Chơng 1
Lý luận chung về xuất khẩu phần mềm của các doanh
nghiệp
1.1: Đặc điểm sản phẩm phần mềm
1.1.1: Khái niệm và phân loại sản phẩm phần mềm
Khái niệm:
Phần mềm đợc hiểu là chơng trình, là tài liệu mô tả chơng trình, tài liêu hỗ trợ,
nội dung thông tin số hoá.
- Chơng trình là một tập hợp của các lệnh, câu lệnh đợc mô tả bằng bất kỳ ngôn
ngữ, mã hay hệ thống ký hiệu nào và đợc thể hiện hoặc lu trữ trong các vật mang
tin (có hoặc không kèm theo các thông tin liên quan), đợc dùng trực tiếp hoặc
dùng gián tiếp sau khi qua một hoặc cả hai khâu sau:
Tái tạo sang một vật mang tin khác; làm cho một dụng cụ có khả năng xử lý
thông tin thực hiện một chức năng nào đó.
Chuyển đổi sang môt ngôn ngữ, mã, hệ thôngs ký hiêu khác.
- Tài liệu mô tả chơng trình và tài liệu hỗ trợ là tài liệu đợc thể hiện dới bất kỳ
dạng nào có nội dung mô tả chơng trình, giới thiệu, hớng dẫn cách cài đặt, sử
dụng, nâng cấp, sửa lỗi hoặc các hớng dẫn khác liên quan đến sử dụng và khai
thác chơng trình.
- Nội dung thông tin số hoá bao gồm:
Cơ sở dữ liệu là tập hợp dữ liệu đợc sắp xếp và lu trữ dới dạng điện tử số
hoá.
Su tập tác phẩm số hoá là su tập tác phẩm đợc lu trữ dới dạng điện tử số
hoá.
* Mặc dù chúng ta không thể định nghĩa nhng khái niệm sản phẩm phần mềm
đợc hiểu nh là một hệ thống chơng trình thực hiện một nhiệm vụ tơng đối độc lập
5
nhằm phục vụ cho một ứng dụng cụ thể trong cuộc sống của con ngời (và có thể
đợc thơng mại hoá).
Sản phẩm phần mềm là là phần mềm đợc sản xuất và đợc thể hiện hay lu trữ ở
bất kỳ một dạng vật thể nào có thể đợc mua bán hoặc chuyển giao cho đối tợng
khác sử dụng. Ví dụ các sản phẩm phần mềm:
Hệ điều hành: MS DOS, OS/2, Unix OS
Hệ điều hành mạng máy tính: Unix, Novell Netware, Windows NT và
các ứng dụng trên mạng LAN, WAN, Internet/Intranet (các Browsers, các
dịch vụ khai thác Internet ).
Các ngôn ngữ lập trình (chơng trình dịch): Turbo Pascal, Turbo C
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu: Microsoft Foxpro, Microsoft Access, Oracle
Microsoft Windows và các ứng dụng trên Windows.
Các trò chơi (Games)
Dới đây là bảng tóm tắt quá trình tiến hoá của sản phẩm phần mềm:
Thời kỳ đầu tiên
1950 1960
Xử lý theo lô (Batch Processing)
Phần mềm đợc viết theo đơn đặt hàng
Thời kỳ thứ hai
1969 1970
Đa ngời dùng (Multiusers)
Thời gian thực (Real Time)
Cơ sở dữ liệu (Database)
Phần mềm sản phẩm)
Thời kỳ thứ ba
1970 1990
Hệ thống xử lý phân bổ (Distributed
processing system)
Thông minh (Intelligence)
Phần cứng giá thành hạ
Hiệu quả tiêu thụ
Thời kỳ thứ t
1990 trở đi
Hệ thống để bàn (Desktop Personal
Notebook Computers)
Lập trình hớng tới đối tợng (Object
oriented programming)
Lập trình trực quan (Visual
programming)
6
Hệ chuyên gia (Expert system)
Mạng thông tin toàn cầu (Worldwide
communication network)
Xử lý song song (Paralell processing)
Phân loại:
- Phần mềm nhúng là phần mềm đợc nhà sản xuất thiết bị cài sẵn vào thiết bị và
chúng đợc sử dụng ngay cùng với thiết bị mà không cần có sự cài đặt của ngời sử
dụng hay ngời thứ ba.
- Phần mềm đóng gói là sản phẩm phần mềm có thể sử dụng đợc ngay sau khi
ngời sử dụng hoặc nhà cung cấp dịch vụ cài đặt vào các thiết bị hay hệ thống. Các
phần mềm này thờng đợc cung cấp qua dạng đĩa mềm, đĩa CD; qua bất kể vật
mang tin nào khác hay thông qua mạng máy tính. Phần mềm đóng gói thờng đợc
phân ra hai loại: phần mềm hệ thống và phần mềm ứng dụng.
Ví dụ: hệ điều hành, các công cụ phát triển, các ngôn ngữ lập trình, xử lý văn
bản, bảng tính, diệt virus, kế toán, dạy học, quản lý tài chính, quản lý vật t, các
phần mềm tính toán khoa học kỹ thuật, đồ hoạ, v.v
- Phần mềm chuyên dụng là sản phẩm phần mềm đợc phát triển theo yêu cầu cụ
thể và riêng biệt của khách hàng. Phần mềm chuyên dụng có thể đợc phát triển từ
đầu hoặc đợc thiết kế theo yêu cầu của khách hàng dựa trên cơ sở các phần mềm
có sẵn trên thị trờng.
- Sản phẩm thông tin số hoá là nội dung thông tin số hoá đợc lu trữ trên một vật
thể nào đó.
1.1.2: Quá trình sản xuất sản phẩm phần mềm
Về mặt thiết kế
Tùy theo mức độ phức tạp của phần mềm tạo ra, ngời thiết kế phần mềm sẽ ít
dùng đến các phơng tiện để tạo ra mẫu thiết kế theo ý muốn (chẳng hạn nh các sơ
đồ khối, các lu đồ, các thuật toán và các mã giải), sau đó mẫu này đợc mã hóa
bằng các ngôn ngữ lập trình và đợc các trình dịch chuyển thành các khối lệnh
module và các tập khả thi. Tập hợp các tệp khả thi và các khối lệnh làm thành
7
một phần mềm. Thờng khi một phần mềm đợc tạo thành, để cho hoàn hảo thì phần
mềm đó phải đợc điều chỉnh hay sửa chữa từ khâu thiết kế cho đến khâu tạo thành
phiên bản phần mềm một số lần. Một phần mềm thông thờng sẽ tơng thích với
một hay nhiều hệ điều hành, tùy theo cách thiết kế, cách viết mã nguồn và ngôn
ngữ lập trình đợc dùng.
Về mặt sản xuất phần mềm
Việc phát triển và đa ra thị trờng của một phần mềm là đối tợng nghiên cứu của
bộ môn công nghệ phần mềm kĩ thuật phần mềm hay còn gọi là công nghệ phần
mềm Software Engineering. Bộ môn này nghiên cứu các phơng pháp tổ chức,
cách thức sử dụng nguồn tài nguyên, vòng quy trình sản xuất, cùng với các mối
quan hệ với thị trờng, cũng nh liên hệ giữa các yếu tố này với nhau. Tối u hóa quy
trình sản xuất phần mềm cũng là đối tợng đợc xét của bộ môn.
Có thể mô tả quá trình sản xuất một sản phẩm phần mềm trải qua các giai đoạn
bằng hình sau:
Bớc 1: Ngời đặt hàng Bớc 2: Thiết kế của chủ trì đề
tài(Công ty công viên)
8
Bớc 3: Sản phẩm của ngời Bớc 4: Sau khi sửa sai với
lập trình những sáng kiến cải tiến
Bớc 5: Triển khai đến khách Bớc 6: Ước mơ của ngời sử
hàng dụng
1.2: Một số lý thuyết áp dụng trong xuất khẩu phần mềm
1.2.1: Lý thuyết lợi thế so sánh
* Lý thuyết của Adam Smith
Lý thuyết về lợi thế so sánh tuyệt đối ra đời vào cuối thế kỷ XVII và đầu thế
kỷ XIX, ngời đề xớng đầu tiên là David Hume (1752) tiếp đến là Adam Smith
(1723 1790) và sau đó đợc tục phát triển bởi những ngời kế tục của ông. Lợi
thế tuyệt đối đề cập tới số lợng của một loại sản phẩm có thể đợc sản xuất, khi sử
dụng cùng một nguồn lực ở hai nớc khác nhau. Lợi thế tuyệt đối trong việc sản
xuất một loại sản phẩm có thể do các lợi thế tự nhiên hoặc các lợi thế có đợc do kỹ
thuật và sự lành nghề.
Theo lý thuyết lợi thế so sánh tuyệt đối thì các quốc gia nên chuyên môn hoá
sản xuất những sản phẩm mà họ có lợi thế tuyệt đối sau đó bán những hàng hoá
này sang quốc gia khác để đổi lấy các sản phẩm mà nớc ngoài có lợi thế hơn. bằng
việc chuyên môn hoá sản xuất những sản phẩm có lợi thế tuyệt đối cả hai quốc gia
đều có lợi khi quan hệ thơng mại với nhau.
Ví dụ: Nớc Mỹ có điều kiện tự nhiên thuận lợi trong việc trồng lúa mỳ, ngợc lại
nớc Anh có nhiều thuận lợi trong sản xuất vảI vóc. Khi đó nớc Mỹ sẽ chuyên môn
hoá sản xuất lúa mỳ còn nớc Anh sẽ chuyên môn hoá sản xuất vải vóc. Nớc Anh
9
sẽ sản xuất đợc nhiều vải vóc hơn và nớc Mỹ cũng sẽ sản xuất đợc nhiều lúa mỳ
hơn so với khi hai nớc đó còn ở tình trạng tự cung tự cấp. Nớc Mỹ sẽ tiến hành
trao đổi một phần lúa mỳ để đổi lấy một lợng vải vóc của nớc Anh. Ngời ta cũng
chứng minh đợc rằng cả hai nớc Mỹ và Anh sẽ cùng đợc hởng lợi nhờ quan hệ th-
ơng mại lẫn nhau.
* Lý thuyết của David Ricardo hay còn gọi là lý thuyết về lợi thế so sánh
Nhợc điểm của lý thuyết về lợi thế so sánh tuyệt đối của Adam Smith là
không lý giải đợc hoạt động thơng mại khi một trong hai nớc có lợi thế tuyệt đối
sản xuất tất cả các mặt hàng. David Ricardo đã phát triển và đa ra một lý thuyết
tổng quát hơn về thơng mại so với lý thuyết của Adam Smith đó là Lý thuyết lợi
thế so sánh. Lý thuyết này đợc trình bày trong tác phẩm Những nguyên lý của
kinh tế chính trị học 1817. Theo David Ricardo thơng mại giữa hai quốc gia dựa
trên lợi thế tơng đối, lợi thế tơng đối hay còn gọi là lợi thế so sánh đề cập tới việc
các quốc gia có thể sản xuất ra khối lợng các mặt hàng giống nhau khi sử dụng
các nguồn lực nh nhau nhng với chi phí khác nhau.
Do sự không đồng đều về lợi thế tuyệt đối, nếu mỗi nớc chuyên môn hoá vào
sản xuất mặt hàng có lợi thế tuyệt đối hơn và dùng một phần để trao đổi với nớc
khác bằng mặt hàng có lợi thế tuyệt đối nhỏ hơn thì cả hai nớc sẽ cùng thu đợc lợi
ích thông qua thơng mại.
Ví dụ:
Có 2 nớc X và Y và cùng có 2 loại hàng dệt may và lúa mỳ.
Chi phí sản xuất hàng dệt may của nớc X và Y là: a
Chi phí sản xuất lúa mỳ của nớc X và Y là: b
+ Nếu a< b thì nớc X nên chuyên môn hóa vào sản xuất và nhậo khẩu hàng dệt
may và ngợc lại nớc Y chuyên môn hoá vào sản xuất và xuất khẩu lúa mỳ. Sau quá
trình chuyên môn hoá và thơng mại, tổng sản phâmr hàng dệt may và lúa mỳ mà 2
nớc sản xuất đều tăng lên về số lợng hàng hoá mà ngời dân của mỗi nớc có thể
tiêu dùng đều đợc cải thiện.
* Lý thuyết của Haberler về lợi thế so sánh
Lợi thế tơng đối là một khái niệm rất quan trọng của kinh tế học. Hạn chế
của David Ricardo ở chỗ mới chỉ đề cập đến khái niệm lợi thế tơng đối trên cơ sở
10
lý thuyết về lao động, trong khi đó lao động lại chỉ là một yếu tố của sản xuất.
Haberler đã đa ra cách giải thích toàn diện hơn dựa trên lý thuyết về chi phí cơ
hội. Theo Haberler, chi phí cơ hội của hàng hoá là số lợng các hàng hoá khác phải
cắt giảm để nhờng lại đủ các ngồn tài nguyên để sản xuất thêm một đơn vị hàng
hoá thứ nhất. Một nớc có lợi thế tơng đối về sản xuất một mặt hàng nào đó so với
nớc khác khi nó có thể sản xuất mặt hàng đó với chi phí cơ hội thấp hơn so với nớc
khác.
Ví dụ: ở 2 nớc X và Y khi không có thơng mại quốc tế thì X phải bỏ đI 2/3 số
đơn vị của vải để sản xuất thêm một đơn vị của thép. Còn ngợc lại, chi phí cơ hội
về thép ở nớc Y là 1 thép = 2 vải. Vởy là nớc X có lợi thế về sản xuất thép còn nớc
Y có lợi thế tơng đối trong sản xuất vải. Theo lập luận của lý thuyết này thì mỗi
quốc gia đều có lợi thế so sánh với một một quốc gia khác trong việc sản xuất một
sản phẩm khi mà chi phí cơ hội để sản xuất
1.2.2: Lý thuyết lợi thế cạnh tranh
Lợi thế cạnh tranh tồn tại khi có sự phù hợp giữa những khả năng đặc biệt của
một hãng với những nhân tố quyết định thành công trong ngành, điều này cho
phép hãng hoạt động tốt hơn các đối thủ cạnh tranh khác. Có 2 cách cơ bản để đạt
đợc lợi thế cạnh tranh. Thứ nhất, lợi thế cạnh tranh có thể đạt đợc khi một hãng
theo đuổi một chiến lợc chi phí thấp, điều này cho phép hãng chào bán những sản
phẩm với giá thấp hơn so với đối thủ cạnh tranh. Lợi thế cạnh tranh cũng có thể
đạt đợc bởi một chiến lợc phân biệt sẩn phẩm, do vậy khách hàng nhận thức đợc
những lợi ích duy nhất nên họ đồng tình với một mức giá chênh lệch so với đối thủ
cạnh tranh. Chú ý rằng cả hai chiến lợc này đều có tác động nh nhau: làm tăng giá
trị nhận thức của khách hàng.
Chất lợng của một chiến lợc của một hãng cuối cùng sẽ đợc đánh giá bởi kết
quả - doanh số bán hàng, lợi nhuận, hoặc một vài chỉ số đo lờng khác. Những kết
quả này lần lợt phụ thuộc vào mức độ giá trị tạo ra cho khách hàng: giá trị mà
khách hàng nhận thức đợc càng lớn thì chiến lợc càng tốt. Tóm lại, lợi thế cạnh
tranh có thể đạt đợc bằng cách tạo ra giá trị nhiều hơn so với đối thủ cạnh tranh và
giá trị đợc xác định bởi khách hàng.
11
Michael Porter đã phát triển một nền móng cho những chiến lợc kinh doanh
tổng hợp dựa trên 2 hình thức lợi thế cạnh tranh: chi phí thấp và sự khác biệt. Sự
kết hợp giữa 2 hình thức này với phạm vi của thị trờng mục tiêu (phạm vi rộng
hoặc hẹp) hay độ rộng sản phẩm hỗn hợp (hẹp hoặc rộng) sẽ mang lại 3 chiến lợc
chung: dẫn đầu chi phí, khác biệt hoá và trọng tâm hoá.
Chiến lợc dẫn đầu về chi phí: Mục đích của công ty trong việc theo đuổi sự
dẫn đầu về chi phí hộăc chiến lợc chi phí thấp là hoạt động tốt hơn (có lợi thế hơn)
các đối thủ cạnh tranh bằng việc thực hiện các chính sách và biện pháp để có thể
sản xuất hàng hoá hoặc dịch vụ ở chi phí thấp hơn các đối thủ. Trong môi trờng
quốc tế, cần đánh giá chiến lợc này theo 2 phơng diện: phơng diện Marketing và
phơng diện sản xuất.
Về phơng diện Marketing, việc tìm kiếm các thị trờng mới cho phép tăng cầu
tiềm năng và đạt đợc mức sản xuất tối u nhất. Để quá trình này tạo ra đợc tác động
tối u, cần phải thiết kế những sản phẩm theo tiêu chuẩn toàn cầu hoặc ít ra là theo
tiêu chuẩn châu lục. Chúng ta cũng biết rằng việc tung sản phẩm ra thị trờng quốc
tế sẽ cho phép kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm và do đó tạo điều kiện thuận lợi
cho việc thực hiện hiệu ứng kinh nghiệm. Trong trờng hợp đòi hỏi chi phí để thích
ứng với điều kiện đặc thù, cần phải tính toán và so sánh giữa chi phí đầu t đặc biệt
và khả năng sinh lời.
Về phơng diện sản xuất, việc dịch chuyển sản xuất để hởng chi phí nhân
công thấp trong một số khu vực của thế giới đã trở nên khá quen thuộc. Chính vì
vậy, việc tìm kiếm một tổ chức sản xuất hợp lý nhất trở thành phơng tiện tạo nên
lợi thế cạnh tranh. Thực vậy, tổ chức quốc tế về sản xuất gắn liền với quy mô tối u
tơng ứng với khối lợng sản xuất cho phép giảm chi phí trung bình ở mức tối thiểu.
Nếu quy mô tối u ngang bằng với khối lợng của từng thị trờng thì công ty có thể
xây dựng mỗi nhà máy cho từng thị trờng và lựa chọn chiến lợc đa quốc gia. Trong
trờng hợp quy mô tối u cao hơn khối lợng của từng thị trờng, phải xây dựng nhà
máy chuyên môn hốa cho nhiều thị trờng (nhất là các thị trờng trong khu vực).
Nếu quy mô tối u nhỏ hơn khối lợng của từng thị trờng, chỉ nên xây dựng một nhà
máy duy nhất cung cấp cho thị trờng thế giới.
12
Hợp nhất hay liên kết sản xuất xuyên quốc gia là một vấn đề cơ bản của
chiến lợc khối lợng/chi phí. Có 3 giải pháp về tổ chức: thứ nhất, tổ chức sản xuất
đa quốc gia trong đó các đơn vị sản xuất không chuyên môn hoá sẽ sản xuất và
tiêu thụ sản phẩm cho thị trờng nhất định. Thứ hai, toàn cầu hoá bằng hợp nhất
theo chiều ngang xuyên quốc gia, điều này sẽ dẫn đến việc chuyên môn hoá theo
sản phẩm hoặc dòng sản phẩm của mỗi đơn vị sản xuất; mỗi đơn vị đều có nhiệm
vụ thoả mãn nhu cầu của thị trờng thế giới hoặc châu lục. Thứ ba, toàn cầu hoá
bằng hoà nhập hay liên kết theo chiều dọc xuyên quốc gia. Thực chất đó là sự
phân chia quá trình sản xuất và bố trí các giai đoạn sản xuất khác nhau trên nhiều
thị trờng. Mỗi đơn vị có trách nhiệm thực hiện một giai đoạn sản xuất.
Chiến lợc khác biệt hoá: Mục đích của chiến lợc khác biệt hoá là để đạt đợc
lợi thế cạnh tranh bằng việc tạo ra sản phẩm hàng hoá hoặc dịch vụ mà đợc
ngời tiêu dùng nhận thức là độc đáo nhất theo nhận xét của họ. Khả năng của một
công ty khác biệt hoá sản phẩm để thoả mãn nhu cầu của ngời tiêu dùng theo cách
mà các đối thủ cạnh tranh không thể có, nghĩa là nó có thể đặt giá cao hơn giá
cao hơn đáng kể so với mức trung bình của ngành. Khác với chiến lợc nhấn mạnh
chi phí (dựa vào u thế cạnh tranh bên trong hay khả năng làm chủ chi phí), chiến l-
ợc khác biệt hoá dựa vào u thế cạnh tranh bên ngoài, tức là mức độ hoàn thiện của
sản phẩm. Chiến lợc khác biệt hoá cũng có thể thựcc hiện thông qua dịch vụ cung
ứng con ngời và hình ảnh. Nhiều công ty áp dụng chiến lợc khác biệt hoá dựa trên
sự thay đổi chuỗi giá trị. Căn cứ vào chuỗi giá trị, nếu công ty có lợi thế trong
việc thực hiện các hoạt động cơ bản hỗ trợ cuối nguồn, chiến lợc khác biệt hoá tỏ
ra hữu hiệu nhất.
Khả năng khác biệt hoá mạnh mẽ cho phép doanh nghiệp thoát khỏi áp lực
cạnh tranh. Trên thị trờng quốc tế, nhiều doanh nghiệp đã thành công nhờ khả
năng khác biệt hoá mạnh mẽ so với các đối thủ cạnh tranh. Tuy nhiên, để chiến l-
ợc khác biệt hoá đem lại kết quả mong muốn, sự khác biệt hoá về sản phẩm hay
nhãn hiệu của công ty phải đợc nhận thức và bền vững. Để làm đợc điều này công
ty cần phải thực hiện những cố gắng to lớn về giao tiếp, truyền tin. Nói cách khác,
sự thành công của chiến lợc khác biệt hoá phụ thuộc phần lớn vào chất lợng và
13
hiệu quả. Phơng thức này cho phép nâng cao khả năng khác biệt hoá so với cạnh
tranh, đặc biệt đối với lĩnh vực dịch vụ.
Chiến lợc trọng tâm hoá: chiến lợc trọng tâm hoá dựa trên lợi thế cạnh tranh
là tập trung các nguồn lực cho phép phát huy tối đa năng lực của công ty. Chiến l-
ợc này đợc thực hiện hoặc thông qua khả năng khác biệt hoá, hoặc chi phí thấp
hoặc cả hai.
Về phơng diện Marketing, khi công ty tấn công thị trờng thế giới điều quan
trọng trớc tiên là phải tiến hành phân đoạn thị trờng để thực hiện toàn cầu hoá.
Công ty càng hoạt động trên một đoạn thị trờng hẹp bao nhiêu thì càng phải phát
triển mạnh mẽ thị trờng về mặt địa lý. Nh vậy phân đoạn thúc đẩy quá trình toàn
cầu hoá tình hình này rất điển hình trong một thế giới mà công nghệ mới xuất hiện
thờng xuyên. Thực vậy thị trờng hẹp và mới phát triển đòi hỏi chi phí nghiên cứu
và phát triển rất lớn nên cần thiết phải thu hồi vốn đầu t nhanh để giảm thiểu rủi
ro: công ty hoặc là phát triển quốc tế hoặc là bị thất bại. Tuy nhiên, khi các hoạt
động quốc tế phát triển công ty cần thiết phải tăng cờng kiểm soát thị trờng, tức là
kiểm soát hình ảnh trên tất cả các thị trờng. Việc lựa chọn định hớng chiến lợc này
thờng đòi hỏi u tiên các giải pháp thâm nhập thị trờng với mức độ làm chủ hoàn
toàn.
Về phơng diện sản xuất, chiến lợc trọng tâm hoá vẫn theo đuổi lôgic chi phí
tối thiểu. Chính vì vậy việc dịch chuyển các cơ sở sản xuất sang những nớc có các
yêu tố đầu vào phong phú và rẻ là một sự lựa chọn thờng thấy khi mà khối lợng và
các điều kiện kinh tế cho phép. Ràng buộc quan trọng nhất là phải đảm bảo giữ
vững hình ảnh chuyên môn hoá; hình ảnh nhãn hiệu của công ty cũng cần xuất
hiện và đợc củng cố tại các địa điểm sản xuất nớc ngoài.
1.2.3: Lý thuyết về chuỗi giá trị toàn cầu
Một hậu quả không thể tránh khỏi trong việc mở rộng hoạt động Marketing
toàn cầu là sự tăng trởng cạnh tranh trên toàn thế giới. Từ ngành này sang ngành
khác cạnh tranh toàn cầu là một nhân tố quyết định tác động đến thành công,
trong một vài ngành các công ty toàn cầu gần nh ngăn cản tất cả các công ty khác
tham gia vào thị trờng của họ.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét