Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần phải
có ba yếu tố cơ bản là. T liệu lao động, đối tợng lao động và sức lao động của
con ngời. Quá trình sử dụng các yếu tố cơ bản trong sản xuất cũng đồng thời là
quá trình doanh nghiệp phải chi ra những chi phí sản xuất tơng ứng. Xét về mặt
kết cấu chi phí sản xuất chính là giá trị của sản phẩm dịch vụ và bao gồm ba bộ
phận là: C + V + M
Xét về mặt lợng chi phí sản xuất phụ thuộc vào hai nhân tố:
- Khối lợng lao động và t liệu sản xuất đã tham gia trong một thời kỳ
nhất định.
- Giá cả t liệu sản xuất đã tiêu hao trong quá trình sản xuất và tiền lơng
của một đơn vị t liệu lao động đã hao phí.
Điều này cho thấy trong điều kiện giá cả thị trờng thờng xuyên biến động
thì việc hạch toán chính xác các chi phí sản xuất không những là một tất yếu
khách quan mà còn là một vấn đề cần đợc quan tâm và coi trọng nhằm xác định
đúng đắn chi phí sản xuất, phù hợp với giá cả thực tại, tạo điều kiện cho doanh
nghiệp bảo toàn vốn theo yêu cầu của chế độ quản lý kinh tế mới hiện nay.
Trong các đơn vị sản xuất ngoài những chi phí có tính chất sản xuất còn
có những chi phí không có tính chất sản xuất chỉ là các chi phí để tiến hành hoạt
động sản xuất kinh doanh. Vì vậy, chúng ta cần phải phân biệt chi phí và chi
tiêu, điều này có nghĩa trong việc tìm hiểu bản chất cũng nh xây dựng phạm vi
phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất. Chỉ có những chi phí bỏ ra để tiến hành
hoạt động sản xuất kinh doanh mới đợc coi là chi phí sản xuất, còn chi tiêu chỉ
là sự giảm đi đơn thuần của các tài sản, vật t, tiền vốn cho nên doanh nghiệp
không kể nó đợc dùng vào việc gì. Chi tiêu là cơ sở phát sinh chi phí, không có
chi tiêu thì không có chi phí. song giữa chúng lại có sự khác nhau về lợng và
thời gian, chi tiêu có thể là chi phí sản xuất hoặc có thể chia phải là chi phí sản
xuất. Mặt khác cũng có khoản chi tiêu cha xảy ra hoặc đã xảy ra ở kỳ kế hoạch
(hạch toán trớc) đợc tính vào chi phí sản xuất kỳ này.
Ngoài ra cũng cần thấy sự khác nhau giữa chi phí sản xuất và chi phí phát
sinh. Chi phí phát sinh bao gồm cho cả mục đích sản xuất và mục đích ngoài
sản xuất. Xét về phạm vi thì chi phí sản xuất có phạm vi hẹp hơn chi phí phát
sinh. Thực chất chi phí sản xuất ở các doanh nghiệp là sự chuyển dịch vốn của
86
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
các doanh nghiệp bỏ vào quá trình sản xuất kinh doanh, là cơ sở để xây dựng
chính xác giá cả sản phẩm hàng hoá của một doanh nghiệp trong kỳ kinh
doanh. Chi phí sản xuất của doanh nghiệp phát sinh thờng xuyên trong suốt quá
trình tồn tại và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nhng để phục
vụ cho quản lý và hạch toán kinh doanh, chi phí sản xuất phải đợc tập hợp tính
toán theo từng thời kỳ, hàng tháng, hàng quý, hàng năm phù hợp với kỳ báo
cáo.
2. Phân loại chi phí sản xuất.
Trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, chi phí sản xuất gắn liền
với quá trình sử dụng vật t, lao động trong sản xuất. Quản lý chi phí sản xuất là
quản lý việc sử dụng hợp lý, tiết kiệm vật t lao động. Mặt khác muốn tiết kiệm
chi phí và hạ giá thành sản phẩm thì không có cách nào khác là phải quản lý tốt
từ công tác hạch toán chi phí bởi vì chi phí chính là cơ sở để cấu thành giá
thành. Việc thực hiện sản xuất sản phẩm là quá trình doanh nghiệp phải bỏ ra
những chi phí nhất định. Do đặc điểm của chi phí sản xuất là phát sinh từng
ngày, gắn liền với từng vị trí sản xuất, từng xí nghiệp và loại hình hoạt động
kinh doanh nên việc tổng hợp tính toán chi phí sản xuất đợc tiến hành theo
khoảng thời gian nhất định. Để quản lý và kiểm tra chặt chẽ việc thực hiện các
định mức chi phí, tính toán đợc hiệu quả, tiết kiệm đợc chi phí từng bộ phận sản
xuất và toàn xí nghiệp thì cần phải tiến hành phân loại chi phí sản xuất. Việc
phân loại cũng nhằm xác định lại đối tợng hạch toán chi phí sản xuất một cách
phù hợp. Hơn nữa khái niệm chi phí phức tạp mà ngời quản lý lại yêu cầu thông
tin chi phí theo nhiều góc độ khác nhau với những yêu cầu thực tế khác nhau.
Đối với công tác kế toán việc phân loại chi phí cũng phục vụ trực tiếp và có tác
dụng nhiều mặt.
Trong thực tế chi phí bao gồm nhiều loại khác nhau về nội dung kinh tế,
về tính chất kinh tế cũng nh mục đích, công dụng, vai trò của nó trong việc tạo
ra sản phẩm, về đặc điểm phát sinh chi phí, để đáp ứng yêu cầu quản lý kế toán
cần thiết phải tiến hành phân loại chi phí sản xuất theo tiêu thức thích hợp. Sau
đây là một số cách phân loại chủ yếu.
86
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
a. Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo tính chất, nội dung
kinh tế.
Theo cách phân loại này, căn cứ vào tính chất, nội dung kinh tế của chi
phí sản xuất khác nhau để chia ra các yếu tố chi phí, mỗi yếu tố chi phí chỉ bao
gồm những chi phí có cùng một nội dung kinh tế, không phân biệt chi phí đó
phát sinh ở lĩnh vực hoạt động nào, ở đâu và mục đích hoặc tác dụng của chi phí
nh thế nào. Toàn bộ chi phí sản xuất trong kỳ đợc chia ra làm các yếu tố sau.
- Chi phí nguyên vật liệu: Bao gồm toàn bộ các chi phí về nguyên vật
liệu, vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, vật liệu thiết bị
xây dựng cơ bản.
- Chi phí nhân công. Bao gồm toàn bộ tiền công phải trả, tiền trích bảo
hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, kinh phí công đoàn của công nhân và nhân viên
hoạt động sản xuất trong doanh nghiệp.
- Chi phí khấu hao tài sản cố định. Bao gồm toàn bộ số tiền khấu hao
trong kỳ đối với tất cả các tài sản cố định trong doanh nghiệp.
- Chi phí khác bằng tiền. Bao gồm toàn bộ số chi phí khác dùng cho hoạt
động sản xuất ngoài 4 yếu tố chi phí trên.
Trong việc quản lý chi phí sản xuất cách phân loại này có tác dụng rất
lớn căn cứ vào đó có thể biết đợc kết cấu, tỷ trọng từng loại chi tiết để phân tích
đánh giá tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất, lập bảng thuyết minh báo
cáo tài chính phục vụ cho yêu cầu thông tin và quản trị doanh nghiệp từ đó lập
dự toán chi phí sản xuất, lập kế hoạch cung ứng vật t cho kỳ sau.
b. Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo mục đích, công dụng
của chi phí:
Mỗi yếu tố chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ đều có mục đích và công
dụng nhất định đối với hoạt động sản xuất. Theo cách phân loại này căn cứ vào
mục đích và công dụng của chi phí trong sản xuất để chia ra các khoản mục chi
phí khác nhau, mỗi khoản mục chỉ bao gồm những chi phí có cùng mục đích và
công dụng, không phân biệt chi phí đó có nội dung kinh tế nh thế nào.
Toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ đợc chia thành.
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. Bao gồm chi phí về nguyên liệu, vật
liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu sử dụng vào mục đích trực tiếp sản xuất sản
86
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
phẩm, không tính vào khoản mục này những chi phí nguyên liệu, vật liệu sử
dụng vào mục đích sản xuất chung và những hoạt động ngoài sản xuất.
- Chi phí nhân công trực tiếp. Bao gồm chi phí về tiền công, tiền trích của
công nhân trực tiếp sản xuất, không tính vào khoản mục này số tiền công và
tiền trích của công nhân viên sản xuất chung và nhân viên quản lý, nhân viên
bán hàng.
- Chi phí sản xuất chung. Là những chi phí dùng cho hoạt động sản xuất
chung ở các phân xởng, tổ đội sản xuất. Ngoài hai khoản mục chi phí trực tiếp
trên nó còn bao gồm các khoản: chi phí nhân viên phân xởng, chi phí vật liệu,
chi phí dụng cụ sản xuất, chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí dịch vụ mua
ngoài, chi phí bằng tiền khác. Phân loại chi phí sản xuất theo cách này có tác
dụng phục vụ cho yêu cầu quản lý chi phí sản xuất theo định mức, cung cấp số
liệu cho công tác tính giá thành và để lập định mức chi phí và giá thành kế
hoạch cho kỳ sau.
c. Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ với khối lợng sản
phẩm.
Theo cách phân loại này thì chi phí đợc chia làm hai loại:
- Chi phí biến đổi (hay biến phí - VC) là những chi phí có sự thay đổi về
lợng tơng quan tỷ lệ thuận với sự thay đổi của khối lợng sản phẩm sản xuất
trong kỳ nh: chi phí vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp.
- Chi phí cố định (hay định mức - FC) là chi phí của các yếu tố hoặc dịch
vụ không thay đổi so với sự thay đổi của khối lợng sản xuất. Việc phân loại chi
phí theo cách này chỉ là tơng đối. Nó chỉ tồn tại trong điều kiện sản xuất ngắn
hạn. Trong điều kiện sản xuất dài hạn thì mọi yếu tố chi phí đều là biến phí.
Phân loại chi phí theo cách này có tác dụng rất lớn trong quản lý doanh nghiệp .
Nó giúp cho các nhà quản lý có thể đánh giá chính xác hơn tính hợp lý của các
chi phí sản xuất . Quan trọng hơn nữa là nó giúp cho các nhà quản trị doanh
nghiệp thực hiện việc phân tích mối quan hệ giữa chi phí - khối lợng -lợi nhuận
thông qua việc phân tích điều hoà vốn . Đây là cơ sở để doanh nghiệp đa ra các
quyết định quản lý cần thiết để hạ giá thành sản phẩm tăng hiệu quả kinh doanh
.
86
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
d. Phân loại chi phí sản xuất theo phơng pháp tổng hợp chi phí sản
xuất và mối quan hệ với đối tợng chịu chi phí .
Theo cách phân loại này chi phí sản xuất chia làm hai loại:
-Chi phí trực tiếp: Là những chi phí sản xuất quan hệ trực tiếp đối với
việc sản xuất ra một loại sản phẩm , một công việc, chi phí này có thể căn cứ
vào số liệu chứng từ kế toán để ghi trực tiếp cho từng đối tợng chịu chi phí .
-Chi phí gián tiếp: Là những chi phí sản xuất có liên quan đến việc sản
xuất nhiều loại sản phẩm , nhiều loại công việc, chi phí này kế toán phải tiến
hành phân bổ cho các đối tợng có liên quan theo một tiêu chuẩn thích hợp, cách
phân loại này có ý nghĩa đối với việc xác định phơng pháp kế toán tập hợp và
phân bổ cho các đối tợng một cách đúng đắn và hợp lý.
Sau đây chúng ta sẽ xem cách thức phân loại chi phí của hệ thống kế toán
một số nớc phát triển.
*Theo kế toán Pháp.
Ngời Pháp coi chi phí là giá phí phải trả khi sử dụng đồ vật và dịch vụ
nhằm mục đích sinh lời, chi phí là khoản chi nhằm giảm vốn của công ty nhng
vẫn phải thực hiện theo hi vọng là số thu nhập mang lại sẽ làm tăng thêm vốn.
Theo quan niệm này thì chi phí đợc phân chia theo các yếu tố sau.
- Chi phí về nhân viên. Bao gồm các khoản chi về lơng, thởng, phụ cấp.
- Chi về thuế và các khoản thuế phải nộp
- Chi về công tác dịch vụ mua ngoài
- Chi phí quảng cáo, quà tặng, chi phí vận chuyển, chi phí bu điện, ngân
hàng
-Chi phí quản lý thông thờng
-Chi phí tài chính, vay phải trả, triết khấu phải trả
-Chi phí đặc biệt
Tuy nhiên cũng theo khái niệm trên nếu chi phí là tiền bỏ ra để mua các
yếu tố cần thiết để tạo ra sản phẩm mang lại cho xí nghiệp thì chi phí bao gồm
hai bộ phận
Chi phí mua hàng, vật t, các loại dự trữ sản xuất .
-Các phí tổn phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh
*Theo kế toán Mỹ
86
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Chi phí cho hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm toàn bộ tất cả các
chi phí và nguồn đợc sử dụng để mang lại cho doanh thu.
Nếu phân loại chi phí liên quan đến khối lợng sản xuất thì chi phí có 2 loại
- Chi phí bất biến :Là phần chi phí hầu nh giữ nguyên tổng số tiền với
mọi khối lợng sản phẩm đợc sản xuất ra
- Chi phí khả biến:Là phần chi phí có xu hớng tăng theo giá tăng của
khối lợng sản phẩm sản xuất ,và có xu hớng giảm với sự giảm sút của số lợng
sản phẩm
Nếu xem xét chi phí liên quan đến báo cáo kết quả kinh doanh thì:
-Chi phí định mức Là chi phí phải gánh chịu đợc xác định trớc
-Chi phí lịch sử. Là chi phí thực tế đã phải gánh chịu
Nh vậy dù phân loại cách nào thì chi phí cũng có chung bản chất tuy
nhiên theo hệ thống kế toán Mỹ và Việt Nam thì sự phân loại chi phí rõ ràng
hơn từ đó giúp cho việc xác định giá thành đợc chính xác. Còn phân loại theo hệ
thống kế toán Pháp có nhợc điểm là khó xác định giá thành sản phẩm hơn.
3. Vai trò và chức năng của chi phí sản xuất
Quá trình sản xuất và sản phẩm cũng là quá trình doanh nghiệp phải bỏ
ra các chi phí cho sản xuất. Đây là điều kiện vật chất bắt buộc để đem lại lợi
nhuận cho một doanh nghiệp . Để có thể tồn tại và phát triển mỗi doanh nghiệp
đều phải tìm mọi biện pháp, sử dụng các công cụ kinh tế để cắt giảm chi phí sản
xuất. Muốn có đợc những quyết định đúng đắn kịp thời đối với các hoạt động
doanh nghiệp, các nhà quản lý cần phải đợc cung cấp đầy đủ , kịp thời và chính
xác các thông tin nhiều mặt của thị trờng cũng nh nội bộ doanh nghiệp. Đặc
biệt là các thông tin về chi phí sản xuất,mỗi ngành sản xuất vật chất của xã hội
đều có những đặc điểm kỹ thuật riêng và từ đó hình thành nên các loại chi phí
khác nhau.Chính vì vậy trong quá trình sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp
phải luôn luôn quan tâm đến việc quản lý chi phí, phải có những kế hoạch, dự
toán chi phí đối với từng kỳ kinh doanh. Việc xác định chính xác những khoản
mục chi phí phát sinh trong doanh nghiệp có tác dụng tới việc tính gía thành sản
phẩm. Vì vậy đợc cung cấp cấc thông tin đúng, đầy đủ, chính xác về chi phí sản
xuất sẽ dẫn đến việc đa ra các quyết định đúng đắn cho quản trị doanh nghiệp .
86
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
II. Gía thành sản phẩm và phân loại giá thành sản
phẩm trong doanh nghiệp
1. Bản chất của giá thành sản phẩm
Trong sản xuất, chi phí sản xuất mời chỉ là một mặt thể hiện sự hao phí.
Để đánh giá chất lợng sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp sản xuất ,chi
phí chi ra phải đợc xem xét trong mối quan hệ với mặt thứ hai, cũng là một cơ
sở của quá trình sản xuất đó là kết quả thu đợc. Quan hệ so sánh đó đã hình
thành nên chỉ tiêu giá thành sản phẩm.
Giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh là biểu
hiện bằng tiền của tất cả các khoản hao phí về lao động sống và lao động vật
hoá có liên quan đến khối lợng sản phẩm đã hoàn thành. Giá thành sản phẩm là
một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp thể hiện các mặt họat động của sản xuất kinh
doanh trong doanh nghiệp, là thớc đo mức tiêu hao để bù đắp trong quá trình
sản xuất,là một căn cứ xây dựng phơng án giá cả sản phẩm hàng hoá.
Chỉ tiêu giá thành đợc tính toán, xác định cho từng loại sản phẩm, lao vụ
cụ thể và chỉ tính toán với số lợng sản phẩm hoặc dịch vụ đã hoàn thành toàn bộ
quá trình sản xuất (thành phẩm) hoặc kết thúc một số giai đoạn sản xuất (bán
thành phẩm) chứ không tính cho sản phẩm đang nằm trên dây chuyền sản
xuất .
Mục đích sản xuất kinh doanh hay mục đích bỏ chi phí của doanh nghiệp
là tạo nên giá trị sử dụng nhất định để đáp ứng yêu cầu tiêu dùng của xã hội.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trờng, các doanh nghiệp luôn quan tâm đến hiệu
quả của các chi phí bỏ ra,để với chi phí bỏ ra ít nhất, thu đợc giá trị sử dụng lớn
nhất và luôn tìm biện pháp để hạ thấp chi phí nhằm mục đích thu lợi nhuận tối
đa. Trong hệ thống các chỉ tiêu kinh tế phục vụ cho công tác quản lý giá thành
sản phẩm là chỉ tiêu thoả mán nhu cầu, đáp ứng đợc các nội dung thông tin trên.
Giá thành trong một chừng mực nhất định nó mang tính chủ quan vừa mang
tính khách quan. Vì vậy chúng ta cần phải xem xét giá thành trên nhiều góc độ
khác nhau, nhằm sử dụng chỉ tiêu giá thành có hiệu quả nhất. Giá thành là biểu
hiện bằng tiền lơng lao động kết tinh trong một đơn vị sản phẩm hàng hoá. Do
vậy nó mang tính chất khách quan do sự di chuyển và kết tinh này là điều tất
86
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
yếu. Việc tính toán đo lờng và biểu hiện chúng bằng tiền chỉ là phản ánh của
quản lý mà thôi. Mặt khác giá thành là một đại lợng đợc tính toán trên cơ sở chi
phí sản xuất chi ra trong kỳ nên nó là một chỉ tiêu có sự lao động nhất định.
Trên góc độ này giá thành mang tính chủ quan.
Giá thành sản phẩm luôn chứa đựng hai mặt khác nhau, vốn có bên trong
nó là chi phí sản xuất đã chi ra và lợng giá trị sử dụng thu đợc cấu thành trong
khối lợng sản phẩm, công việc đã hoàn thành. Nh vậy bản chất của giá thành
sản phẩm là sự chuyển dịch giá trị của các yếu tố chi phí và những sản phẩm,
công việc đã hoàn thành. Giá thành có hai chức năng chủ yếu là chức năng thớc
đo bù đắp chi phí và chức năng lập giá. Toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra
để hoàn thành một khối lợng sản phẩm , công việc phải đợc bù đắp bằng chính
số tiền thu về tiêu thụ , bán sản phẩm lao vụ . Việc bù đắp các chi phí đầu t vào
đó mới chỉ đảm bảo đợc quá trình tái sản xuất giản đơn. Mục đích sản xuất và
nguyên tắc kinh doanh trong cơ chế thị trờng đòi hỏi các doanh nghiệp phải bảo
đảm trang trải, bù đắp mọi chi phí đầu t vào quá trình sản xuất và phải có lãi.
2. Phân loại giá thành sản phẩm
Trong lý luận cũng nh trong thực tiễn công tác quản lý kế hoạch hoá giá
thành từ khâu chỉ đạo thực hiện tổng kết rút kinh nghiệm ở các xí nghiệp công
nghiệp ta thờng gặp nhiều loại giá thành khác nhau. Do vậy để quản lý tốt chỉ
tiêu giá thành ta cần phải phân loại chúng . Việc phân loại giá thành sẽ giúp
phân tích đợc những biến động của chỉ tiêu giá thành và chiều hớng của chúng
để có biện pháp thích hợp nhằm hạ giá thành sản phẩm. Căn cứ các tiêu thức
khác nhau ngời ta phân thành các loại khác nhau.
2.1. Phân loại giá thành theo thời gian và cơ sở số liệu tính giá thành
Căn cứ vào thời gian và cơ sở số liệu tính giá thành sản phẩm chia làm:
-Giá thành kế hoạch :Việc tính toán xác định giá thành kế hoạch sản
phẩm đợc tiến hành trớc khi bắt đầu quá trình sản xuất, dựa trên chi phí sản
xuất kế hoạch và sản lợng kế hoạch và đợc xem là mục tiêu phấn đấu của doanh
nghiệp , là cơ sở để phân tích đánh gía tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và
kế hoạch hạ giá thành sản phẩm của doanh nghiệp .
86
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
-Giá thành định mức:Việc tính gía thành định mức đợc thực hiện trớc khi
tiến hành quá trình sản xuất dựa trên các định mức, dự án chi phí tiến hành và
chi phí cho đơn vị sản phẩm. Giá thành định mức đợc xem là thớc đo chính xác
để xác định kết quả sử dụng tài sản, vật t, tiền vốn của doanh nghiệp trong sản
xuất, giúp cho đánh gía đúng đắn các giải pháp kinh tế mà doanh nghiệp áp
dụng trong quá trình sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả của chi phí.
-Giá thành thực tế: Khác với hai loại giá thành trên, giá thành thực tế chỉ
đợc xác định khi quá trình sản xuất đã hoàn thành và dựa trên cơ sở số liệu chi
phí thực tế đã phát sinh và tập hợp đợc trong kỳ và sản lợng sản phẩm thực tế
đã sản xuất ra trong kỳ. Gía thành thực tế là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh
kết quả phấn đấu của doanh nghiệp trong việc tổ chức và sử dụng các giải pháp
kinh tế tổ chức-kỹ thuật để thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm, là cơ sở để
xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có ảnh hởng
trực tiếp đến thu nhập của doanh nghiệp .
2.2. Phân loại giá thành theo phạm vi tính toán
Theo cách phân loại này giá thành đợc chia thành:
-Giá thành sản xuất (hay giá thành công xởng) bao gồm các chi phí liên
quan đén việc sản xuất , chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xởng sản xuất
(chi phí vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung) giá
thành sản phẩm là căn cứ để tính toán giá vốn hàng hoá và lãi gộp ở các doanh
nghiệp sản xuất .
- Giá thành toàn bộ: Bao gồm giá thành sản xuất cộng thêm chi phí phát
sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm(chi phí quản lý và chi phí
bán hàng). Giá thành toàn bộ chỉ đợc tính toán khi sản phẩm, công việc đã đợc
tiêu thụ, là căn cứ để tính toán xác định lãi tớc thuế lợi tức của doanh nghiệp.
Để quản lý tốt giá thành ngoài việc quản lý tổng giá thành còn phải quản
lý chung về mặt kết cấu. Trong đó kết cấu giá thành của sản phẩm là tỷ trọng
của từng khoản mục trong giá thành, kết cấu này thờng khác nhau giữa các
ngành sản xuất, loại hình sản xuất và giữa các doanh nghiệp. Phù hợp với quá
trình phát triển của trình độ sản xuất quản lý các quan niệm về giá thành sản
phẩm có nhiều điểm khác nhau giữa các nớc trong từng thời kỳ.
*Trong hệ thống kế toán phát giá thành sản phẩm bao gồm.
86
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- Giá mua các vật liệu tiêu hao: Là các chi phí để mua vật liệu chế tạo sản
phẩm.
- Chi phí trực tiếp sản xuất: Các chi phí chi ra để tham gia trực tiếp vào
quá trình sản xuất.
- Chi phí gián tiếp: Có thể phân bổ hợp lý vào giá thành sản phẩm. Hệ
thống này không cho phép tính vào giá thành sản phẩm các loại chi phí.
- Chi phí tài chính. Là các chi phí phải chi ra trong các nghiệp vụ tài chính.
- Chi phí su tầm và phát triển. Là các khoản chi phí mà doanh nghiệp đã đầu
t trong lĩnh vực su tầm và phát triển nhằm phục vụ lợi ích cho doanh nghiệp.
- Các chi phí quản lý chung. Các chi phí chi ra phục vụ cho quản lý
doanh nghiệp.
Nh vậy theo hệ thống kế toán pháp chỉ có những chi phí liên quan trực
tiếp đến quá trình sản xuất sản phẩm mới đợc tính vào giá thành sản phẩm các
chi phí khác đợc sử dụng không xác định kết quả sản xuất kinh doanh trong kỳ.
Điều này đảm bảo đợc tính khách quan, chính xác của chỉ tiêu hàng tháng.
*Trong hệ thống kế toán Mỹ. Cũng chỉ cho phép tính vào giá thành sản
phẩm các chi phí trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất.Nh vậy chỉ có các
khoản chi phí về nguyên vật liệu chính, tiền lơng công nhân trực tiếp sản xuất,
các chi phí quản lý phân xởng mới đợc tính vào giá thành.Còn các chi phí ngoài
sản xuất nh chi phí tài chính, chi phí bán hàng chỉ dùng để xác định kết quả
không đợc tính vào giá sản phẩm.
Nh vậy qua hai hệ thống kế toán nêu trên cho thấy rằng thông lệ quốc tế
trong giá thành chỉ bao gồm các yếu tố chi phí liên quan trực tiếp đến quá trình
sản xuất sản phẩm.
3. ý nghĩa vai trò của chỉ tiêu giá thành đối với công tác quản trị.
Giá thành là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh chất lợng hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chỉ tiêu giá thành sản phẩm chủ yếu
phục vụ cho yêu cầu quản trị doanh nghiệp, là cơ sở để xác định kết quả hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp. Việc tính đúng, tính đủ giá thành giúp cho
việc phản ánh đúng tình hình thực hiện và kết quả thực hiện giá thành của
doanh nghiệp xác định đúng đắn kết quả của kỳ kinh doanh. Thông qua việc
86
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét