Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

Tìm hiểu sự biến động lãi suất tín dụng thông qua cơ chế điều hành lãi suất ở Việt Nam trong thời gian qua

- Thời hạn tín dụng được xác định do thỏa thuận giữa người cho vay và người đi
vay. Người sở hữu vốn được nhận một phần thu nhập dưới hình thức lợi tức.
1.1.4 Phân loại tín dụng
a. Căn cứ vào đối tượng cấp tín dụng
+ Tín dụng hàng hoá: Đối tượng là hàng hoá, thể hiện qua quan hệ mua bán chịu
hàng hoá (mua nợ)
+ Tín dụng tiền tệ
b. Căn cứ vào chủ thể cấp tín dụng
+ Tín dụng thương mại ( Tín dụng hàng hoá): là quan hệ tín dụng phát sinh giữa
các doanh nghiệp, biểu hiện dưới hình thức mua bán chịu.
+ Tín dụng ngân hàng: Là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín dụng
khác với các chủ thể trong kinh tế (các doanh nghiệp, các cá nhân )
+ Tín dụng nhà nước: là quan hệ tín dụng giữa Nhà nước với các tầng lớp dân
cư, các tổ chức kinh tế.
+ Tín dụng thuê mua: là một hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc
cho thuê máy móc, thiết bị và các động sản khác
+ Tín dụng các tổ chức tài chính quản tế: là mối quan hệ tín dụng giữa các Nhà
nước, giữa các cơ quan của Nhà nước với nhau, hoặc giữa các chủ thể của một nước
với các chủ thể của nước khác và với các tổ chức quốc tế khi cho vay và trả nợ tiền vay
theo những nguyên tắc nhất định.
c. Căn cứ vào thời gian của tín dụng
+ Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn không quá 12 tháng, thường
được dùng để cho vay bổ sung vốn lưu động của các doanh nghiệp và nhu cầu thanh
toán cho sinh hoạt cá nhân.
+ Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 12 tháng đến 60 tháng,
dùng để cho vay vốn mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và
xây dựng các công trình quy mô nhỏ của các doanh nghiệp và cho vay xây dựng nhà ở
hoặc mua sắm hàng tiêu dùng có giá trị lớn của cá nhân.
+ Tín dụng dài han: Là loại tín dụng có thời hạn trên 60 tháng, được sử dụng để
cho vay dự án đầu tư xây dựng mới, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn.
d. Căn cứ vào phạm vi phát sinh của các quan hệ tín dụng
5
+ Tín dụng trong nước: Tất cả các quan hệ tín dụng phát sinh trong phạm vi lãnh
thổ quốc gia như tín dụng của nhà nước, ngân hàng, tổ chức kinh doanh, cá nhân…
+ Tín dụng quốc tế: Là quan hệ tín dụng phát sinh giữa các quốc gia với nhau
hoặc giữa một quốc gia với một tổ chức tín dụng quốc tế.
e. Căn cứ vào cơ chế đảm bảo của tín dụng
+ Tín dụng có đảm bảo: Là loại tín dụng được đảm bảo bằng các loại tài sản của
khách hàng, bên bảo lãnh được hình thành từ vốn vay.
+ Tín dụng không có đảm bảo: Dựa trên quan hệ và độ tin tưởng, được đảm bảo
dưới hình thức tín chấp, cho vay theo chỉ định của Chính phủ và hộ nông dân vay vốn
được bảo lãnh của các tổ chức đoàn thể, chính quyền địa phương.
f. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay
+ Tín dụng sản xuất: Là loại tín dụng cung cấp cho các doanh nghiệp và chủ thể
kinh tế khác để tiến hành sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.
+ Tín dụng tiêu dùng: Là loại tín dụng cấp cho các cá nhân để đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng.
1.1.5 Vai trò của tín dụng
a. Tín dụng góp phần thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển.
Nhờ nguồn vốn tín dụng, các doanh nghiệp, các hộ sản xuất kinh doanh không
những đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh bình thường mà còn mở rộng sản xuất,
cải tiến kỹ thuật, đổi mới công nghệ, đảm bảo sự phát triển liên tục của sản xuất và lưu
thông hàng hóa.
Trong quá trình hoạt động của các chủ thể kinh tế, tín dụng đã góp phần đẩy
nhanh quá trình sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, tạo điều kiện để duy trì mối liên hệ giữa
sản xuất, lưu thông hàng hóa và tiêu dùng xã hội. Chính vì vậy, tín dụng đã làm cho lưu
thông hàng hoá được mở rộng.
Như vậy, tín dụng đã góp phần thúc đẩy sản xuất và làm lưu thông hàng hóa
phát triển nhanh chóng, đó là điều không thể phủ nhận.
b. Tín dụng là công cụ thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước.
Nhà nước thường xuyên sử dụng tín dụng làm phương tiện cân đối thu chi ngân
sách nhà nước, góp phần đảm bảo các nguồn lực tài chính để thực thi các chính sách
kinh tế - xã hội.
6
Thông qua việc thay đổi và điều chỉnh các điều kiện và lãi suất tín dụng, nhà
nước có thể thay đổi được quy mô tín dụng hoặc chuyển hướng vận động của nguồn
vốn tín dụng. Nhờ đó mà có thể thúc đẩy hoặc hạn chế sự phát triển của một số ngành
phù hợp với định hướng phát triển kinh tế của Nhà nước.
Nhà nước sử dụng tín dụng để điều tiết lưu thông tiền tệ, đảm bảo sự cân đối
tiền hàng, ổn định giá cả hàng hóa. Như vậy, tín dụng vừa là nội dung, vừa là công cụ
để thực thi chính sách tiền tệ quốc gia.
c. Tín dụng góp phần quan trọng vào việc làm giảm chi phí sản xuất và lưu thông.
Thông qua hoạt động tín dụng, vốn trong nền kinh tế được luân chuyển nhanh,
tức là làm tăng nhanh tốc độ lưu thông tiền tệ. Từ đó giảm khối lượng phát hành vào
lưu thông, đồng nghĩa với việc giảm chi phí lưu thông tiền tệ.
Giảm chi phí sản xuất, lưu thông của chính doanh nghiệp nhận vốn vay. Nguyên
tắc của tín dụng buộc trách nhiệm hoàn trả, thúc đẩy người vay vốn sử dụng vốn tiết
kiệm và có hiệu quả hơn.
Bản thân chủ thể các quan hệ tín dụng phải tính toán cụ thể để hoạt động tín
dụng đem lại lợi ích cao nhất và an toàn nhất. Động lực canh tranh trong nền kinh tế thị
trường thúc đẩy họ giảm đến mức thấp nhất chi phí kinh doanh, kể cả chi phí xử lý rủi
ro.
d. Tín dụng là công cụ thực hiện chính sách xã hội và nâng cao đời sống nhân dân.
Thông qua việc cho vay ưu đãi đối với các hộ nghèo, tổ chức kinh tế - xã hội,
làm cho họ được đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu vốn cho sản xuất và tiêu dùng.
Các hộ nông dân, cá nhân sử dụng tín dụng như một trong các phương tiện để
cải thiện và nâng cao mức sống của mình. Thông qua việc vay vốn để đầu tư phát triển
sản xuất, nâng cao lợi nhuận và phân chia tỷ lệ giữa tích lũy và tiêu dùng hợp lý.
1.2 Lãi suất tín dụng
1.2.1 Khái niệm lãi suất tín dụng
Lợi tức tín dụng là thu nhập mà người cho vay nhận được từ người đi vay về
việc sử dụng lượng tiền vay trong một thời gian nhất định. Như vậy thực chất của lợi
tức tín dụng là giá cả hàng hóa cho vay.
7
Lãi suất tín dụng là sự cụ thể hoá của lợi tức tín dụng, nó được biểu hiện bằng tỷ
lệ giữa tổng số lợi tức thu được với tổng số vốn đã cho vay trong một thời gian nhất
định.
1.2.2 Các loại lãi suất tín dụng
a. Phân loại theo nghiệp vụ tín dụng
+ Lãi suất huy động: Có thời gian và không có thời hạn. Là lãi suất ngân hàng
trả cho người gửi ( lãi suất có thời hạn > không có thời hạn)
+ Lãi suất cho vay: Là mức lãi suất người cho vay phải trả cho ngân hàng cho
việc sử dụng vốn vay của ngân hàng
b. Phân loại theo giá trị thực
+ Lãi suất danh nghĩa: là loại lãi suất mà người cho vay được hưởng khi không
tính đến sự biến động của giá trị tiền tệ
+ Lãi suất thực tế: Là mức lãi suất mà người cho vay được hưởng sau khi loại
trừ sự biến động của giá trị tiền tệ (VN: lâm vào lãi suất thực âm)
+ Lãi suất thực tế = Lãi suất danh nghĩa – Tỷ lệ lam phát
c. Phân loại theo tiêu thức quản lý vĩ mô của nhà nước
+ Lãi suất trần: cao nhất quy định với việc cho vay của các ngân hàng
+ Lãi suất sàn: Thấp nhất quy định với mức lãi suất huy động
+ Lãi suất cơ bản: NHTW đưa ra để định hướng sự thay đổi của mức lãi suất
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất tín dụng
a. Quan hệ cung cầu về vốn trên thị trường:
Đường cung tiền biểu thị NHTW muốn giữ cung tiền tệ ổn định. Khi NHTW
muốn kiềm chế lạm phát sẽ thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ thông qua công cụ lãi
suất.
LS tăng, mức đầu tư giảm, mức cầu tiền tệ giảm các nhà doanh nghiệp và các
gia đình sẽ giảm lượng tiền gửi vào tài khoản của họ.
Ngược lại, khi NHTW lo sắp có nguy cơ suy thoái, sẽ tăng mức cung cầu tiền tệ
bằng việc bơm tiền vào lưu thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ. LS có xu
hướng giảm xuống.
b. Tỷ lệ lạm phát
8
Lạm phát tăng, không chỉ làm giảm độ lớn của cung mà còn kéo theo việc tăng
thêm quy mô về cầu quỹ cho vay. Bởi với LS danh nghĩa cho trước khi lạm phát dự
tính tăng lên chi phí thực của việc vay tiền giảm xuống kích thích người ta đi vay dẫn
đến LS tăng
c. Chính sách vĩ mô của nhà nước
- Chính sách tài chính (gồm chi tiêu của chính phủ và thuế khoá):
Khi chi tiêu của chính phủ tăng trực tiếp đồng thời chính phủ giảm thuế, tăng
tổng sản phẩm, tăng lượng cầu tiền tệ, LS tăng. Ngoài ra thuế còn các tác động đến
mức sản lượng tiềm năng, chẳng hạn việc giảm thuế đánh vào thu nhập của đầu tư mới,
tăng đầu tư, tăng cầu tiền tệ, LS tăng.
- Chính sách tiền tệ:
NHTW thực hiện chính sách thị trường mở, điều hòa cung - cầu chứng khoán có
giá, thông qua các NHTM tác động vào việc cung ứng tiền tệ, cung ứng tín dụng.
NHTW tăng (giảm) mức dự trữ bắt buộc ở các NHTM.
- Chính sách thu nhập (chính sách về giá cả, tiền lương):
Nếu giá giảm (cung tiền tệ không thay đổi), giá trị của đơn vị tiền tệ theo giá trị
thực tế tăng. Điều này cũng giống như ảnh hưởng của một sự tăng lên trong cung
tiền tệ khi mức giá được giữ cố định, LS tăng và ngược lại. Khi tiền lương tăng, chi phí
sản xuất tăng, lợi nhuận giảm, giảm nhu cầu đầu tư, cầu tiền tệ giảm, LS giảm.
- Chính sách tỷ giá:
Tỷ giá ngoại tệ tăng, tăng giá hàng nhập khẩu, tăng chi phí đầu vào của các mặt
hàng nhập khẩu, giá hàng hoá trong nước tăng lên, lợi nhuận giảm, nhu cầu ngoại tệ
tăng, cầu tiền tệ giảm, LS giảm.
Mặt khác khi tỷ giá ngoại tệ tăng, lượng tiền cung ứng để đảm bảo cân đối ngoại
tệ cần chuyển đổi tăng lên, LS giảm.
d. Rủi ro, kì hạn lãi suất
Rủi ro, trong quá trình cho vay và đi vay, khả năng thu hồi nợ rủi ro cao =>Lãi
suất cao, rủi ro thấp => Lãi suất thấp
9
Khoản vay trong kì hạn càng dài => Lãi suất càng cao
e. Một số nhân tố khác
Mức độ phát triên của thị trường tài chính
Mức độ cạnh tranh trong hoạt động cung cấp dịch vụ tín dụng
Tình hình biến động, khủng hoảng tài chính
10
Phần 2. Thực trạng về sự biến động lãi suất tín dụng ở Việt Nam
2.1 Cơ chế điều hành lãi suất ở Việt Nam trong thời gian qua
2.1.1 Lãi suất ở thời kỳ thực thi cơ chế quản lý nền kinh tế theo phương thức
quản lý kế hoạch hóa tập trung (trước năm 1988)
Đặc trưng cơ bản của lãi suất thời kỳ thực thi chế độ quản lý nền kinh tế theo cơ
chế kế hoạch hóa tập trung kéo dài, đó là áp dụng chính sách lãi suất bao cấp khá nặng
nề, lãi suất đựơc xây dựng thoát ly lãi suất của nền kinh tế thế giới. Dẫn đến lãi suất
thực thi trong thời kỳ này với tình trạng “lãi giả và lỗ thật” làm cho ngân hàng không
thể bảo toàn vốn của mình do lạm phát tăng cao và lãi suất thực là số âm, vì tỷ lệ lạm
phát đã lớn hơn lãi suất danh nghĩa.
2.1.2 Lãi suất thời kỳ nền kinh tế bắt đầu chuyển sang nền kinh tế thị trường
phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước (từ năm
1988 đến 2006)
Nội dung cơ bản của Nghị định 53/HĐBT chủ yếu: Xóa hẳn mô hình ngân hàng
một cấp và xây dựng mô hình ngân hàng hai cấp phù hợp với mô hình của ngân hàng
các nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Trong đó Ngân hàng Nhà nước VN thực
hiện chức năng ngân hàng của các ngân hàng, quản lý hoạt động kinh doanh của các
ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng trong nền kinh tế, còn ngân hàng thương
mại, các tổ chức tín dụng, thực hiện chức năng kinh doanh trực tiếp về lĩnh vực tiền tệ,
tín dụng và ngân hàng trong nền kinh tế.
Nhìn lại diễn biến của chính sách lãi suất qua từng thời kỳ, cho chúng ta thấy
những bước phát triển của mỗi thời kỳ tương xứng với sự phát triển của nền kinh tế.
Quá trình tự do hóa lãi suất của Việt Nam được thể hiện tổng quát như sau:
a. Cơ chế thực thi chính sách lãi suất cố định (1989 - 5/1992):
Đây là cơ chế lãi suất đã có từ trước nhưng có sự thay đổi căn bản, theo nguyên
tắc của việc xác định lãi suất là: Bảo toàn được vốn và có lãi, được áp dụng ở các
11
doanh nghiệp của các thành phần kinh tế. Cơ chế lãi suất này được điều chỉnh theo biến
động của chỉ số giá, đặc biệt là lãi suất ngoại tệ được áp dụng theo mức lãi suất của thị
trường tiền tệ quốc tế. Thực tế vận hành trong một thời gian (1989-1992), cơ chế lãi
suất thời kỳ này đã bắt đầu phát huy tác dụng, là bước chuyển của cơ chế lãi suất thực
âm sang cơ chế lãi suất thực dương.
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) can thiệp ở mức độ cao và trực tiếp vào lãi suất
thông qua ấn định các mức lãi suất tiền gửi (LSTG) và lãi suất cho vay (LSCV). Cơ chế
lãi suất âm và mang nặng tính chất bao cấp được duy trì suốt thời kỳ này với:
- LSCV đối với doanh nghiệp nhà nước < LSCV đối với doanh nghiệp
ngoài quốc doanh;
- Lãi suất danh nghĩa < tỷ lệ lạm phát;
- LSCV ngắn hạn > LSCV dài hạn;
- LSTG tiết kiệm > LSTG của các tổ chức kinh tế.
Tình trạng này làm cho lãi suất không thực hiện được chức năng vốn có
của nó; lãi suất không còn là đòn bẩy kích thích nhu cầu gửi tiền của công chúng, phát
huy tính hiệu quả trong quá trình sử dụng vốn và đảm bảo lợi nhuận cho ngân hàng.
b. Cơ chế điều hành khung lãi suất (6/1992 - 1995):
Đặc trưng của cơ chế này là Ngân hàng Nhà nước điều hành cơ chế lãi suất theo
khung lãi suất, quy định rõ sàn lãi suất huy động và trần lãi suất cho vay đối với nền
kinh tế. Các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng căn cứ khung lãi suất của ngân
hàng thương mại để đưa ra các lãi suất thích hợp cho mình, thực chất là bước chuyển
đổi căn bản từ cơ chế lãi suất âm sang cơ chế lãi suất dương, đảm bảo cho các ngân
hàng thương mại, các tổ chức tín dụng kinh doanh có hiệu quả, đây là cơ chế lãi suất
khởi đầu cho quá trình tự do hóa lãi suất ở Việt Nam.
NHNN đã có nhiều bước điều chỉnh trong điều hành chính sách lãi suất:
- Chuyển từ cơ chế lãi suất thực âm sang cơ chế lãi suất thực dương để
đảm bảo cho người dân gửi tiền và ngân hàng là người cho vay đều được lợi.
- Xoá bỏ về cơ bản sự chênh lệch lãi suất cho vay giữa các thành phần
kinh tế, thay vì ấn định lãi suất cụ thể bằng quản lý lãi suất theo một khung, bao gồm
lãi suất tối thiểu về tiền gửi và lãi suất tối đa về tiền vay.
12
- NHNN cho phép Ngân hàng thương mại (NHTM) được thoả thuận lãi
suất với khách hàng.
- Lãi suất đã bắt đầu được sử dụng như một công cụ của CSTT cùng với lãi suất
tái cấp vốn được hình thành vào đầu năm 1991 khi hai Pháp lệnh ngân hàng có hiệu
lực.
c. Cơ chế điều hành lãi suất trần (1996 – 7/2000):
Nét cơ bản của cơ chế điều hành trần lãi suất, đó là Ngân hàng Nhà nước đã thay
đổi căn bản cơ chế điều hành linh hoạt trần lãi suất, bước đầu đã thực hiện tự do hóa lãi
suất huy động (lãi suất đầu vào của ngân hàng thương mại) và linh hoạt trần lãi suất
cho vay (lãi suất đầu ra). Cơ chế lãi suất này đã góp phần duy trì sự tăng trưởng kinh tế,
kiểm soát lạm phát, ổn định sức mua của VND trong sự tương quan của các đồng tiền
trong khu vực do có khủng hoảng tiền tệ năm 1997-1998 ở các nước Đông Nam Á.
NHNN tiếp tục ấn định mức lãi suất tái cấp vốn và có những đổi mới căn bản về
điều hành lãi suất:
- Thay vì qui định khung lãi suất tối thiểu về tiền gửi - lãi suất tối đa về
tiền vay, NHNN chỉ qui định các mức lãi suất “trần” theo thời hạn cho vay và khống
chế chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn bình quân là 0,35%/tháng
(4,2%/năm) để khắc phục tình trạng hầu hết các ngân hàng thương mại đều có mức lợi
nhuận cao trong khi các doanh nghiệp lại gặp khó khăn về tài chính (khi thực hiện cơ
chế lãi suất thoả thuận ở giai đoạn trước).
- Đến cuối tháng 1/1998, NHNN xoá bỏ qui định chênh lệch lãi suất, chỉ
còn qui định trần lãi suất cho vay. Cùng với nới lỏng sự kiểm soát lãi suất, NHNN liên
tục điều chỉnh trần lãi suất cho vay theo hướng giảm cơ cấu trần và mức khống chế, đặc
biệt trong năm các năm 1998, 1999.
d. Cơ chế điều hành lãi suất cơ bản kèm biên độ (8/2000 – 5/2002):
Nội dung của cơ chế điều hành lãi suất cơ bản kèm biên độ là Ngân hàng Nhà
nước đã điều hành cơ chế lãi suất theo luật ngân hàng để thay thế cho cơ chế lãi suất
13
trần. Lãi suất cơ bản và biên độ được công bố định kỳ hàng tháng, trường hợp cần thiết,
Ngân hàng Nhà nước sẽ công bố điều chỉnh kịp thời.
Đối với lãi suất cho vay bằng ngoại tệ, về cơ bản các ngân hàng thương mại, các
tổ chức tín dụng được ấn định lãi suất cho vay trên cơ sở lãi suất thị trường quốc tế và
cung cầu vốn trong nước của từng loại ngoại tệ. Theo cơ chế lãi suất này cho thấy Ngân
hàng Nhà nước VN đã quyết tâm đổi mới chính sách lãi suất theo hướng tự do hóa và
từng bước gắn lãi suất trong nước vào thị trường khu vực và thế giới.
Vào tháng 8 năm 2000, NHNN đưa ra một cơ chế lãi suất mới trong đó lãi suất
cho vay nội tệ của ngân hàng được điều chỉnh theo lãi suất cơ bản do NHNN. Tuy
nhiên, các ngân hàng không được tính lãi suất cho vay vượt quá lãi suất cơ bản +
0,3%/tháng đối với vốn ngắn hạn và + 0,5%/tháng đối với vốn trung, dài hạn.
Cơ chế giới hạn biên độ lãi suất so với lãi suất cơ bản về bản chất không khác gì
so với trần lãi suất áp dụng trước đây. Tuy nhiên, trên thực tế mức trần (lãi suất cơ bản
cộng biên độ) được định ở mức cao hơn trần lãi suất theo cơ chế cũ rất nhiều.
e. Cơ chế lãi suất thỏa thuận (6.2002 – 2006):
Trong thực tế, cơ chế lãi suất này được Ngân hàng Nhà nước chuyển đổi từng
bước bắt đầu từ tháng 5/2001 áp dụng cho hình thức vay bằng ngoại tệ, tiếp theo
5/2002 là áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận trong hoạt động tín dụng trong nước. Nhìn
một cách tổng quát thì quá trình thực thi cơ chế tự do hóa lãi suất ở VN bước đầu đã có
kết quả nhất định.
Vào tháng 11/2001, trần lãi suất cho vay ngoại tệ được xóa bỏ, từ đó cho phép
những người vay ngoại tệ trong nước có thể thương lượng lãi suất với các ngân hàng
nội địa và ngân hàng nước ngoài. Vào tháng 6/2002, lãi suất được tự do hóa hoàn toàn
với việc các ngân hàng được phép xác định lãi suất cho vay trên cơ sở tự thẩm định và
thương lượng với khách hàng.
Từ năm 2003, lãi suất cho vay cầm cố được điều chỉnh dần để đóng vai trò là lãi
suất trần của thị trường liên ngân hàng. Lãi suất tái chiết khấu được qui định làm sàn
của thị trường liên ngân hàng.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét