Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

Rào cản trong cạnh tranh của ngành thủy sản Việt Nam trên thị trường Mỹ

Rào cản trong cạnh tranh của ngành thủy sản Việt Nam trên thị trường Mỹ
mỗi nền kinh tế, chỉ tồn tại trong điều kiện kinh tế thị trường. Cạnh tranh cũng
chỉ diễn ra khi pháp luật thừa nhận nó và bảo hộ tính đa dạng của các loại hình
sử hữu, khi tự do thương mại và theo đó là tự do kinh doanh, tự do khế ước tự
chủ các quyền cá nhân được hình thành và đảm bảo.Cạnh tranh chỉ diễn ra khi
không có bất kì một quy định nào hay một hành vi nào ngăn cản sự ra nhập các
doanh nghiệp tiềm năng những doanh nghiệp gia nhập thị trường
Cạnh tranh được hiểu là sự chạy đua hay ganh đua của các thành viên của
một thị trường hàng hóa, sản phẩm công cụ nhằm mục đích lôi kéo về phía mình
ngày càng nhiều khách hàng, thị trường và thị phần của một thị trường.
Cạnh tranh là áp lực cưỡng bức bên ngoài buộc các doanh nghiệp phải tìm
mọi giải pháp để nâng cao, nâng cấp lao động trong doanh nghiệp, đưa ra thị
trường sản phẩm giá cả hợp lý…
1.2 Vai trò trong cạnh trạnh
Cạnh tranh buộc các nhà sản xuất công nghiệp và dịch vụ phải tạo ra những
sản phẩm chất lượng, ngày càng cao và giá thành hạ.
Cạnh tranh cũng là cơ hội bắt các doanh nghiệp phải áp dụng công nghệ mới,
tiến bộ khoa học kĩ thuật.
Cạnh tranh có khả năng tạo sức ép để chống trì trệ, khắc phục suy thoái và
buộc các doanh nghiệp phải kinh doanh có hiệu quả
Cạnh tranh tạo sự đổi mới liên tục và phát triển liên tục.Các doanh nghiệp
luôn luôn phải vận động đổi mới củng loại kiểu dáng phương thức kinh doanh
2. Khái niệm rào cản trong cạnh tranh.
2.1 Khái niệm
Rào cản trong cạnh tranh là gì cản trở ngăn chặn các thành viên của một thị
trường hàng hóa, sản phẩm công cụ nhằm làm giảm khách hàng, thị trường và thị
GVDH: TS.Nguyễn Thu Hường Sinh Viên: Nguyễn Thùy Linh
5
Rào cản trong cạnh tranh của ngành thủy sản Việt Nam trên thị trường Mỹ
phần trên thị trường. Rào cản chính là nhưng khó khăn thách thức, như một bức
tường ngăn cản sự phát triển của thành viên trong ngành.
Hạn chế cạnh tranh có nghĩa là đi đến thủ tiêu cạnh tranh_động lực phát triển
của kinh tế thị trường_ là phá vỡ cạnh tranh và cuối cùng là phá vỡ cơ cấu của
thị trường. Đây là hiện tượng đi ngược lại lợi ích chung của công đồng, của nền
kinh tế và cuối cùng là đi ngược nguyên lý phát triển kinh tế thị trường.
2.2 Phân loại rào cản trong cạnh tranh
Có rất nhiều các rào trong cạnh tranh cản gây trở ngại cho sự cho các doanh
như:
Rào cản về thuế quan (về xuất khẩu và nhập khẩu)
Rào cản về thủ tục hành chính của Việt Nam. Các công cụ điều tiết cạnh tranh
của nhà nước (Chính sách thuế, kiểm soát giá cả, Điều chỉnh độc quyền, quốc
hữu hóa, ban hành pháp luật cạnh tranh)
Rào cản về giá (giá bán của doanh nghiệp chưa có tình cạnh trsnh cao so với thị
trường)
Rào cản đối thủ mạnh trong ngành, và các việc nhập cuộc của các doanh nghiệp
tiềm năng
Rào cản gia nhập ngành
Rào cản rút lui khỏi ngành
Rào cản về công nghệ sản xuất lạc hậu
Rào cản do cạnh trạnh không lành mạnh: là những hành vi cụ thể của một chủ
thể kinh doanh, nhằm mục đích cạnh tranh, luôn thể hiện tính không lành mạnh (
chứ không chỉ là trái pháp luật) và vô tình hay cố ý gây thiệt hại cho đối thủ cạnh
tranh hay bạn hàng cụ thể. Các hành vi xâm hại lợi ích của đối thủ cạnh tranh
( ngăn cản được áp dụng đối với đối thủ tiềm năng, những doanh nghiệp đang
GVDH: TS.Nguyễn Thu Hường Sinh Viên: Nguyễn Thùy Linh
6
Rào cản trong cạnh tranh của ngành thủy sản Việt Nam trên thị trường Mỹ
tìm cách ra nhập thị trường, việc ngăn cản các đối thủ cạnh tranh được thể hiện
chủ yếu thông qua thủ thuật bán phá giá; rèm pha và bôi nhọ đối thủ; bội tín: bóc
lột : ở đây được hiểu là sự hưởng trái phép hay lạm dụng thành quả của một
doanh nghiệp này đối với một doanh nghiệp khác.
CHƯƠNG 2 : RÀO CẢN TRONG CẠNH TRANH CỦA NGÀNH THỦY
SẢN VIỆT NAM TRÊN THỊ TRƯỜNG MỸ.
1. Khái quát về ngành thủy sản nước ta
Ngành Thuỷ sản là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của quốc gia đang
được nhà nước đầu tư phát triển. Thủy sản là một trong nhưng ngành sản xuất
kinh doanh, một ngành hoạt động kinh tế nằm trong tổng thể kinh tế _xã hội loài
người. Thủy sản đóng vai trò cho việc cung cấp thực phẩm cho nhân loại. Theo
số liệu đã công bố của Tổng Cục Thống kê, GDP của ngành Thuỷ sản giai đoạn
1995 - 2003 tăng từ 6.664 tỷ đồng lên 24.125 tỷ đồng. Trong các hoạt động của
ngành, khai thác hải sản giữ vị trí rất quan trọng. Sản lượng khai thác hải sản
trong 10 năm gần đây tăng liên tục với tốc độ tăng bình quân hằng năm khoảng
7,7% (giai đoạn 1991 - 1995) và 10% (giai đoạn 1996 - 2003). Nuôi trồng thuỷ
sản đang ngày càng có vai trò quan trọng hơn khai thác hải sản cả về sản lượng,
chất lượng cũng như tính chủ động trong sản xuất. Điều này tất yếu dẫn đến sự
chuyển đổi về cơ cấu sản xuất - ưu tiên phát triển các hoạt động kinh tế mũi
nhọn, đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Ngành Thuỷ sản có tốc độ tăng trưởng rất nhanh so với các ngành kinh tế khác.
Tỷ trọng GDP của ngành Thuỷ sản trong tổng GDP toàn quốc liên tục tăng, từ
2,9% (năm 1995) lên 3,4% (năm 2000) và đạt 3,93% vào năm 2003. Từ cuối
thập kỷ 80 đến năm 2000, ngành thuỷ sản đã có những bước tiến không ngừng.
GVDH: TS.Nguyễn Thu Hường Sinh Viên: Nguyễn Thùy Linh
7
Rào cản trong cạnh tranh của ngành thủy sản Việt Nam trên thị trường Mỹ
Các chỉ tiêu chủ yếu đề ra trong Chiến lược Phát triển Kinh tế - Xã hội ngành
Thuỷ sản thời kỳ 1991 - 2000 đã được hoàn thành vượt mức:
CHỈ TIÊU Đơn vị Kế hoạch Thực hiện
Tổng sản lượng thuỷ
sản
Trong đó:
- Sản lượng khai thác
hải sản
- Sản lượng nuôi
trồng thuỷ sản
tấn

-
-
1.600.000

1.000.000
600.000
2.174.784

1.454.784
720.000
Kim ngạch xuất khẩu
thuỷ sản
triệu USD 900 - 1.000 1.478,6
Thu hút lao động thuỷ
sản
nghìn người 3.000 3.400
Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu thuỷ sản tương đương với các ngành công nghiệp,
xây dựng và dịch vụ. Điều đó chứng tỏ ngành thuỷ sản đang dần chuyển từ sản
xuất mang nặng tính nông nghiệp sang sản xuất kinh doanh theo hướng công
nghiệp hoá.
GIÁ TRỊ XUẤT KHẨU (triệu USD)
Năm Toàn quốc
Công nghiệp
- Xây dựng -
Nông - Lâm - Thuỷ sản
Tổng số
Riêng Thuỷ
sản
1996 7.255,9 4.214,1 3.041,8 670,0
1997 9.185,0 5.952,0 3.233,0 776,5
1998 9.360,3 6.036,0 3.324,3 858,6
GVDH: TS.Nguyễn Thu Hường Sinh Viên: Nguyễn Thùy Linh
8
Rào cản trong cạnh tranh của ngành thủy sản Việt Nam trên thị trường Mỹ
1999 11.540,0 8.627,8 2.912,2 976,1
2000 14.308,0 10.186,8 4.121,2 1.478,5
2001 15.100,0 10.090,4 5.009,6 1.816,4
Tốc độ tăng
trưởng bình
quân
13,0 14,9 9,5 14,6
Nguồn: Niên giám Thống kê Nông - Lâm - Thuỷ sản
1.1 Tình hình nuôi trồng thủy sản trong nước
Sản lượng thủy sản của Việt Nam không ngưng tăng lên theo các năm. Ngành
công nghiệp chế biến thủy sản đã và đang phát triển về số lượng nhà máy, chế
biến cũng như chế xuất thủy sản. Đầu tư cho đánh bắt hải sản và nuôi trồng thủy
sản tăng, số lượng thuyền tăng.
Việt Nam có nhiều tiềm năng để phát triển nuôi trồng thuỷ sản ở khắp mọi miền
đất nước cả về nuôi biển, nuôi nước lợ và nuôi nước ngọt. Đến năm 2003, đã sử
dụng 612.778 ha nước mặn, lợ và 254.835 ha nước ngọt để nuôi thuỷ sản. Trong
đó, đối tượng nuôi chủ lực là tôm với diện tích 580.465 ha. Bên cạnh những tiềm
năng đã biết, Việt Nam còn có những tiềm năng mới được xác định có thể sử
dụng để nuôi trồng thuỷ sản như sử dụng vật liệu chống thấm để xây dựng công
trình nuôi trên các vùng đất cát hoang hoá, chuyển đổi mục đích sử dụng các
diện tích trồng lúa, làm muối kém hiệu quả sang nuôi trồng thuỷ sản…Nuôi biển
là một hướng mở mới cho ngành Thuỷ sản, đã có bước khởi động ngoạn mục với
các loài tôm hùm, cá giò, cá mú, cá tráp, trai ngọc,… với các hình thức nuôi
lồng, bè. Nuôi nước ngọt đang có bước chuyển mạnh từ sản xuất nhỏ tự túc sang
sản xuất hàng hoá lớn, điển hình là việc phát triển nuôi cá tra, cá ba sa xuất khẩu
đem lại giá trị kinh tế cao; Nuôi đặc sản được mở rộng; Sự xuất hiện hàng loạt
GVDH: TS.Nguyễn Thu Hường Sinh Viên: Nguyễn Thùy Linh
9
Rào cản trong cạnh tranh của ngành thủy sản Việt Nam trên thị trường Mỹ
các trang trại nuôi chuyên canh (hoặc canh tác tổng hợp nhưng lấy nuôi trồng
thuỷ sản làm hạt nhân) chuyển đổi phương thức nuôi quảng canh, quảng canh cải
tiến sang bán thâm canh và thâm canh đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn.
1.2 Tình hình xuất khẩu của thủy sản Việt Nam sang các nước khác
Thị trường Số lượng(tấn) Giá trị(USD)
EU 162139.2 527872801
Hoa Kỳ 56240.6 413589217
Nhật Bản 64351.2 396233096
Châu Á (không kể Nhật Bản,
ASEAN)
111860.5 340631907
Châu Âu (không kể EU) 46181.3 118471273
ASEAN 39487.8 108108489
Châu Mỹ (không kể Hoa Kỳ) 20809.2 86043658
Châu Đại dương 13416.8 68820191
Thị trường khác 8030.9 30898126
Châu Phi 4993.2 13735902
Total 527510.7 2104404660
Nguồn: Trung tâm Tin học Thuỷ sản từ tháng 1 đến tháng 8 năm 2007
XUẤT KHẨU THỦY SẢN CHÍNH NGẠCH TỪ THÁNG 1 ĐẾN THÁNG
8/2007
Mặt hàng Số lượng (Tấn) Giá trị (Đô la Mỹ)
Tôm 73347.4 720985405
Cá tra, basa 213578.6 564762570
Nhuyễn thể chân đầu 48837.1 165636695
Cá 50198 160984666
Mặt hàng khác 27862.3 95858919
Cá Ngừ 32158.3 90851266
Tôm chế biến 8410.4 69133048
GVDH: TS.Nguyễn Thu Hường Sinh Viên: Nguyễn Thùy Linh
10
Rào cản trong cạnh tranh của ngành thủy sản Việt Nam trên thị trường Mỹ
Cá khô 18798.2 68326099
Giáp xác khác 7896.6 59633086
Cá chế biến 28842.2 41460524
Mực khô 6149.2 39918630
Nhuyễn thể 2 mảnh vỏ 8404 21757985
Tôm khô 2745.3 3706114
Tôm hùm 27.9 741571
Nhuyễn thể khác 243.7 460685
Tôm hùm, tôm mũ ni 12.2 187397
Total 527511.4 2104404660
Nguồn: Trung tâm Tin học Thuỷ sản
1.3 Tình hình xuất khẩu thủy sản củaViệt Nam sang thị trường Hoa Kì
Hàng thuỷ sản cũng sẽ tiếp tục khai thác thị trường Mỹ - nơi mà kim ngạch nhập
khẩu thuỷ sản hàng năm lên đến 12 tỷ USD; trong khi đó, hàng thuỷ sản Việt
Nam năm 2007 mới chỉ chiếm 6,2% số này. Bởi vậy, ngành thủy sản Việt Nam
đặt mục tiêu đạt 850 triệu USD giá trị xuất khẩu sang Mỹ năm 2008, chiếm
khoảng 7% tổng kim ngạch nhập khẩu thủy sản của Mỹ.
+ Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang Hoa Kỳ
Năm 1998, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản từ Việt Nam sang Hoa Kỳ đạt trên 80
triệu USD, tăng gấp đôi năm 1997 (40 triệu USD). Năm 1999 kim ngạch thuỷ
sản xuất khẩu sang Hoa Kỳ vượt qua ngưỡng 100 triệu USD, đạt 130 triệu USD,
tăng 62,5% so với năm 1998.
Mặt hàng thuỷ sản của Việt Nam xuất sang Hoa Kỳ năm 2000 - 2004
Đơn vị : Nghìn USD
Mặt hàng 2000 2001 2002 2003 2004
Tôm nước lợ 185,12 308,70 368,62 468,93 277,45
Cá sống 175 216 201 271 357
Cá sấy khô, ướp muối,
hun khói …
374 596 722 1,005 3,549
GVDH: TS.Nguyễn Thu Hường Sinh Viên: Nguyễn Thùy Linh
11
Rào cản trong cạnh tranh của ngành thủy sản Việt Nam trên thị trường Mỹ
Hải sản thân mềm,
nhuyễn thể
8,17 6,16 5,82 7,44 6,18
Cá đông lạnh (không
bao gồm cá filê hoặc
cá thịt khác)
6,80 10,22 9,23 10,70 14,71
Cá tươi (không bao
gồm cá filê hoặc cá
thịt khác)
9,59 16,64 24,67 23,66 25,38
Cá filê và cá thịt khác
tươi, hoặc đông lạnh
32,61 41,72 69,17 56,45 78,36
Nguồn : Số liệu của Bộ Thương mại Hoa Kỳ
Năm 2000, cơ cấu thị trường nhập khẩu Hoa Kỳ có sự điều chỉnh mạnh và
Việt Nam đã nắm bắt cơ hội chen chân vào thị trường rộng lớn này. Xuất khẩu
thuỷ sản của Việt Nam sang Hoa Kỳ tăng đột ngột lên 2,14 lần so với năm 1999
và là mức tăng nhanh nhất trong số các quốc gia xuất khẩu thuỷ sản vào Hoa Kỳ.
Trong các mặt hàng thuỷ sản của Việt Nam xuất sang Hoa Kỳ, tôm chiếm tỷ
trọng chính 74% tổng giá trị hàng thuỷ sản xuất khẩu. Việt Nam vươn lên vị trí
thứ tư về giá trị xuất khẩu tôm sang Hoa Kỳ (về khối lượng đứng hàng thứ 7). Cá
tra, ba sa philê đông lạnh là mặt hàng độc đáo của Việt Nam tại thị trường Hoa
Kỳ.
Năm 2001, Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ với khối lượng 70.930 tấn
thuỷ sản các loại, trị giá 489.03 triệu USD.
Năm 2002, khối lượng các mặt hàng xuất khẩu đã tăng lên 98.664 tấn, đạt
654.98 triệu USD, chiếm 32,4% tổng giá trị xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam.
Năm 2003, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng hải sản (kể cả chế biến) đạt
777.66 triệu USD, tiếp tục xếp vị trí thứ hai sau hàng dệt may trong bảng xuất
GVDH: TS.Nguyễn Thu Hường Sinh Viên: Nguyễn Thùy Linh
12
Rào cản trong cạnh tranh của ngành thủy sản Việt Nam trên thị trường Mỹ
khẩu của Việt Nam vào Hoa Kỳ, chiếm 35,3% tổng giá trị xuất khẩu thuỷ sản
của Việt Nam. Trong nhóm hàng thuỷ sản, tôm đông lạnh đạt kim ngạch 469
triệu, chiếm 64% tổng kim ngạch nhóm hàng thuỷ sản. Tôm và cua chế biến đạt
162 triệu USD. Kim ngạch xuất khẩu cá phi lê giảm khoảng 19% so với trước do
tác động của thuế chống bán phá giá.
Năm 2004, Việt Nam chủ yếu xuất khẩu vào Hoa Kỳ các mặt hàng như
mực đông lạnh, bạch tuộc đông lạnh, tôm đông lạnh, cá ngừ, cá đông lạnh, mực
khô, các khô và các mặt hàng khác với tổng số lượng đạt 91.380.6 tấn, trị giá là
602.9 triệu USD. Hoa Kỳ chiếm 25,1% thị phần xuất khẩu thuỷ sản của Việt
Nam. Trong đó, tôm đông lạnh đạt 37.060 tấn, trị giá 397 triệu USD, cá đông
lạnh đạt 33.680 tấn, trị giá 119 triệu USD.
Năm 2005, do tác động đồng thời của việc áp thuế chống bán phá giá cá
tra, cá ba sa philê đông lạnh và tôm đông lạnh, xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam
sang Hoa Kỳ có phần giảm sút, thị trường Hoa Kỳ chỉ chiếm 23% thị phần xuất
khẩu của Việt Nam.
Số liệu của Tổng cục Hải quan cho thấy, xuất khẩu thủy sản của cả nước trong
quý I/2008 đạt trên 797 triệu USD, tăng gần 13% và khối lượng xuất đạt 221.700
tấn, tăng 18% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, EU là thị trường nhập khẩu
lớn nhất, đạt trên 213 triệu USD, chiếm 26,7% tổng giá trị xuất khẩu thuỷ sản
của Việt Nam, có mức tăng trưởng 21,5%. Điểm đáng chú ý là mặt hàng tôm đã
có tốc độ tăng trưởng khá mạnh tại thị trường này với trên 39%, trong đó thị
trường Anh đạt mức tang nhảy vọt trên 226%. Thị trường Nhật Bản xếp thứ hai,
đạt 138,6 triệu USD, chiếm 17,4%. Đây là tháng thứ 3 liên tục từ đầu năm đến
nay nhập khẩu của thị trường Nhật Bản tiến triển thuận lợi. Gần đây, Xuất khẩu
thủy sản sang Mỹ đã tăng vượt trội trong tháng 9/2008 với 100,7 triệu USD, tăng
GVDH: TS.Nguyễn Thu Hường Sinh Viên: Nguyễn Thùy Linh
13
Rào cản trong cạnh tranh của ngành thủy sản Việt Nam trên thị trường Mỹ
tới 75% so với cùng kỳ năm ngoái, giúp xuất khẩu thủy sản sang thị trường này
thoát khỏi tình trạng suy giảm.
Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thuỷ sản Việt Nam (VASEP), tính chung
9 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản sang Mỹ đạt 534,5 triệu USD,
tăng 1,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Nhưng vài tháng trươc đây, Theo Tổng cục
Hải quan, nhà nhập khẩu thủy sản lớn thứ ba của Việt Nam - Hoa Kỳ - chỉ còn
chiếm 14% tổng giá trị xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam.
Xuất khẩu sang thị trường này trong tháng 3 giảm khá mạnh cả về khối lượng (-
13,5%) và giá trị (-15%), chỉ đạt gần 15.900 tấn, trị giá 112,6 triệu USD. Đây là
tháng thứ hai liên tiếp thị trường Mỹ đạt mức tăng trường âm.
Nguyên nhân sụt giảm kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang Mỹ thời gian trước
cho là do nền kinh tế Mỹ suy thoái, sức mua của người dân bị hạn chế, đồng đôla
Mỹ mất giá. Thêm vào đó, có thời điểm đồng Việt Nam khan hiếm, các doanh
nghiệp xuất khẩu thủy sản gặp khó trong việc chuyển đổi tiền, doanh nghiệp và
người nuôi trồng thủy sản đều thiếu vốn đầu tư.
Ngoài ra, việc Mỹ áp thuế chống bán phá giá một số mặt hàng của Việt Nam
cũng khiến xuất khẩu thủy sản sang Mỹ chịu tác động tiêu cực.
Ngày 19/9 vừa qua, Bộ Thương Mại Mỹ (DOC) đã thông báo lùi thời hạn công
bố kết quả sơ bộ của đợt xem xét hành chính thuế chống bán phá giá đối với tôm
Việt Nam nhập khẩu vào Mỹ tới ngày 2/3/2009, thay vì trước 31/10 năm nay
như dự kiến. Riêng đối với mặt hàng cá tra, basa philê đông lạnh, Uỷ ban
Thương mại Quốc tế Mỹ đã biểu quyết việc tiến hành đợt xem xét hành chính 5
năm áp thuế chống bán phá giá để đi đến quyết định tiếp tục áp thuế hay xóa bỏ.
Trong cơ cấu thuỷ sản xuất khẩu sang Mỹ, tôm đang là mặt hàng chủ lực. Lý giải
nguyên nhân của tình trạng tăng trưởng âm này, lãnh đạo một DN thuỷ sản Việt
GVDH: TS.Nguyễn Thu Hường Sinh Viên: Nguyễn Thùy Linh
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét