Các chủ thể kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế đều có quyền tiếp
cận thông tin từ các văn bản kế hoạch hóa như các chiến lược và dự báo phát
triển kinh tế ,thương mại và thị trường.
Để nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước về thương mại cần
phải đổi mới nhận thức về kế hoạch hóa ,cải tiến nội dung ,phương pháp và
hoàn thiện bộ máy kế hoạch hóa thương mại ,tăng cường các phương tiện kỹ
thuật và hệ thống công nghệ thông tin quản lý,nâng cao trình độ nguồn nhân
lực công tác chiến lược ,quy hoạch và kế hoạch phát triển thương mại ,nhất
là trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày nay.
1.2.2.Chức năng tổ chức và phối hợp các hoạt động quản lý thương mại
Nhà nước thiết lập các cơ quan và hệ thống tổ chức quản lý,sử dụng bộ
máy quản lý này để hoạch định các chiến lược ,quy hoạch các ,chính
sách,các văn bản pháp quy khác về quản lý thương mại .Đồng thời sử dụng
sức mạnh của bộ máy tổ chức để triển khai thực hiện những công việc thuộc
chức năng quản lý của nhà nước ,nhằm đưa chính sách ,pháp luật vài thực
tiễn kinh doanh của doanh nghiệp,biến chiến lược ,quy hoạch và kế hoạch
phát triển thương mại thành hiện thực.
Hoạt động thương mại rất đa dạng ,diễn ra trên phạm vi cả nước và từng
địa phương ,từng vùng ,ở cả thị trường trong và ngoài nước ,liên quan tới
nhiều bộ ngành .Do vậy ,nhà nước phải phối hợp giữa các cơ quan quản lý
về thương mại ,các cấp trung ương và tỉnh ,giữa các ngành thương mại dịch
vụ với các ngành sản xuất trong nền kinh tế ,giữu chính phủ ,quốc hội ,tòa
án và cơ quan khác .
1.2.3.Chức năng lãnh đạo ,điều khiển các hoạt động thương mại
Nhà nước là người đại diện quyền lợi hợp pháp của mọi chủ thể tham gia
thị trường ,đảm bảo thực thi quyền kinh doanh của các doanh nghiệp,bằng
luật pháp ,khuyến khích cạnh tranh lành mạnh và kiểm soát độc quyền.Một
mặt ,nhà nước hướng dẫn ,kích thích doanh nghiệp hoạt động theo định
hướng đã vạch ra.Mặt khác ,nhà nước phải điều tiết thị trường ,can thiệp khi
cần thiết để ổn định kinh tế vĩ mô ,duy trì sức mạnh nền tài chính quốc gia
,giữ vững sức mua của tiền tệ ,đảm bảo lợi ích của người sản xuất và người
tiêu dùng .Nhà nước có thể sử dụng nhiều công cụ khác nhau để điều tiết thị
trường và quan hệ thương mại ,xử lý mâu thuẫn của các quan hệ trao đổi
đó .Những biện pháp khuyễn khích hay hạn chế trong thương mại quốc tế
thường được sử dụng là các chính sách kinh tế như ; thuế ,lãi suất ,giá,tỷ
giá,trợ cấp khác và các công cụ phi thuế.Nhà nước sử dụng hệ thống pháp
luật để ràng buộc quan hệ trao đổi ,buôn bán của các chủ thể kinh doanh trên
thị trường ,không phân biệt đó là nhà kinh doanh trong nước hay nước ngoài
.
1.2.4.Chức năng kiểm soát các quan hệ trao đổi ,các hoạt đông thương
mại.
Nhà nước kiểm soát tất cả các quan hệ trao đổi buôn bán trên thị trường
giữa các bên thông qua bộ máy tổ chức bằng việc sử dụng các phương
pháp ,công cụ khác nhau .Nhà nước kiểm soát trực tiếp hoạt động sản xuất
kinh doanh đối với các doanh nghiệp nhà nước để đảm bảo sử dụng hiệu quả
các nguồn lực ,tài sản quốc gia cho các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội
trong từng thời kỳ.
Phát hiện những lệch lạc nguy cơ chệch hướng hoặc vi phạm pháp luật và
các quy định chính sách của nhà nước như buôn bán hàng cấm ,kinh doanh
các dịch vụ không được cấp phép ,gian lận thương mại buôn lậu ,làm hàng
giả …Từ đó đưa ra các quyết định điều chỉnh thích hợp nhằm tăng cường
hiệu quả quản lý nhà nước về thương mại.Ngoài ra nhà nước cũng phải kiểm
tra đánh giá sức mạnh của hệ thống tổ chức bộ máy quản lý thương mại của
nhà nước các cấp cũng như năng lực của đội ngũ cán bộ công chức trong các
cơ quan quản lý nhà nước về thương mại trong từng giai đoạn để có biện
pháp đổi mới và tăng cường cho phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế xã
hội.
3.Vai trò của quản lý nhà nước về thương mại
1.3.1. Định hướng ,hướng dẫn hoạt động của các chủ thể trao đổi
Nhà nước định hướng,hướng dẫn các doanh nghiệp trong các hoạt động
đầu tư cà kinh doanh trên thị trường nội địa và quốc tế ,nhằm khai thác có
hiệu quả tiềm năng của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế cho
sự phát triển thương mại.Từ đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ,cải
thiện đời sống dân cư và nâng cao phúc lợi xã hội.
1.3.2.Tạo lập môi trường thương mại và cạnh tranh
Môi trường thương mại và cạnh tranh phụ thuộc rất nhiều vào chính sách
luật pháp và thủ tục hành chính .Các thông tin về kế hoạch hóa thương mại
nếu bị thiên lệnh trong quá trình phổ biến cho các doanh nghiệp ,các quy
định chính sách nếu phân biệt đối xử sẽ bóp méo cạnh tranh ,thủ tục hành
chính rườm rà ,khuân khổ pháp lý nếu không đầy đủ đồng bộ ,nhất quán
,minh bạch sẽ gây trở ngại cho thương mại trên nhiều mặt ,dẫn đến cả tổn
thất về vật chất ,tinh thần, Do vậy,nhà nước có vai trò rất quan trọng trong
việc tạo lập ,cải thiện môi trường kinh doanh ,nhất là trong điều kiện moi
trường kinh doanh luôn có sự vận động ,biến đổi không ngừng.
1.3.3.Hỗ trợ các doanh nghiệp giải quyết các mâu thuẫn,tranh chấp
thương mại
Nhà nước là người tiếp cận ,can thiệp và giải quyết các mâu thuẫn trên thị
trường .Nhà nước mới có khả năng và cần thiết phải giải quyết các mâu
thuẫn giữa các chủ thể kinh doanh với nhau trong mua và bán ,trong nhập
khẩu và xuất khẩu ,mâu thuẫn giữa kinh doanh đúng đắn ,trung thực và kinh
doanh bất hợp pháp ,giữa kinh doanh hàng thật và hàng giả …
Nhà nước dựa vào các chuẩn mực về pháp luật,các định chế cần thiết để
thực hiện và cướng chế việc thi hành luật ,giả quyết tranh chấp thương mại
thông qua hệ thống luật pháp và hệ thống hành pháp .
1.3.4.Điều tiết quan hệ thị trường ,các hoạt động thương mại
Các quan hệ thị trường ,các hoạt động trao đổi tự nó không phải bao giờ
cũng cân đối và hiệu quả .Theo quy luật thị trường ,các chủ thể kinh doanh
luân quan tâm tới việc bố trí nguồn lực đến nơi có điều kiện sản xuất và
thương mại thuận lợi ,bán được giá cao ,tìm kiếm lợi nhận dẫn tới việc phân
bổ nguồn lực mất cân đối giữa các vùng miền .Do vậy,nhà nước phải điều
tiết các quan hệ trao đổi ,các hoạt động thương mại để hạn chế nhược điểm
trên nhằm đảm bảo tính cân đối và để mọi người dân đều được hưởng thành
tựu kinh tế xã hội ,để nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân .
Nhà nước có thể sử dụng nhiều công cụ ,biện pháp khác nhau để điều tiết
thị trường và thương mại xử lý đúng đắn mâu thuẫn của các quan hệ trao
đổi.Những biện pháp khuyến khích hay hạn chế thương mại thường được sử
dụng là thuế quan và các biện pháp phi thuế quan .Để điều tiết thị trường
,trong nhiều trường hợp nhà nước phải sử dụng thực lực kinh tế nhà nước để
điều hòa cung cầu ,ổn định giá cả thị trường ,nâng cao sức mua của xã hội .
1.3.5.Giám sát ,kiểm tra thực hiện các mục tiêu phát triển thương mại
Quản lý nhà nước về thương mại bao giờ cũng hướng tới mục tiêu cụ thể
phù hợp với định hướng mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước
trong từng thời kỳ .Do vậy ,thông qua thực hiện các chức năng của quản
lý ,nhà nước sẽ giám sát ,kiểm tra và phát hiện những biểu hiện sai lệch
,những mâu thuẫn bất hợp lý trong quá trình thực hiện mục tiêu để từ đó đưa
ra các giải pháp điều chỉnh sự phát triển cho phù hợp.Các mục tiêu của
thương mại mang tính bền vững bao gồm mục tiêu về kinh tế xã hội ,về môi
trường văn hóa ,trong đó mục tiêu kinh tế không chỉ là số lượng mà còn thể
hiện ở chất lượng của tăng trưởng thương mại .Việc kiểm soát và điều chỉnh
thực hiện mục tiêu phát triển thương mại đòi hỏi phải có sự phối hợp giữu
các cấp và ngành ,giữa trung ương và địa phương ,giữu trong nước và quốc
tế ,nhất là trong lĩnh vực quản lý nhà nước về thương mại dịch vụ ,trong các
vấn đề buôn lậu và gian lận thương mại.
II.Quản lý nhà nước về thương mại đối với mặt hàng
gạo xuất khẩu ở Việt Nam
2.1.Thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam Những năm qua (từ 1989
đến nay)
2.1.1.Thực trạng xuất khẩu gạo của Việt Nam
2.1.1.1 Kim ngạch xuất khẩu gạo qua các năm
Năm 1989, lần đầu tiên kể từ sau khi thống nhất nước nhà (năm
1975), Việt Nam trở lại thị trường xuất khẩu gạo thế giới với số lượng
khá lớn 1,4 triệu tấn. (Trước đó Việt Nam không những không tiếp tục
xuất khẩu được gạo, ngược lại mỗi
năm đều phải nhập thêm gạo và các
lương thực khác, năm cao nhất lên 2 triệu tấn).
Từ đó đến nay xuất khẩu tăng trưởng tương đối đều đặn và liên tục, năm
1995 xuất được 2 triệu tấn, năm
1999
xuấ
t được 4,5 triệu tấn. Bảng 1
thể hiện rõ kim ngạch tăng đều qua các năm từ 1989-2000.
và tăng cường sản xuất trong nước, cộng thêm khủng hoảng dầu
lửa. Các tác động này đã làm giá gạo trên thị trường thế giới bắt đầu giảm
xuống từ đầu năm, Năm 2000, khủng hoảng tài chính trong khu vực làm 2
trong số 5 nước nhập khẩu gạo lớn nhất thế giới là Indonesia và Phillipin
đã giảm lượng nhập khẩu gạo cho đến cuối năm xuất khẩu gạo của Việt
Nam so với năm 1999 bị giảm đi 15,5% về lượng và 16% về giá, hạ kim
ngạch xuất khẩu gạo năm 2000 xuống còn 668 triệu USD, mức thấp nhất
trong vòng 5 năm trở lại đây. Trước năm 1999, gạo luôn là một trong năm
mặt hàng đem lại kim ngạch xuất khẩu lớn nhất, góp phần cải thiện cán
cân thanh toán quốc tế của Việt Nam.
Trong sáu tháng đầu năm 2001, lượng gạo xuất khẩu đạt 2,18
triệu tấn, với mức kim ngạch 314 triệu USD, tăng 34,5% về số lượng và
6,3% về giá so với cùng kỳ năm trước. Cả năm 2001, xuất khẩu đạt trên
3,6 triệu tấn, trị giá trên 600 triệu USD, tăng khoảng 5% về lượng so với
năm 2000. Cả năm 2002, cả nước xuất khẩu trên
3,2
triệu tấn gạo, trị giá
608 triệu USD. Năm 2003 lượng gạo xuất khẩu dự kiến sẽ ở mức 3,4 - 3,5
triệu tấn. Theo nguồn tin từ bộ Thương mại, tình hình xuất khẩu của Việt
Nam hiện nay đang có chiều hướng thuận lợi.
Ngoài ra, chưa kể lượng gạo xuất khẩu tiểu ngạch qua biên giới
Tây Nam sang Lào và
Campodia,
nhưng
nhiều nhất qua biên giới phía
Bắc sang Trung Quốc. Từ năm 1989 - 000, số gạo buôn bán tiểu ngạch
ước tính trên 2,5 triệu tấn với giá trị khoảng trên 500 triệu USD.
Thị phần xuất khẩu gạo của Việt Nam năm 1998 chiếm gần 18,8%
tổng xuất khẩu gạo thế giới - đứng thứ hai thế giới, sau Thái Lan. Hiện
nay thị phần gạo của Việt Nam là 18,44% so với Thái Lan là 22,2%. Về
tỷ trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, gạo chiếm trung
bình 11 - 12%, đứng vị trí thứ hai, sau dầu thô.
Bảng1- sản lượng và kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam giai
đoạn 1989-2000
Năm Sản lượng xuất khẩu
(triệu tấn)
Kim ngạch xuất khẩu
(triệu USD)
1989 1,425 321,811
1990 1.624 310,403
1991 1,035 243,941
1992 1,946 418,400
1993 1,728 360,900
1994 1,983 449,500
1995 1,988 546,800
1996 3,040 868,270
1997 3,575 899,025
1998 3,730 1024,752
1999 4,550 1035,090
2000 3,476 667,000
Nguồn: - TS. Nguyễn Trung Vãn: Lúa gạo Việt Nam trước thiên niên kỷ mới,
Hướng xuất khẩu NXB Chính Trị Quốc Gia Hà Nội 2001, tr.179.
Như vậy, Việt Nam từ một nước nông nghiệp thiếu đói phải nhập
khẩu gạo triền miên, đột biến trở thành nước xuất khẩu thứ ba thế giới, sau
Thái Lan và Mỹ và từ năm 1997 đứng thứ hai thế giới, sau Thái Lan.
Trong
14
năm
(1989 - 2002), xuất khẩu gạo của Việt Nam đạt 37 triệu tấn,
với kim ngạch 8 tỷ USD.
Những kết quả khả quan này là do có nhiều thuận lợi như tự do
mậu dịch gia tăng, các rào cản kỹ thuật trong buôn bán từng bước được
dỡ bỏ, nhu cầu gạo tăng lên và có sự tham gia tích cực và có hiệu quả
của nhiều thành phần kinh tế trong hoạt động xuất khẩu. Đặc biệt, vai trò
của Chính phủ trong việc mạnh dạn mở rộng thị trường cho mặt hàng
gạo. Kết quả là nhiều thoả thuận cấp chính phủ về xuất khẩu gạo đã
được ký kết, riêng năm 2001 đã vượt con số 1 triệu tấn, chiếm 30%
tổng lượng xuất khẩu.
2.1.1.2. Số lượng, chất lượng và cơ cấu sản phẩm gạo xuất khẩu
Trong mậu dịch gạo quốc tế, cũng giống những mặt hàng khác,
chất lượng gạo gắn liền với hiệu quả xuất khẩu và cũng là công cụ cạnh
tranh hàng đầu hiện nay, đặc biệt khi xuất khẩu sang các nước phát triển
và các nước NIC. Vì trên thế giới ngày càng bộc lộ rõ xu hướng tăng lên
về loại gạo có phẩm chất cao. Điều này thể hiện lượng tiêu thụ và giá cả
của gạo phẩm chất tốt ngày càng tăng trong khi nhu cầu về loại gạo phẩm
cấp thấp ngày càng giảm.
Để đánh giá chất lượng gạo, người ta căn cứ vào các tiêu thức khác
nhau như hình dáng, kích cỡ hạt gạo, độ bóng, độ đồng đều, mùi vị, màu
sắc, thuỷ phần, tỷ lệ tấm, tỷ lệ tạp chất. Hay gạo phải thơm, dẻo, giá trị
dinh dưỡng cao, ưa nhìn và “sạch” - yêu cầu vệ sinh dịch tễ. Bảng 5
dưới đây cho thấy rõ tình hình chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam
trong những năm qua (xét theo tiêu thức tỷ lệ tấm).
Bảng 2– Chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam những năm qua
(đơn vi: %)
Năm Loại gạo
5% tấm
Loại gạo
10% tấm
Loại gạo
15% tấm
Loại gạo
20% tấm
Loại gạo
25% tấm
Loại gạo
35-40% tấm
1989 0,3 - - 2,3 5,0 92,4
1990 3,3 13,1 5,9 2,0 20,2 55,5
1991 6,0 30,0 3,0 8,0 26,4 26,6
1992 18,5 20,8 13,0 1,2 15,4 31,1
1993 25,7 25,6 13,3 8,2 14,7 12,5
1994 42,3 23,6 4,1 8,5 6,7 14,8
1995 30,6 22,3 13,8 11,6 16,5 5,2
1996 30,6 17,7 5,5 6,2 21,7 18,3
1997 27,4 16,2 7,1 1,2 35,9 12,2
1998 26,9 26,2 13,9 0,4 30,8 1,8
Nguồn: - TS. Nguyễn Trung Vãn: Lúa gạo Việt Nam trước thiên niên kỷ mới
Hướng xuất khẩu, NXB Chính Trị Quốc Gia Hà Nội 2001, tr.187.
Xét theo tỷ lệ tấm, chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam nói
chung tăng rõ rệt. Năm 1989, loại gạo 5% tấm gần như không có, chỉ
chiếm 0,3% (chủ yếu loại gạo 35% tấm), đến năm 1994 đã chiếm tới
42,3% t
ổng
l
ượng
gạo xuất khẩu của cả nước. Cả hai loại gạo tốt (tỷ lệ 5
và 10% tấm) chiếm 0,3% tổng sản lượng gạo
xuấ
t
khẩu
năm 1989 đã lên
tới 65,9% năm 1994. Ngược lại, cấp loại gạo xấu (tỷ lệ tấm
35 và 45%) năm 1989 chiếm 92,4% đã giảm xuống 5,2% năm 1995 và
1,8% năm
1998 của tổng lượng gạo xuất khẩu. Tuy nhiên, đó chỉ là tiến bộ trong
cải thiện độ gẫy của gạo. Gạo 5% tấm của Thái Lan hơn hẳn của ta về
mùi vị, hình dáng, kích thước và tỷ lệ thuỷ phần.
Tuy nhiên, cùng với những tiến bộ chung đó, chất lượng gạo theo
tỷ lệ tấm của nước ta cũng
còn
những
điều bất cập. Nổi bật nhất là cấp
loại gạo tốt, tỷ lệ 5% tấm có xu hướng tụt lùi rõ rệt từ năm 1995 đến nay,
từ chỗ chiếm 42,3% xuống còn 26,9% năm 1998 của tổng lượng gạo xuất
khẩu. Tương tự, cấp loại gạo tốt 10% tấm cũng suy giảm gần như vậy, trừ
năm 1998. Những năm 1995 và 1996, giá gạo tăng mạnh, nhiều nước
nghèo giảm hẳn nhu cầu loại gạo tốt và tăng mua cấp loại gạo trung
bình (20 - 25% tấm). Nên tỷ trọng gạo tốt trong xuất khẩu của nước ta
chưa nhiều là chiến lược chưa hợp lý. Cuối năm 1994, Việt Nam bước đầu
sản xuất được gạo cao cấp, điển hình cấp loại cao 5% tấm, gần tương
đương với gạo Thái Lan cùng cấp.
Ngoài tỷ lệ tấm, gạo xuất khẩu của Việt Nam những năm qua đã
có những tiến bộ nhiều về các tiêu thức như tỷ lệ hạt hẩm, hạt đỏ và sọc
đỏ, hạt bạc bụng, hạt thóc lẫn, tập chất, thuỷ phần Hình dáng, kích cỡ,
mùi
vị
t
ự
nhiên của gạo xuất khẩu cũng có sự cải thiện. Những tiến bộ này
chỉ mang tính tương đối, nghĩa là chỉ so với
thờ
i
kỳ
đầu xuất khẩu của ta.
Nếu so với chất lượng của các nước xuất khẩu nhiều như Mỹ, Thái Lan,
Pakixtan thì chất lượng của gạo Việt Nam còn thua kém nhiều ở
hầu hết
các khâu: canh tác, thu hoạch, bảo quản, đặc biệt công nghệ xay xát.
Trong những năm qua cơ cấu sản phẩm gạo xuất khẩu của Việt
Nam vẫn chủ yếu loại gạo cấp thấp và trung bình, trong khi loại gạo cấp
cao chiếm tỷ trọng rất nhỏ. Tỷ trọng gạo tốt trong tổng xuất khẩu của ta
vãn chưa tăng mạnh. Trong chiến lược lâu dài, Việt Nam cần chú trọng
chất lượng hơn nữa để có điều kiện thâm nhập những thị trường khó tính,
và sự đa dạng hoá chủng loại gạo xuất khẩu nhằm nâng cao hiệu quả kinh
doanh và năng lực cạnh tranh xuất khẩu gạo.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét