố vốn luôn được đề cập. Khi một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh
hơn, nó cần nhiều vốn hơn nữa. Nếu vốn trong nước không đủ, nền kinh tế này
10
sẽ muốn có cả vốn từ nước ngoài, trong đó có vốn FDI, từ đó tạo kiều kiện thuận
lợi để đạt được nhưng mục tiêu đã đề ra của nền kinh tế.
Tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý: Trong một số trường hợp, vốn
cho tăng trưởng dù thiếu vẫn có thể huy động được phần nào bằng "chính sách
thắt lưng buộc bụng". Tuy nhiên, công nghệ và bí quyết quản lý thì không thể có
được bằng chính sách đó. Thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia sẽ giúp một
nước có cơ hội tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý kinh doanh mà các công
ty này đã tích lũy và phát triển qua nhiều năm và bằng những khoản chi phí lớn.
Tuy nhiên, việc phổ biến các công nghệ và bí quyết quản lý đó ra cả nước thu
hút đầu tư còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực tiếp thu của đất nước.
Tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu: Khi thu hút FDI từ các công ty đa
quốc gia, không chỉ xí nghiệp có vốn đầu tư của công ty đa quốc gia, mà ngay cả
các xí nghiệp khác trong nước có quan hệ làm ăn với xí nghiệp đó cũng sẽ tham
gia quá trình phân công lao động khu vực. Chính vì vậy, nước thu hút đầu tư sẽ
có cơ hội tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu thuận lợi cho đẩy mạnh xuất
khẩu.
Tăng số lượng việc làm và đào tạo nhân công: Vì một trong những mục
đích của FDI là khai thác các điều kiện để đạt được chi phí sản xuất thấp, nên xí
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ thuê mướn nhiều lao động địa phương. Thu
nhập của một bộ phận dân cư địa phương được cải thiện sẽ đóng góp tích cực
vào tăng trưởng kinh tế của địa phương. Trong quá trình thuê mướn đó, đào tạo
các kỹ năng nghề nghiệp, mà trong nhiều trường hợp là mới mẻ và tiến bộ ở các
nước đang phát triển thu hút FDI, sẽ được xí nghiệp cung cấp. Điều này tạo ra
một đội ngũ lao động có kỹ năng cho nước thu hút FDI. Không chỉ có lao động
thông thường, mà cả các nhà chuyên môn địa phương cũng có cơ hội làm việc
và được bồi dưỡng nghiệp vụ ở các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Nguồn thu ngân sách lớn: Đối với nhiều nước đang phát triển, hoặc đối
với nhiều địa phương, thuế do các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nộp là
nguồn thu ngân sách quan trọng. Chẳng hạn, ở Hải Dương riêng thu thuế từ
11
công ty lắp ráp ô tô Ford chiếm 50 phần trăm số thu nội địa trên địa bàn tỉnh
năm 2006.
1.2. Tổng quan về lĩnh vực phân phối bán lể
1.2.1 Định nghĩa
Theo danh mục phân loại ngành dịch vụ của tài liệu số TN.GNS/W/120
(W/120) của vòng đám phán Uruguay của tổ chức thương mại thế giới (WTO)
và danh mục sản phẩm trung tâm tạm thời của Liên hợp quốc (CPC) định nghĩa:
Dịch vụ bán lẻ là hoạt động bán các hàng hóa cho người tiêu dùng hoặc
các hộ tiêu dùng từ một địa điểm cố định (cửa hàng, kiốt) hay một địa điểm khác
(bán trực tiếp) và các dịch vụ phụ liên quan.
Ngoài ra còn có khá nhiều định nghĩa khác nhau về bán lẻ.
Trong cuốn sách “Quản trị Marketing” Philip Kotler đã định nghĩa bán lẻ
như sau:Bán lẻ bao gồm tất cả những hoạt động liên quan đến việc bán hàng hóa
hay dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ sử dụng vào mục đích
cá nhân, không kinh doanh .Mọi tổ chức làm công việc bán hàng này, cho dù là
người sản xuất, người bán sỉ hay người bán lẻ, đều là làm công việc bán lẻ, bất
kể là hàng hóa hay dịch vụ đó được bán như thế nào (trực tiếp, qua bưu điện,
qua điện thoại hay máy tự động bán hàng) hay chúng được bán ở đâu ( tại cửa
hàng, ngoài phố hoặc tại nhà người tiêu dùng).
Từ điển bách khoa toàn thư mở Wikipedia đưa ra định nghĩa: Bán lẻ bao
gồm việc bán hàng cho cá nhân hoặc hộ gia đình để họ tiêu dùng, tại một địa
điểm cố định,hoặc không tại một địa điểm cố định mà qua các dịch vụ liên quan.
Theo cách hiểu nào đi chăng nữa thì nói chung bán lẻ là hoạt động kinh doanh
bằng cách mua với số lượng lớn từ nhà sản xuất (nhà nhập khẩu), hoặc nhà bán
sỉ rồi chia nhỏ và bán cho người tiêu dùng nhằm phục vụ nhu cầu cá nhân hay
gia đình.
1.2.2 Những kiểu tổ chức phân phối bán lẻ chính
12
Mạng lưới công ty: Các cửa hàng của mạng lưới là hai hay nhiều cửa
hàng cùng thuộc một quyền sở hữu và kiểm soát, có chung một bộ phận thu mua
và tiêu thụ tập trung, và bán những chủng loại hàng hóa tương tự nhau. Mạng
lưới công ty xuất hiện trong tất cả các loại hình bán lẻ, nhưng phát triển mạnh
nhất là ở cửa hàng bách hóa tổng hợp, các cửa hàng tạp hóa, các cửa hàng thực
phẩm, cửa hàng dược phẩm, cửa hàng giày dép và cửa hàng trang phục phụ nữ.
Mạng lưới tự nguyện và hợp tác xã bán lẻ: Mạng lưới tự nguyện gồm một nhóm
những người bán lẻ độc lập được người bán sỉ bảo trợ thu xếp để mua số lượng
lớn hàng hóa và cùng bán. Hợp tác xã bán lẻ, gồm những người bán lẻ độc lập
đứng ra thành lập một tổ chức mua hàng tập trung và cùng hợp lực để thực hiện
những biện pháp khuyến mại.
Hợp tác xã tiêu thụ: Hợp tác xã tiêu thụ là mọi công ty bán lẻ thuộc quyền
sở hữu của chính những khách hàng của nó. Hợp tác xã tiêu thụ do dân cư của
một cộng đồng lập ra khi họ cảm thấy rằng những người bán lẻ ở địa phương
phục vụ không chu đáo, vì đòi giá cao hay bán những sản phẩm kém chất lượng.
Họ chung tiền để mở một cửa hàng của chính mình rồi họ biểu quyết về những
chính sách của cửa hàng đó và bầu ra một nhóm người để quản lý nó. Cửa hàng
có thể hoặc là định giá thấp, hoặc là bán theo giá bình thường và các xã viên có
quyền được chia lợi tức theo số lượng hàng mà họ đã mua.
Tổ chức đặc quyền: Tổ chức đặc quyền là một sự liên kết theo hợp đồng
giữa người cấp đặc quyền (nhà sản xuất, người bán sỉ hay tổ chức dịch vụ) và
người hưởng đặc quyền (những người kinh doanh độc lập mua quyền sở hữu
hay khai thác một hay nhiều đơn vị trong hệ thống đặc quyền). Các tổ chức đặc
quyền thường được xây dựng trên cơ sở một sản phẩm, dịch vụ đặc sắc nào đó
hay phương pháp kinh doanh hay trên cơ sở tên thượng mại bằng sáng chế hay
uy tín mà người đặc quyền đã tạo ra. Việc cấp đặc quyền được áp dụng phổ biến
đối với thức ăn nhanh, cửa hàng video, trung tâm phục hồi sức khỏe, hiệu hớt
tóc, cửa hiệu cho thuê ô tô, motel, công ty du lịch, bất động sản và hàng chục
các sản phẩm cùng lĩnh vực dịch vụ khác.
13
Tập đoàn bán lẻ: Các tập đoàn bán lẻ là những công ty dạng tự do, kết
hợp với một số hướng và hình thức bán lẻ khác nhau dưới quyền sở hữu tập
trung với sự nhất thể hóa tới một mức độ nào đó chức năng phân phối và quản lý
của mình.
1.2.3 Vai trò của phân phối bán lẻ trong nền kinh tế quốc dân
1.2.3.1 Cung cấp hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng
Khi phát sinh nhu cầu thì người ta mới có mong muốn về hàng hóa nhưng
không phải lúc nào người tiêu dùng có thể đến mua hàng hóa trực tiếp từ các nhà
sản xuất, nhà bán buôn được. Nhà bán lẻ mới thực sự có vai trò nhu cầu và
mong muốn đó của người tiêu dùng, cung cấp hàng hóa cho họ đúng thời gian,
đúng địa điểm và ở mức giá họ có thể trả. Đây không phải công việc dễ dàng,
đặc biệt trong điều kiện hàng hóa và dịch vụ sản xuất ngày càng đa dạng và nhu
cầu của khách hàng luôn biến đổi. Nhà bán lẻ phải luôn luôn thu thập những
thông tin cần thiết về nhu cầu về thị hiếu của khách hàng… để rồi từ đó làm thỏa
mãn khách hàng bằng những sản phẩm và dịch vụ của mình. Như thế bản thân
hoạt động phân phối bán lẻ hàng hóa cũng tạo thêm lợi ích cho người tiêu dùng
thông qua việc tạo ra sự đa dạng về hàng hóa cung ứng, tạo thuận tiện về địa
điểm mua, bán, thuận tiện về các dịch vụ bảo hành và cung cấp thông tin. Khi có
nhiều doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực phân phối hàng hóa thì chi phí trong
khâu phân phối được chuyển vào giá bán cho người tiêu dùng, do vậy cạnh tranh
trong dịch vụ phân phối hàng hóa sẽ góp phần làm giảm chi phí phân phối và
việc giảm giá bán cuối cùng cho người tiêu dùng.
1.2.3.2 Thu thập thông tin thị trường, phản ánh trở lại nhà sản xuất
Quá trình chuyển dịch hàng hóa tới tay người tiêu dùng thông qua dịch vụ
phân phối bán lẻ luôn gắn liền với nhu cầu thực tế của thị trường cả về sản
phẩm, thời gian và không gian nên có thể chuyển tải những thông tin cần thiết
về nhu cầu thị trường cho những người sản xuất và người cung ứng hàng hóa để
điều chỉnh theo những điều kiện của thị trường, vì thế tạo lập những cầu nối để
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét