Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Chương 1. Tổng quan về ngân hàng thương mại
Chương 1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Lịch sử hình thành ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại đã hình thành, tồn tại và phát triển gắn liền với sự phát triển của
kinh tế hàng hoá. Chúng ta có thể khái quát lịch sử hình thành và phát triển ngân hàng
thương mại qua các giai đoạn như sau:
− Thời kì sơ khai:
+ Từ 3500-1800 trước Công Nguyên, tiền đúc bằng kim loại đã xuất hiện trong lưu
thông. Trong khi đó chiến tranh giữa các bộ tộc xảy ra ngày càng phức tạp. Điều
đó làm nảy sinh nhu cầu về bảo vệ an toàn tiền bạc và đổi những đồng tiền bị hao
mòn. Nghề ngân hàng ra đời với những nghiệp vụ đơn giản như nhận bảo quản
tiền, đổi tiền đúc…
+ Từ 1800 TCN-thế kỉ IV sau CN, hoạt động của ngân hàng đã tiến triển thêm một
bước mới: do xuất hiện lượng tiền nhàn rỗi (trong cùng một thời gian có người
đến rút tiền nhưng cũng có người đến gửi tiền vào) nên ngân hàng có thêm hoạt
động cho vay; từ thế kỉ III TCN, chính quyền La Mã cho phép những người hành
nghề ngân hàng mở tiệm kinh doanh.
− Thời kì từ thế kỉ V-XVII:
+ Các ngân hàng biết sử dụng số hiệu tài khoản để ghi chép, theo dõi tiền gửi, tiền
cho vay…
+ Các nghiệp vụ thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng bắt đầu phát triển.
+ Đến cuối thế kỉ XVII, các nghiệp vụ của ngân hàng đã hoàn thiện, bao gồm: nhận
tiền gửi, cho vay, phát hành tiền giấy có thể chuyển đổi ra vàng, chiết khấu
thương phiếu, chuyển tiền, thanh toán bù trừ…
− Thời kì từ thế kỉ XVIII đến cuối thế kỉ XIX:
+ Nhà nước bắt đầu can thiệp vào hoạt động ngân hàng.
+ Hệ thống ngân hàng được chia thành hai nhóm: ngân hàng phát hành được phép
phát hành tiền và ngân hàng trung gian không được phép phát hành tiền.
− Thời kì từ đầu thế kỉ XX đến nay:
+ Nhà nước nắm lấy các ngân hàng phát hành để điều tiết các hoạt động kinh tế vĩ
mô.
+ Hệ thống ngân hàng được cấu thành bởi hai bộ phận: ngân hàng trung ương và
ngân hàng trung gian.
1.2 Khái niệm
Cho đến thời điểm hiện nay xuất hiện rất nhiều khái niệm về ngân hàng thương mại.
Tại Việt Nam, Luật Tổ chức tín dụng (2004) đã xác định “Ngân hàng là một loại hình tổ
chức tín dụng, hoạt động của ngân hàng là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm
hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu và làm
phương tiện thanh toán”. Tại Mỹ, ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ,
Chương 1. Tổng quan về ngân hàng thương mại
chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính.
Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là những
xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới
hình thức kí thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ
trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”.
Như vậy, có thể nói ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh về tiền
tệ với hoạt động thường xuyên là huy động vốn, cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, cung cấp
các dịch vụ tài chính và các hoạt động khác có liên quan. Ngân hàng thương mại là tổ chức
tài chính trung gian cung cấp danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất.
Ngân hàng thương mại có các đặc điểm sau:
− Ngân hàng thương mại hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tài chính và tín
dụng.
− Hoạt động của ngân hàng thương mại được phân vào nhóm hoạt động kinh doanh có
mức độ rủi ro cao.
− Sự tồn tại và phát triển của ngân hàng thương mại phụ thuộc rất lớn vào sự tín nhiệm
của khách hàng.
Giữa các ngân hàng thương mại có tác động trực tiếp, ảnh hưởng dây chuyền với nhau.
1.3 Phân loại ngân hàng thương mại
– Căn cứ vào hình thức sở hữu có thể phân loại gồm:
+ NHTM quốc doanh: là các ngân hàng kinh doanh bằng vốn cấp phát cùa
ngân hàng nhà nước.VD: Tại Việt Nam: Ngân hàng nông nghiệp và phát
triển nông thôn Việt Nam (Agribank), Ngân hàng công thương Việt Nam
(Incombank), Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV)…
+ NHTM cổ phần: là những ngân hàng hoạt động như công ty cổ phần, nguồn
vốn ban đầu do các cổ đông đóng góp.VD tại Việt Nam: Ngân hàng Á châu
(ACB), Ngân hàng Đông Á (DongABank), Ngân hàng kĩ thương Việt Nam
(Techcombank)…
+ NHTM liên doanh: có vồn được góp bởi một bên là ngân hàng trong nước và
bên còn lại là ngân hàng nước ngoài.VD tại Việt Nam: Indovina bank,
Vinasiam, Shinhanvina…
+ NHTM 100% vốn nước ngoài, chi nhánh NHTM nước ngoài.VD tại Việt
Nam: Ngân hàng ANZ (Australia và New Zealand), ABN Armo Bank (Hà
Lan)…
– Căn cứ vào chiến lược kinh doanh:
+ Ngân hàng bán buôn: là ngân hàng tập trung cung cấp một vài sản phẩm
cho khách hàng, tuy số lượng sản phẩm không lớn nhưng giá trị của từng
sản phẩm là rất lớn. Khách hàng của ngân hàng chủ yếu là các công ty, xí
nghiệp có quy mô lớn. các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty.
Chương 1. Tổng quan về ngân hàng thương mại
+ Ngân hàng bán lẻ: ngân hàng loại này chú trọng đến việc đa dạng hóa sản
phẩm. Số lượng sản phẩm rất nhiều, rất lớn để đáp ứng nhu cầu của nhiều
khách hàng. Tuy giá trị của từng sản phẩm không lớn nhưng bù lại là một
lượng khách hàng rất lớn. Hoạt động của ngân hàng này chủ yếu là huy
động vốn từ mọi thành phần kinh tế, và cho vay để giải quyết vần đề tiêu
dùng hoặc các dự án sản xuất với quy mô nhỏ và vừa.
+ Ngân hàng vừa bán buôn vừa bán lẻ: là dạng ngân hàng bao gồm các hai
hoạt động nêu trên. Ngân hàng nhắm vào tất cả các dạng khách hàng từ nhỏ
đến lớn.
– Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động:
+ Ngân hàng chuyên doanh: chỉ hoạt động kinh doanh chuyên môn hóa trong
một lĩnh vực nào đó.
+ Ngân hàng đa năng, kinh doanh tổng hợp: là ngân hàng hoạt động ở nọi
lĩnh vực kinh tế và thực hiện bất kì nghiệp vụ nào được phép của ngân
hàng thương mại.
1.4 Cơ cấu tổ chức và mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại
1.4.1 Cơ cấu tổ chức :
– Đại hội đồng cổ đông: là cơ quan có thẩm quyền cao nhất của ngân hàng.
– Hội đồng quản trị: là cơ quan quản trị ngân hàng, có toàn quyền nhân danh ngân
hàng để quyết định, thực hiện mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền và nghĩa
vụ của ngân hàng, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội cổ đông (đối với
Ngân hàng thương mại cổ phần) hoặc chủ sở hữu (đối với Ngân hàng thương mại
nhà nước, Ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài được tổ chức dưới hình
thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên) hoặc thành viên góp vốn (đối với
Ngân hàng thương mại liên doanh, Ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài
được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên).
Chương 1. Tổng quan về ngân hàng thương mại
Hình: Cơ cấu tổ chức ngân hàng thương mại
– Ban kiểm soát: do Đại hội đồng cổ đông bầu ra, là cơ quan giám sát hoạt động ngân
hàng nhằm đánh giá chính xác hoạt dộng kinh doanh, thực trạng tài chính của ngân
hàng, việc chấp hành chế độ hạch toán, kế toán, hoạt động của hệ thống kiểm tra và
kiểm toán nội bộ của ngân hàng.
– Tổng giám đốc: là người điều hành công việc kinh doanh hàng ngày của ngân hàng,
chịu sự giám sát của hội đồng quản trị và Ban kiểm soát, chịu trách nhiệm trước Hội
Đồng Quản Trị và trước pháp luật về thực hiện quyền và nhiệm vụ hợp với quy
định.
– Phòng nghiệp vụ: là bộ phận chuyên trách thực hiện các hoạt động tác nghiệp kinh
doanh cụ thể của Ngân hàng thương mại, là các bộ phận trực tiếp giao dịch với
khách hàng.
1.4.2 Mạng lưới hoạt động:
– Hội sở: là cơ quan quản lí và chỉ đạo hoạt động của toàn hệ thống, đồng thời trực
tiếp thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng.
– Sở giao dịch: là đơn vị phụ thuộc trụ sở chính của ngân hàng thương mại, hạch toán
phụ thuộc, có con dấu, thực hiện hoạt động kinh doanh theo ủy quyền của Ngân
hàng thương mại.
– Chi nhánh: là đơn vị phụ thuộc ngân hàng thương mại, có con dấu, thực hiện hoạt
động kinh doanh theo ủy quyền của ngân hàng thương mại.
– Văn phòng đại diện: là đơn vị phụ thuộc Ngân hàng thương mại, có con dấu, thực
hiện chức năng đại diện theo ủy quyền của ngân hàng thương mại. Văn phòng đại
diện không được thực hiện hoạt động kinh doanh.
– Đơn vị sự nghiệp: là đơn vị phụ thuộc ngân hàng thương mại, có con dấu, thực hiện
một hoặc một số hoạt động kinh doanh theo ủy quyền của Ngân hàng thương mại
( hoạt động trong lĩnh vực tài chính, bảo hiểm, quản lý, khai thác, bán tài sản).
– Phòng giao dịch: là bộ phận phụ thuộc sở giao dịch hoặc chi nhánh của Ngân hàng
thương mại, hạch toán báo sổ, có con dấu, thực hiện một số giao dịch với khách
hàng theo ủy nhiệm của đơn vị trực tiếp quản lý.
1.5 Chức năng của ngân hàng thương mại
1.5.1 Chức năng trung gian tín dụng :
Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của Ngân hàng
thương mại. Ngân hàng thương mại đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người
có nhu cầu về vốn. Ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai
trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là các khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và
lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và
người đi vay.
1.5.2 Chức năng trung gian thanh toán:
Chương 1. Tổng quan về ngân hàng thương mại
Ở đây Ngân hàng thương mại đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân,
thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi
của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách
hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Các Ngân hàng thương mại
cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy
nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể
chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp. Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không
phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần
hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán.
Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh
toán an toàn. Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc
độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế.
1.5.3 Chức năng tạo tiền:
Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của ngân Ngân hàng
thương mại. Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và
phát triển của mình, các Ngân hàng thương mại với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc
thù của mình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế. Chức năng
tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của Ngân hàng thương mại là chức
năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân
hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử
dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh
toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để
mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống Ngân hàng thương mại
đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi
trả của xã hội. Ngân hàng thương mại là một tổ chức tín dụng mà hoạt động chủ yếu của
nó là kinh doanh tiền tệ.
Ví dụ: Giả sử ngân hàng A có khoản tiền gửi mới là 1.000.000đ, dự trữ bắt buộc là 10%
thì số tiền nó có thể cho vay là 900.000. Khoản tiền cho vay đó được đưa đến người vay,
người vay tiền không bao giờ vay tiền về mà cất trong nhà vì như thế họ phải chịu lãi một
cách vô ích, họ dùng tiền đó chi trả các khoản. Và số tiền đó đến tay người được chi trả,
người chi trả đem số tiền đó gửi vào ngân hàng B, ngân hàng B lúc này sẽ có một lượng
tiền gửi mới là 900.000. Dự trữ bắt buộc là 10%, số tiền có thể cho vay là 810.000. Số tiền
này được cho người cần vay vay, người cho vay chi trả các khỏan đến người được chi trả,
người được chi trả đem số tiền được trả gửi vào ngân hàng C. Lúc này ngân hàng C sẽ có
số tiền gửi mới là 810.000. Và cứ như thế tiếp tục… cho đến khi lượng tiền gửi mới bằng
0. Người ta tính được rằng lượng tiền gửi mới trong tòan hệ thống ngân hàng là
10.000.000, lượng tiền dự trữ bắt buộc là 1.000.000 và tiền cho vay là 9.000.000. Và do
cách thức này mà tiền đã được tạo ra trong hệ thống ngân hàng 2 cấp.
Tên các ngân hàng Tiền gửi mới Thanh toán cho
vay mới
Dự trữ bắt
buộc
A 1.000.000 900.000 100.000
Chương 1. Tổng quan về ngân hàng thương mại
B 900.000 810.000 90.000
C 810.000 729.000 81.000
… … … …
Tiền toàn hệ thống ngân hàng 10.000.000 9.000.000 1.000.000
1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của các ngân hàng thương mại
1.6.1 Sự gia tăng nhanh chóng trong danh mục sản phẩm dịch vụ:
Ngày nay, các ngân hàng đang mở rộng danh mục sản phẩm dịch vụ tài chính mà họ
cung cấp cho khách hàng. Quá trình mở rộng danh mục sản phẩm dịch vụ đã tăng tốc trong
những năm gần đây dưới áp lực cạnh tranh gia tăng từ các tổ chức tài chính khác, từ sự
hiểu biết và đòi hỏi cao hơn của khách hàng, và từ sự thay đổi công nghệ. Nó cũng làm
tăng chi phí của ngân hàng và dẫn đến rủi ro phá sản cao hơn. Các sản phẩm dịch vụ mới
đã có ảnh hưởng tốt đến ngành công nghiệp này thông qua việc tạo ra những nguồn thu
mới cho ngân hàng – các khoản lệ phí của dịch vụ không phải lãi, một bộ phận có xu
hướng tăng trưởng nhanh hơn so với các nguồn thu truyền thống từ lãi cho vay.
1.6.2 Sự gia tăng cạnh tranh:
Sự cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ tài chính đang ngày càng trở lên quyết liệt khi
ngân hàng và các đối thủ cạnh tranh mở rộng danh mục sản phẩm dịch vụ. Các ngân hàng
địa phương cung cấp tín dụng, kế hoạch tiết kiệm, kế hoạch hưu trí, dịch vụ tư vấn tài
chính cho các doanh nghiệp và người tiêu dùng, kế hoạch tiết kiệm, kế hoạch hưu trí, dịch
vụ tư vấn cho các doanh nghiệp và người tiêu dùng. Đây là những dịch vụ đang phải đối
mặt với sự cạnh tranh trực tiếp từ các ngân hàng khác, các hiệp hội tín dụng, ngân hàng
đầu tư Merrill Lynch, các công ty tài chính như GE Capital và các tổ chức bảo hiểm như
Prudential. Áp lực cạnh tranh đóng vai trò như một lực đẩy tạo ra sự phát triển dịch vụ cho
tương lai.
1.6.3 Sự gia tăng chi phí vốn:
Sự nới lỏng luật lệ kết hợp với sự gia tăng cạnh tranh làm tăng chi phí trung bình thực
tế của tài khoản tiền gửi – nguồn vốn cơ bản của ngân hàng. Với sự nới lỏng các luật lệ,
ngân hàng buộc phải trả lãi do thị trường cạnh tranh quyết định cho phần lớn tiền gửi.
Đồng thời, Chính phủ yêu cầu các ngân hàng phải sử dụng vốn sở hữu nhiều hơn – một
nguồn vốn đắt đỏ - để tài trợ cho các tài sản của mình. Điều đó buộc họ phải tìm cách cắt
giảm các chi phí hoạt động khác như giảm số nhân công, thay thế các thiết bị lỗi thời bằng
hệ thống xử lý điện tử hiện đại. Các ngân hàng cũng buộc phải tìm các nguồn vốn mới như
chứng khoán hóa một số tài sản, theo đó một số khoản cho vay của ngân hàng được tập
hợp lại và đưa ra khỏi bảng cân đối kế toán; các chứng khoán được đảm bảo bằng các món
vay được bán trên thị trường mở nhằm huy động vốn mới một cách rẻ hơn và đáng tin cậy
hơn. Hoạt động này cũng có thể tạo ra một khoản thu phí không nhỏ cho ngân hàng, lớn
hơn so với các nguồn vốn truyền thống (như tiền gửi).
Chương 1. Tổng quan về ngân hàng thương mại
1.6.4 Sự gia tăng các nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất:
Các qui định của Chính phủ đối với công nghiệp ngân hàng tạo cho khách hàng khả
năng nhận được mức thu nhập cao hơn từ tiền gửi, nhưng chỉ có công chúng mới làm cho
các cơ hội đó trở thành hiện thực. Và công chúng đã làm việc đó. Hàng tỷ USD trước đây
được gửi trong các tài khoản tiết kiệm thu nhập thấp và các tài khoản giao dịch không sinh
lợi kiểu cũ đã được chuyển sang các tài khoản có mức thu nhập cao hơn, những tài khoản
có tỷ lệ thu nhập thay đổi theo điều kiện thị trường. Ngân hàng đã phát hiện ra rằng họ
đang phải đối mặt với những khách hàng có giáo dục hơn, nhạy cảm với lãi suất hơn. Các
khoản tiền gửi “trung thành” của họ có thể dễ tăng cường khả năng cạnh tranh trên phương
diện thu nhập trả cho công chúng gửi tiền và nhạy cảm hơn với ý thích thay đổi của xã hội
về vấn đề phân phối các khoản tiết kiệm.
1.6.5 Cách mạng trong công nghệ ngân hàng:
Đối mặt với chi phí hoạt động cao hơn, từ nhiều năm gần đây các ngân hàng đã và đang
chuyển sang sử dụng hệ thống hoạt động tự động và điện tử thay thế cho hệ thống dựa trên
lao động thủ công, đặc biệt là trong công việc nhận tiền gửi, thanh toán bù trừ và cấp tín
dụng. Những ví dụ nổi bật nhất bao gồm các máy rút tiền tự động ATM, cho phép khách
hàng truy nhập tài khoản tiền gửi của họ 24/24 giờ; Máy thanh toán tiền POS được lắp đặt
ở các bách hóa và trung tâm bán hàng thay thế cho các phương tiện thanh toán hàng hóa
dịch vụ bằng giấy; và hệ thống máy vi tính hiện đại xử lý hàng ngàn giao dịch một cách
nhanh chóng trên toàn thế giới.
Chương 2. Nghiệp vụ ngân hàng thương mại
Chương 2. NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
2.1 Nghiệp vụ tài sản Nợ - Huy động vốn
Là nghiệp vụ huy động, tạo nguồn vốn kinh doanh cho NHTM. Hoạt động huy động vốn
được phản ánh thông qua cơ cấu nguồn vốn của NHTM, bao gồm:
− Vốn của ngân hàng
− Vốn tiền gửi
− Vốn đi vay
− Các nguồn vốn khác
2.1.1 Vốn của ngân hàng : là khoản vốn thuộc sở hữu của ngân hàng, bao gồm : vốn tự
có và vốn coi như tự có.
a.Vốn tự có gồm:
− Vốn điều lệ: là khoản vốn mà ngân hàng phải có để đi vào hoạt động và được ghi trong
bản điều lệ, được hình thành từ khi NHTM mới thành lập. Mức vốn này không được nhỏ
hơn vốn pháp định ( là số vốn tối thiểu theo luật định mà NH phải có để đi vào hoạt động).
Tùy theo loại hình mà nó được hình thành từ những nguồn khác nhau:
+ NHTM quốc doanh: do nhà nước cấp
+ NHTM cổ phần: là vốn góp của cổ đông
+ NH liên doanh: do các đối tác góp vốn
− Các quỹ và lợi nhuận chưa phân phối ( Quỹ dự trữ) bao gồm: quỹ dự trữ để bổ sung
vốn điều lệ và quỹ dự trữ đặc biệt để bù đắp rủi ro. Các quỹ này được trích từ lợi nhuận
ròng hàng năm theo những tỷ lệ quy định.
b. Vốn coi như tự có: bao gồm các khoản vốn tạm thời nhàn rỗi của ngân hàng. Là những
khoản vốn đã được phân bổ cho những mục đích chi tiêu nhất định nhưng tạm thời chưa
được sử dụng như: lợi nhuận chờ phân bổ, tiền lương chưa đến hạn thanh toán, quỹ khen
thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ khấu hao tài sản cố định…
Theo hiệp định Basel (chỉ áp dụng cho các nước tham gia ký kết) do ủy ban Basel về
giám sát hoạt động ngân hàng ( thuộc Ngân hàng thanh toán quốc tế - BIS) ban hành, vốn
của NH được chia thành 2 loại:
a.Vốn cấp 1 (vốn tự có cơ bản): gồm cổ phần thường, cổ phần ưu đãi dài hạn, thặng dư
vốn, lợi nhuận không chia, dự phòng chung các khoản dự trữ vốn khác…
b. Vốn cấp 2 (vốn tự có bổ sung): gồm cổ phần ưu đãi có thời hạn, các trái phiếu bổ sung
và giấy nợ. Vốn cấp 2 chỉ có thể đạt mức cao nhất là 50% so với tổng số vốn chủ sở hữu
của 1 ngân hàng. Các phương tiện tài chính trong vốn tự có bổ sung phải loại bỏ dần khỏi
vốn tự có của NH khi đến ngày đáo hạn.
2.1.2 Vốn tiền gửi : là nguồn vốn quan trọng nhất trong số vốn thu hút từ bên ngoài của
các NHTM, bao gồm:
a.Tiền gửi không kì hạn: được để trong các tài khoản gọi là tài khoản vãng lai.
Chương 2. Nghiệp vụ ngân hàng thương mại
Là loại tiền gửi mà người gửi có thể gửi vào và rút ra bất cứ lúc nào. Do tính chất đó nên
dạng tiền gửi này chỉ được hưởng lãi suất rất thấp hoặc không được NH trả lãi. Mục đích
của người gửi là nhằm đảm bảo an toàn về tài sản và thực hiện các hoạt động thanh toán
qua NH chứ không phải là để hưởng lãi. Vì vậy loại tiền gửi này còn gọi tiền gửi thanh
toán.
Hầu hết các tài khoản vãng lai đều ở dạng tài khoản có khả năng phát séc, tức là NH
cho phép người chủ tài khoản được phép phát hành séc để thanh toán. Chúng thường tồn
tại dưới các dạng sau:
− Tài khoản séc: là dạng tài khoản tiền gửi có khả năng phát séc phổ biến nhất, được trả
lãi rất thấp. Có 2 loại tài khoản séc là tài khoản séc của doanh nghiệp và tài khoản séc cá
nhân
− Tài khoản NOW: về bản chất đây là 1 dạng tài khoản tiền gửi cho phép phát hành séc
nhưng được hưởng lãi cao hơn tài khoản séc thông thường. Tài khoản này ra đời tại Mỹ
năm 1972. Những người gửi tiền vào tài khoản này với mong muốn vừa hưởng lãi cao, vừa
có thể thanh toán khi cần, tuy vậy các lệnh thanh toán này không thuận lợi như séc.
− Tài khoản tiền gửi thị trường tiền tệ: tiền gửi loại này dùng để đầu tư vào thị trường
tiền tệ và cho phép những người chủ tài khoản ( các cổ đông) được phép kí phát séc. Tiền
gửi loại này không phải dự trữ bắt buộc.
− Tài khoản ATS: loại tài khoản này cho phép chủ tài khoản được phép phát séc nhưng
có thêm 1 đặc tính đặc biệt là khi số dư trên tài khoản vượt quá một mức nhất định thì phần
tiền vượt quá sẽ tự động chuyển sang một tài khoản tiết kiệm được hưởng lãi cao hơn.
Ngược lại khi số dư trên tài khoản ATS xuống thấp hơn mức tối thiểu thì tiền trong tài
khoản tiết kiệm sẽ được chuyển ngược trở lại tài khoản ATS để phục hồi số dư tối thiểu.
− Tiền gửi không kì hạn là một nguồn vốn quan trọng của NH. Tuy nhiên do người gửi
tiền có thể rút ra bất cứ lúc nào nên nguồn vốn này thường xuyên biến động, vì vậy NH
chủ yếu dùng nó để cho vay ngắn hạn.
b. Tiền gửi có kì hạn: là loại tiền gửi mà người gửi chỉ được rút ra sau một thời hạn nhất
định từ một vài tháng đến vài năm.
Mức lãi suất của tiền gửi có kì hạn thường cao hơn tiền gửi không kì hạn nhưng những
người gửi tiền loại này không được hưởng dịch vụ thanh toán qua ngân hàng ( ví dụ như
không được kí phát séc).
Mục đích chủ yếu của người gửi có kì hạn là để lấy lãi.
Theo nguyên tắc tiền gửi có kì hạn không được phép rút trước hạn, song để cạnh tranh thì
các ngân hàng vẫn cho rút nhưng sẽ phải chịu một khoản phạt, chẳng hạn như không được
hưởng lãi suất hoặc lãi suất chỉ bằng lãi suất của tiền gửi không kì hạn.
Ở Việt Nam, tiền gửi có kì hạn tồn tại dưới 2 dạng:
i. Tiền gửi có kì hạn theo tài khoản
ii. Tiền gửi có kì hạn dưới hình thức phát hành kỳ phiếu ngân hàng.
Chương 2. Nghiệp vụ ngân hàng thương mại
Kỳ phiếu được phát hành theo 2 phương thức:
i. Phát hành theo mệnh giá: người mua trả tiền mua kỳ phiếu theo mệnh giá ghi trên
kỳ phiếu. Khi đến hạn ngân hàng sẽ hoàn trả vốn gốc và thanh toán lãi cho người mua
kỳ phiếu.
ii. Phát hành dưới hình thức chiết khấu: người mua sẽ trả số tiền mua kỳ phiếu bằng
mệnh giá trừ đi khoản lãi mà họ được hưởng. Khi đến hạn ngân hàng sẽ hoàn trả cho
khách hàng theo mệnh giá của kỳ phiếu. Như vậy trong trường hợp này khách hàng
được trả lãi trước.
c.Tiền gửi tiết kiệm: là khoản tiền để dành của cá nhân được gửi vào ngân hàng nhằm mục
đích hưởng lãi theo định kì. Các kì hạn thường là 1, 3, 6, 9, 12 tháng hoặc trên 1 năm ( 18,
24 tháng…). Hình thức phổ biến và cổ điển nhất của loại tiền gửi này là tiết kiệm có sổ.
Khi gửi tiền, ngân hàng cấp cho người gửi 1 quyển sổ dùng để ghi nhận các khoản tiền gửi
vào và rút ra. Ngân hàng không cung cấp các dịch vụ trung gian thanh toán cho khách hàng
gửi tiết kiệm. Ngoài ra còn có những hình thức khác như chứng chỉ tiết kiệm, trái phiếu tiết
kiệm.
Ở Việt Nam bao gồm 3 hình thức gửi tiết kiệm phổ biến sau:
i. Tiền gửi tiết kiệm không kì hạn: là loại tiền gửi tiết kiệm mà ngưởi gửi tiền có
thể gửi vào và rút ra theo nhu cầu sử dụng mà không cần báo trước cho ngân hàng.
Ngân hàng trả lãi cho loại tiền gửi này nhưng rất thấp. Loại tiền gửi này gần giống
với tiền gửi không kì hạn, chỉ khác là nó luôn dược hưởng lãi, nhưng đổi lại không
được hưởng các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng. Người gửi tiền dạng này nhằm
đảm bảo an toàn cho khoản tiền và dự phòng cho các nhu cầu chi tiêu trong thời gian
ngắn, đồng thời lại muốn hưởng 1 chút lãi dù thấp.
ii. Tiền gửi tiết kiệm có kì hạn: là loại tiền tiết kiệm có thời hạn gửi cố định trước.
Loại tiền gửi này tương tự như tiền gửi có kì hạn ở chỗ không được rút trước hạn
(nếu rút trước sẽ phải chịu phạt), được hưởng lãi cao hơn các dạng gửi không kì hạn
và không được hưởng các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng. Với dạng tiền gửi này,
người gửi chỉ được gửi tiền vào 1 lần và rút ra cả vốn lẫn lãi khi đến hạn. Mức tối
thiểu của mỗi lần gửi do ngân hàng quy định.
iii. Tiền gửi tiết kiệm có mục đích: là hình thức tiết kiệm trung và dài hạn nhằm mục
đích xây dựng nhà ở. Những người gửi tiền ngoài hưởng lãi còn được ngân hàng cho
vay nhằm bổ sung thêm vốn cho mục đích xây dựng nhà ở. Mức cho vay tối thiểu tối
đa bằng số dư tiền gửi tiết kiệm.
Như vậy tiền gửi có kì hạn và tiền gửi tiết kiệm là loại tiền gửi phi giao dịch, có cùng
tính chất là được hưởng lãi cao và chủ tài khoản không được phát séc.
Lý do phải tách riêng tiền gửi tiết kiệm ra mà không xếp vào 2 dạng tiền gửi không kì hạn
và tiền gửi có kì hạn mặc dù tính chất của chúng giống nhau là vì đây là tiền gửi tiết kiệm
của tầng lớp dân cư, là tài sản tích lũy của quốc gia, được xem là nguồn vốn nội lực của
đất nước, cho nên cần có chính sách ưu tiên bảo vệ.

Xem chi tiết: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét